CẦN THƠ – MIỀN TÂY NAM BỘ
Cần Thơ – thủ phủ của khu vực Tây Nam Bộ, có hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, tiêu biểu cho đô thị vùng sông nước Cửu Long. Công cuộc khai phá vùng đất Cần Thơ có phần muộn hơn các vùng khác, nhưng nhờ vị thế địa – văn hóa, kinh tế và chính trị mà chỉ trong khoảng thời gian ngắn, Cần Thơ đã phát triển vượt bậc, trở thành trung tâm của khu vực Miền Tây.
Giới thiệu Cần Thơ
I. Vùng đất Cần Thơ ở đâu?
Cần Thơ là một trong bảy thành phố trực thuộc trung ương của Việt Nam, thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Thành phố Cần Thơ nằm ở vùng hạ lưu của sông Cửu Long và ở vị trí trung tâm đồng bằng sông Cửu Long, cách trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 1780km, cách Thành phố Hồ Chí Minh 155km, và cách thủ đô Phnôm Pênh (Campuchia) khoảng 230km, nằm dọc bờ Tây sông Hậu và đường bờ biển dài 72km, có vị trí địa lý: Phía đông, đông nam giáp tỉnh Vĩnh Long và Biển Đông; Phía nam, tây nam giáp tỉnh Cà Mau; Phía tây giáp tỉnh An Giang; Phía bắc giáp tỉnh An Giang và Đồng Tháp.

Điều kiện tự nhiên: Cần Thơ nằm toàn bộ trên đất có nguồn gốc phù sa sông Cửu Long bồi đắp và được bồi lắng thường xuyên qua nguồn nước phù sa của dòng sông Hậu. Địa chất thành phố được hình thành chủ yếu qua quá trình bồi lắng trầm tích biển và phù sa của sông Cửu Long, trên bề mặt ở độ sâu 50 mét có hai loại trầm tích là Holocen (phù sa mới) và Pleistocene (phù sa cổ). Địa hình nhìn chung tương đối bằng phẳng, phù hợp cho sản xuất nông, ngư nghiệp, với độ cao trung bình khoảng 1-2m dốc từ đất giồng ven sông Hậu, và sông Cần Thơ thấp dần về phía nội đồng tức là từ phía đông bắc sang phía tây nam. Bên cạnh đó, thành phố còn có các cồn và cù lao trên sông Hậu như Cồn Ấu, cồn Khương, cồn Sơn, cù lao Tân Lập, cù lao Dung.
Cần Thơ có dòng sông Hậu chảy qua với chiều dài 126km, trong đó đoạn qua trung tâm Cần Thơ rộng khoảng 1,6km, lưu lượng nước cực đại đạt mức 40.000m³/s. Mùa cạn từ tháng 1- 6, lưu lượng nước trên sông tại Cần Thơ lúc thấp nhất chỉ còn 2.000m³/s, mực nước sông lúc này chỉ cao hơn 48cm so với mực nước biển. Ngoài ra Cần Thơ có mạng lưới sông, kênh rạch khá chằng chịt. Vùng tứ giác Long Xuyên thấp trũng, chịu ảnh hưởng lũ trực tiếp hàng năm. Đồng bằng châu thổ chịu ảnh hưởng triều cùng lũ cuối vụ…; Sông Cần Thơ bắt nguồn từ khu vực nội đồng tây sông Hậu, đi qua các vùng Ô Môn, Phong Điền, Cái Răng, Ninh Kiều và đổ ra sông Hậu tại bến Ninh Kiều. Sông Cần Thơ có tác dụng tưới nước trong mùa cạn, tiêu úng trong mùa lũ và có ý nghĩa lớn về giao thông;

Sông Cái Lớn dài 20km, cửa sông rộng 600-700m, độ sâu 10 – 12m nên có khả năng tiêu, thoát nước rất tốt. Bên cạnh đó, Cần Thơ còn có hệ thống kênh rạch dày đặc, với hàng trăm sông, rạch lớn nhỏ là phụ lưu của các sông lớn nối thành mạng đường thủy. Các sông rạch lớn khác là sông Bình Thủy, sông Trà Nóc, sông Ô Môn, sông Thốt Nốt, kênh Thơm Rơm, kênh Sáng, Saintard,…và nhiều kênh lớn khác tại các xã, phường ngoại thành cho nước ngọt suốt 2 mùa mưa nắng, tạo điều kiện cho nhà nông làm thủy lợi và cải tạo đất.
II. Du lịch Cần Thơ mùa nào đẹp
1. Khí hậu Cần Thơ
Với vị trí nằm sâu giữa đồng bằng sông Cửu Long thành phố này đã tránh được những cơn gió mùa đông bắc khắc nghiệt, không phải hứng chịu trực diện những cơn bão từ biển Đông ập vào như các tỉnh miền Trung. Nhờ vậy, luôn cảm nhận được ở nơi đây một không khí thanh bình, ổn định, thuận lợi cho mọi hoạt động và du lịch. Phải nói rằng, Cần Thơ sở hữu một kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa thật dịu dàng. Nơi đây quanh năm ấm áp, dễ chịu, và được chia thành hai mùa rõ rệt Mùa mưa và Mùa khô. Sự phân chia ấy tạo nên những trải nghiệm Cần Thơ mỗi thời điểm ghé thăm lại mang một nét quyến rũ rất riêng.

Mùa khô Cần Thơ: Mùa khô ở Cần Thơ thường trải dài từ tháng 12 đến hết tháng 4 năm sau. Những ngày này, trời trong xanh, nắng vàng nhẹ nhàng chứ không gay gắt, nhiệt độ dao động dễ chịu trong khoảng 25–28°C. Ban ngày ấm áp đủ để thong thả dạo chơi, ban đêm trời se lại khiến lòng người thư thái. Những buổi sáng sớm có một vẻ đẹp kỳ diệu mà bất cứ ai cũng phải say mê, trong khi không khí trong lành đến nỗi bạn có thể ngửi thấy mùi hương ngọt ngào của trái cây tươi từ xa. Đây cũng là thời điểm lý tưởng để tham gia các hoạt động ngoài trời như đi chợ nổi, tham quan miệt vườn, thưởng thức đặc sản địa phương,…Đặc biệt, vào dịp Tết Nguyên Đán, Cần Thơ lại càng thêm rực rỡ với không khí lễ hội rộn ràng, hoa mai vàng nở rộ khắp nơi, tạo nên một bức tranh xuân đầy sắc màu và sinh động.
Mùa mưa Cần Thơ: Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến 11, mang theo hơi thở nóng ẩm đặc trưng của miền sông nước. Mưa ở Cần Thơ thường chỉ là những cơn rào ào ạt, mạnh mẽ nhưng ngắn ngủi, sau đó trời lại tạnh ráo, thậm chí còn trong lành hơn. Đặc biệt, đây là lúc miền Tây trù phú nhất, trái cây sai trĩu cành, đây là mùa của những loại trái cây đặc trưng nhất miền sông nước như sầu riêng, chôm chôm, măng cụt, nhãn lồng – tất cả đều chín mọng, ngọt lịm. Nếu bạn là người yêu thiên nhiên và muốn trải nghiệm cuộc sống thực sự của người dân miền Tây, mùa nước nổi chính là thời điểm không thể bỏ qua. Bạn sẽ được chứng kiến cảnh tượng nước lũ dâng cao làm màu mỡ đồng ruộng, ngư dân chài lưới thu hoạch cá, tôm mang đến những món đặc sản độc đáo như cá linh, bông điên điển,… Hay tham gia vào những lễ hội độc đáo chỉ có trong mùa nước nổi.
2. Đi du lịch du lịch Cần Thơ mùa nào đẹp nhất?
Cần Thơ đẹp quanh năm. Tuy nhiên, mỗi mùa lại mang một sức hút riêng biệt, tùy thuộc vào điều bạn đang tìm kiếm – thời tiết dễ chịu, trái cây ngọt lịm, hay không khí lễ hội. Dưới đây là ba thời điểm “vàng” mà chúng tôi đặc biệt khuyên bạn nên cân nhắc, để chuyến đi không chỉ đẹp mà còn trọn vẹn cảm xúc:

Mùa trái cây chín rộ (Tháng 5 – Tháng 8): Đây là câu trả lời yêu thích nếu bạn là tín đồ của miệt vườn và ẩm thực sông nước. Vào thời điểm này, những vườn cây ở Phong Điền, Bình Thủy, Mỹ Khánh hay các miệt vườn đều trĩu nặng quả, sầu riêng thơm lừng, măng cụt mọng nước, chôm chôm đỏ tươi, dâu Hạ Châu ngọt thanh…Tuyệt vời nhất là 2 tháng 6,7 khi mọi loại quả đều chín rộ. Hãy tự tay hái quả tươi ngay tại vườn, ngồi dưới tán cây mát rượi nhâm nhi, cảm giác lạc giữa thiên đường trái cây nó khoan khoái lạ. Dù có mưa rào ngắn, nhưng không khí trong lành và hương quả ngọt ngào sẽ khiến bạn quên hết thế giới chung quanh.
Mùa nước nổi (Tháng 9 – Tháng 11): Nếu muốn trải nghiệm nét đặc trưng nhất của miền Tây, hãy chọn mùa này. Sông nước dâng cao, cánh đồng mênh mông trắng xóa, bông điên điển vàng rực và cá linh non tươi roi rói. Đây là thời điểm săn lùng những món đặc sản độc quyền của mùa lũ. Để cảm nhận rõ nhất, bạn hãy chọn Tháng 9 hoặc 10, khi nước vừa lên đẹp mà chưa quá cao. Lênh đênh trên thuyền ngắm bình minh ở các chợ nổi, rồi thưởng thức lẩu mắm nóng hổi bên bờ sông. Đây là lúc Cần Thơ lãng mạn và hoang sơ nhất nên bạn đừng bỏ lỡ.
Dịp Tết Nguyên Đán (Tháng 1 – 2 Dương lịch): Nếu bạn ưu tiên thời tiết khô ráo, mát mẻ và không khí lễ hội tưng bừng, đây chính là lựa chọn lý tưởng. Trời nắng nhẹ, ít mưa, rất thuận tiện di chuyển khắp nơi từ chợ nổi đến các cù lao. Đường phố Cần Thơ rực rỡ sắc hoa xuân, chợ hoa Phó Thọ hay Bến Ninh Kiều lung linh đèn màu, hương bánh tét lá cẩm thoang thoảng khắp nơi. Bạn được hòa mình vào không khí rộn ràng, đây là lúc Cần Thơ đẹp nhất về mặt thời tiết và trải nghiệm văn hóa truyền thống.
III. Cách đi đến Cần Thơ
1. Phương tiện di chuyển tới Cần Thơ
Cần Thơ là đầu mối giao thông giữa các tỉnh thành vì thế mạng lưới giao thông ở đây rất thuận lợi. Từ các điểm xuất phát như ở Hà Nội, Đã Nẵng, TP. Hồ Chí Minh bạn có thể di chuyển một cách rất dễ dàng để đến Cần Thơ bằng nhiều phương tiện khác nhau. Xin gợi ý một số phương tiện di chuyển tới Cần Thơ phổ biến sau:
Máy bay: Hiện nay, sân bay Cần Thơ được khai thác bởi hầu hết các hãng hàng không lớn trong nước, bao gồm Vietnam Airlines, Vietjet Air, Bamboo Airways,…Các hãng này đều khai thác đều đặn các tuyến bay kết nối Cần Thơ với các trung tâm kinh tế lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Côn đảo…Vietnam Airlines thường khai thác các chuyến bay vào buổi sáng và chiều, với dịch vụ tiêu chuẩn cao. Trong khi đó, Vietjet và Bamboo phục vụ nhiều khung giờ hơn, phù hợp với nhiều đối tượng khách hàng khác nhau.
Những năm gần đây, nơi đây đã bắt đầu khai thác một số chuyến bay charter quốc tế. Các điểm đến phổ biến bao gồm Đài Bắc (Đài Loan), Bangkok (Thái Lan) và Seoul (Hàn Quốc), tùy vào mùa du lịch hoặc nhu cầu thị trường. Các chuyến bay này thường được thực hiện bởi các hãng hàng không như Vietjet hoặc Tiger Air thông qua hình thức bay thuê nguyên chuyến. Lịch bay không cố định hằng ngày, mà thường theo đợt hoặc đặt riêng cho tour du lịch. Hành khách nên theo dõi thông tin từ hãng hoặc đại lý để cập nhật lịch trình chính xác.

Tàu hỏa: Hiện nay tàu Bắc Nam chưa khai thác một lịch trình tàu nào tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Chính vì thế, du khách sẽ thực hiện hành trình của mình tại điểm xuất phát ga Hà Nội hay 1 ga bất kỳ…đến ga Sài Gòn, sau đó lựa chon một phương tiện khác để đến Cần Thơ tham quan.
Xe khách: Quãng đường từ thành phố Hồ Chí Minh tới Cần Thơ vào khoảng 165km, thời gian di chuyển mất 3-4 tiếng. Xe xuất phát thường từ bến xe miền Tây, mỗi ngày đều có xe chạy vào nhiều khung giờ khác nhau từ 7giờ – 22 giờ, tần suất 15-30phút là xuất bến một lần. Từ thủ đô Hà Nội có rất nhiều chuyến xe đi Cần Thơ, xuất phát từ Bến xe Nước Ngầm, thời gian di chuyển mất khoảng 38 giờ. Từ Đà Nẵng đi Cần Thơ, thời gian di chuyển mất khoảng 28 giờ.
Xe máy: Di chuyển bằng xe máy xuất phát từ Sài Gòn hay các tỉnh lân cận đến Cần Thơ là một trải nghiệm khá tuyệt vời cho các bạn trẻ đam mê phượt. Đi xe máy trên cung đường về với miền Tây Sông nước, du khách sẽ được ngắm nhìn cảnh đẹp miền tây dọc hai bên đường. Đặc biệt hơn, khi đi qua các tỉnh bạn sẽ chủ động khám phá được nhiều vùng đất mới.
2. Phương tiện đi lại tại Cần Thơ
Để tham quan các vùng như Sóc Trăng, Hậu Giang cũ du khách có thể đi những chuyến xe khách nội tỉnh, liên tỉnh hay taxi…; khám phá các điểm tham quan ở Cần Thơ, bạn có thể sử dụng các phương tiện di chuyển tại Cần Thơ phổ biến như xe máy, xe máy là phương tiện cơ động và tiện lợi nhưng do đặc thù của vùng sông nước nên xe máy chỉ phù hợp cho những điểm tham quan nhất định trên đất liền. Hầu như ở khách sạn Cần Thơ nào cũng có cho thuê xe máy, hoặc bạn nhờ lễ tân giới thiệu địa chỉ thuê xe máy gần đó.
Tàu, thuyền: Để tham quan chợ nổi Cái Răng, các cồn,… du khách phải đi bằng tàu, thuyền. Tàu, thuyền thường tập trung tại bến Ninh Kiều. Du khách có thể liên hệ thuê riêng với chủ tàu, thuyền hoặc liên hệ mua tour Cần Thơ bạn sẽ không phải lo lắng về vấn đề thuê tàu thuyền nữa. Đặc biệt, khi đến tham quan Cần Thơ thì bạn không nên bỏ qua trải nghiệm trên du thuyền. Chỉ khi trải nghiệm du thuyền Cần Thơ thì bạn mới cảm nhận được sự lột xác ngoạn mục của bến Ninh Kiều. Buổi sáng bến Ninh Kiều yên tĩnh, trầm mặc. Khi màn đêm buông xuống, bến Ninh Kiều như khoác lên mình bộ áo mới, những ánh đèn hai bên bờ hắt lại tạo thành bức tranh lung linh huyền ảo tuyệt đẹp.

Xe lôi: Tham quan các điểm đến gần trong khu vực trung tâm thành phố Cần Thơ, bạn có thể sử dụng xe lôi khá phổ biến ở đây. Chi phí thuê xe lôi cũng tùy theo hành trình hoặc theo thời gian theo nhu cầu của bạn.
Đi du lịch TP. Cần Thơ theo Tour du lịch đây là cách đi du lịch phổ biến, hiệu suất, tiết kiệm và an toàn nhất vì được tổ chức một cách chuyên nghiệp mà du khách nên áp dụng, đặc biệt là khi đi theo đoàn. Nếu đi du lịch theo Tour, xuất phát từ Hà Nội, Sài Gòn hoặc bất cứ đâu, giá Tour sẽ tùy theo điểm xuất phát, số ngày và lịch trình bạn tham quan du lịch.
IV. Đôi nét Lịch sử TP. Cần Thơ các thời kỳ
Thời phong kiến
Vào năm Mậu Tý 1708, ông Mạc Cửu dâng đất Hà Tiên cho chúa Nguyễn Phúc Chu. Vùng Cần Thơ lúc ấy vẫn chưa được tổ chức thành một đơn vị hành chính của Hà Tiên. Sau khi Mạc Cửu mất vào năm Ất Mão (1735), Mạc Thiên Tứ nối nghiệp cha, khai phá thêm vùng hữu ngạn sông Hậu. Năm Kỷ Mùi 1739, Mạc Thiên Tứ thành lập thêm 4 vùng đất mới ở phía hữu ngạn sông Hậu để sáp nhập vào đất Hà Tiên: Long Xuyên (Cà Mau), Kiên Giang (Rạch Giá), Trấn Giang (Cần Thơ) và Trấn Di (Bắc Bạc Liêu).
Năm 1739, vùng đất Cần Thơ được khai mở và chính thức có mặt trên dư đồ Việt Nam với tên gọi là Trấn Giang, do Mạc Thiên Tích có công khai phá cùng thời với đất Cà Mau, Rạch Giá và Bắc Bạc Liêu. Sau đó cùng sáp nhập vào đất Hà Tiên. Mạc Thiên Tích đã sớm nhận thấy vị trí chiến lược của Trấn Giang là hậu cứ vững chắc cho Hà Tiên trong việc chống lại quân Xiêm và quân Chân Lạp nên đã tập trung xây dựng nơi đây thành Thủ sở với các thế mạnh cả về quân sự lẫn kinh tế và văn hoá.
Năm 1771, quân Xiêm tấn công Hà Tiên nhưng không chiếm được Trấn Giang. Năm 1774, nghĩa quân Tây Sơn kéo quân vào Nam đánh chiếm thành Gia Định, sau đó kéo xuống miền Tây và Trấn Giang. Sau trận Rạch Gầm – Xoài Mút (tháng 1/1785), vào năm 1787, quân Tây Sơn rút khỏi các dinh trấn miền Tây, Trấn Giang trở lại dưới quyền bảo hộ của Nhà Nguyễn. Suốt thập niên 70 của thế kỷ 18, Trấn Giang trở thành một cứ điểm quan trọng và phát triển mạnh trong bối cảnh lịch sử đầy xáo động.

Năm 1808, dưới triều vua Gia Long, đất Trấn Giang thuộc trấn Vĩnh Thanh (trước đó từng có tên là dinh Long Hồ, dinh Hoằng Trấn, Vĩnh Trấn), một trong 5 trấn của Gia Định bấy giờ là: Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Thanh, Định Tường và Hà Tiên. Năm Gia Long thứ 12 (1814), huyện Vĩnh Định được thành lập. Vùng Cần Thơ thuộc huyện Vĩnh Định(Nam sông Hậu), trấn Vĩnh Thanh (có 2 huyện: Vĩnh An và Vĩnh Định), phủ Định Viễn. Huyện Vĩnh Định có vị trí địa lý: Đông giáp biển, Tây giáp Cao Miên, Nam giáp tỉnh Hà Tiên, Bắc giáp huyện Vĩnh An và huyện Bình Minh.
Năm 1832, dưới triều vua Minh Mạng, ngũ trấn được đổi thành lục tỉnh là Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Đất Cần Thơ ngày nay (tức Trấn Giang) được lập thành huyện Vĩnh Định và cắt về phủ Tân Thành, tỉnh An Giang. Do có nhiều cuộc nội loạn ở vùng Nam Bộ, đặc biệt là cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi (1833–1835) nên thủ sở Trấn Giang vào thời Minh Mạng được tái thiết. Với tiềm năng kinh tế và vị trí địa lý của mình, thương mại Trấn Giang – Cần Thơ đã phát triển khá mạnh với chợ Sưu ở gần bến sông Cần Thơ, chợ Tân An liền hướng bến sông Bình Thủy và chợ Thới An Đông trên vùng gần cửa sông Ô Môn.
Năm 1836, địa bạ tỉnh An Giang (gồm 2 phủ có 4 huyện chia 18 tổng, 161 thôn) được hoàn thành. Năm Minh Mạng thứ 20(1839), huyện Vĩnh Định lại được đổi tên thành huyện Phong Phú, và cho huyện Phong Phú thuộc về phủ Tuy Biên (Châu Đốc), tỉnh An Giang.
Đến cuối thế kỷ 19 đầu 20 là giai đoạn lịch sử có nhiều biến động dữ dội ở Nam Kỳ lục tỉnh. Thực dân Pháp chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Biên Hòa, Gia Định, Định Tường) theo hoà ước nhượng bộ của Nhà Nguyễn vào năm 1862. Vào tháng 6 năm 1867, Pháp vi phạm hòa ước 1862, chiếm 3 tỉnh miền Tây là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.
Thời Pháp thuộc

Tháng 1/1868, Thống đốc Nam Kỳ là Bonard quyết định sáp nhập huyện Phong Phú với vùng Bãi Sào (Sóc Trăng) lập thành quận đặt dưới sự cai trị của người Pháp, lập Toà Bố tại Sa Đéc. Hạt Sa Đéc (phủ Tân Thành) đặt lỵ sở tại Sa Đéc gồm có 3 huyện: An Xuyên, Phong Phú, Vĩnh An; Huyện Phong Phú được phân cấp hành chính cơ sở gồm 8 tổng (3 tổng cũ, 5 tổng mới phía Nam sông Hậu). Vào thời điểm này ở huyện Phong Phú có 5 chợ chính là: Cần Thơ, Ô Môn, Bình Thủy, Trà Niềng và Cái Răng.
Tháng 4/1872, sáp nhập huyện Phong Phú với vùng Bắc Tràng (thuộc phủ Lạc Hóa, tỉnh Vĩnh Long) để lập thành một hạt, đặt Toà Bố tại Trà Ôn. Một năm sau, Tòa Bố từ Trà Ôn lại dời về Cái Răng.
Tháng 2/1876, lấy huyện Phong Phú và một phần huyện An Xuyên và Tân Thành để lập hạt Cần Thơ với thủ phủ là Cần Thơ. Hạt Cần Thơ thuộc khu vực Bassac (Hậu Giang), được chia làm 11 tổng; Tháng 12/1899 Pháp đổi các đơn vị hành chính cấp tiểu khu hay hạt thành tỉnh và huyện đổi thành quận. Tỉnh Cần Thơ được thành lập kể từ ngày 1/1/1900. Như vậy, tỉnh Cần Thơ là một trong 20 tỉnh ở Nam Kỳ lúc bấy giờ.
Năm 1917, tỉnh Cần Thơ gồm 4 quận: Châu Thành, Phụng Hiệp, Ô Môn, Cầu Kè; Năm 1921 có thêm quận Trà Ôn. Tỉnh lỵ Cần Thơ đặt tại làng Tân An thuộc quận Châu Thành; Năm 1928, Toàn quyền Đông Dương ban hành Nghị định về việc thành lập các thị xã Bạc Liêu, Cần Thơ, Rạch Giá và Mỹ Tho có Ủy ban thị trưởng do chủ tỉnh bổ nhiệm và có ngân sách riêng. Tuy nhiên sau này vẫn thường gọi là thị xã Cần Thơ.

Từ năm 1876 đến năm 1954, địa giới hành chính tỉnh Cần Thơ dưới quyền kiểm soát của chính quyền Pháp không có sự thay đổi. Tuy nhiên, trong thời gian chiến tranh Đông Dương, chính quyền kháng chiến của Việt Minh có điều chỉnh một phần địa giới hành chính của tỉnh Cần Thơ. Năm 1947, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập thị xã Cần Thơ thuộc tỉnh Cần Thơ. Trong 2 năm 1948, 1949, tỉnh Cần Thơ nhận thêm huyện Thốt Nốt từ tỉnh Long Xuyên, nhận các huyện Long Mỹ, Gò Quao, Giồng Riềng, thị xã Rạch Giá từ tỉnh Rạch Giá vừa bị giải thể và nhận huyện Kế Sách từ tỉnh Sóc Trăng. Đồng thời, tỉnh Cần Thơ giao 2 huyện Trà Ôn và Cầu Kè về tỉnh Vĩnh Trà (Vĩnh Long và Trà Vinh).
Thiết lập ách thống trị trên vùng đất này, Pháp chính thức hóa tên gọi Cần Thơ bằng những văn bản hành chính. Để dễ bề kiểm soát hoạt động của dân từng tỉnh Pháp cho đánh số, tỉnh Cần Thơ mang con số 19. Từ đó trở đi, các phương tiện giao thông (chủ yếu giao thông thủy) như thuyền, ghe của Cần Thơ đều phải gắn con số 19 trước mui. Ngay cả lính mã tà mỗi lần có việc di chuyển từ Cần Thơ sang tỉnh khác hoặc giải phạm nhân chống đối lên Sài Gòn đều gắn con số 19 vào cổ áo để dễ nhận diện lính của mỗi tỉnh thuộc đất nhượng địa.
Giai đoạn 1956–1976
Việt Nam Cộng hòa: Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, địa giới hành chính của tỉnh Cần Thơ ở miền Nam có nhiều thay đổi. Ban đầu chính quyền Quốc gia Việt Nam và sau đó là Việt Nam Cộng hòa ban đầu vẫn duy trì tên gọi tỉnh Cần Thơ cùng với thị xã Cần Thơ như thời Pháp thuộc.

Tháng 8/1956, chính quyền Việt Nam Cộng hòa bãi bỏ quy chế thị xã. Theo đó, tiến hành giải thể thị xã Cần Thơ, đồng thời địa bàn thị xã được chuyển thành xã Tân An trực thuộc tổng Định An, quận Châu Thành, tỉnh Cần Thơ.
Tháng 10/1956, đổi tên từ tỉnh Cần Thơ thành tỉnh Phong Dinh, tỉnh Phong Dinh có 5 quận: Châu Thành, Phụng Hiệp, Ô Môn, Long Mỹ và Kế Sách. Thời gian tiếp sau đó có nhiều sự thay đổi chia tách các quận. Tháng 12/1961, hai quận Đức Long và Long Mỹ được bàn giao cho tỉnh Chương Thiện mới thành lập.
Tháng 9/1970, Cải biến xã Tân An và các phần đất phụ cận thuộc quận Châu Thành, tỉnh Phong Dinh thành thị xã Cần Thơ, là thị xã tự trị trực thuộc chính quyền Trung ương Việt Nam Cộng hòa, đồng thời kiêm tỉnh lỵ tỉnh Phong Dinh. Thị xã Cần Thơ là nơi đặt Bộ Tư lệnh Quân khu 4 của quân đội Việt Nam Cộng hòa. Tháng 6/1971, chính quyền Việt Nam Cộng hòa thành lập tại thị xã Cần Thơ 2 quận lấy tên là Quận 1 (Quận Nhứt) và Quận 2 (Quận Nhì). Địa phận của 2 quận này được phân chia thành 8 khu phố; Tháng 8/1972, Đổi các danh xưng “khu phố” của thị xã thành “phường”. Từ đó cho đến năm 1975, thị xã Cần Thơ và tỉnh Phong Dinh là hai đơn vị hành chính cấp tỉnh ngang bằng nhau theo sự phân chia sắp xếp hành chính của Việt Nam Cộng hòa.

Chính quyền Cách mạng: Phía chính quyền Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam, sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam cùng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không công nhận tên gọi tỉnh Phong Dinh mà vẫn gọi theo tên cũ là tỉnh Cần Thơ. Đồng thời, chính quyền Cách mạng vẫn duy trì thị xã Cần Thơ trực thuộc tỉnh Cần Thơ trong giai đoạn 1956–1969. Địa giới hành chính tỉnh Cần Thơ có thay đổi một phần: Năm 1954, huyện Long Mỹ và các huyện Gò Quao, Giồng Riềng, thị xã Rạch Giá giao trở lại cho tỉnh Rạch Giá, huyện Kế Sách giao về tỉnh Sóc Trăng, huyện Thốt Nốt giao về tỉnh Long Xuyên. Tỉnh Cần Thơ nhận lại 2 huyện Trà Ôn và Cầu Kè như cũ. Năm 1956, hai huyện Trà Ôn và Cầu Kè đưa về tỉnh Vĩnh Long. Năm 1957, huyện Long Mỹ chuyển trở lại tỉnh Cần Thơ. Năm 1958, huyện Kế Sách chuyển về tỉnh Cần Thơ. Năm 1963, huyện Thốt Nốt thuộc tỉnh An Giang (trước năm 1956 là tỉnh Long Xuyên) lại được đưa về cho tỉnh Cần Thơ quản lý. Tháng 6 năm 1966, thành lập thị xã Vị Thanh trực thuộc tỉnh Cần Thơ.

Năm 1969, chính quyền Cách mạng tách thị xã Cần Thơ khỏi tỉnh Cần Thơ và đặt thị xã trực thuộc Khu 9 (Khu Tây Nam Bộ). Năm 1971, thị xã Cần Thơ trở lại thuộc tỉnh Cần Thơ. Tháng 8/1972, Thường vụ Khu ủy Khu 9 quyết định tách thị xã Cần Thơ ra khỏi tỉnh Cần Thơ, hình thành Thành phố Cần Thơ trực thuộc Khu 9; Như vậy cho đến năm 1976, tỉnh Cần Thơ và thành phố Cần Thơ là hai đơn vị hành chính ngang bằng nhau. Tỉnh Cần Thơ khi đó bao gồm thị xã Vị Thanh và 6 huyện: Châu Thành, Ô Môn, Kế Sách, Long Mỹ, Phụng Hiệp, Thốt Nốt. Thành phố Cần Thơ có 2 quận: Quận 1, Quận 2.
Giai đoạn sau năm 1975
Sau ngày 30/4/1975, Chính quyền quân quản Cộng hòa miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ vẫn duy trì hai đơn vị hành chính cấp tỉnh ngang bằng nhau là tỉnh Cần Thơ và thành phố Cần Thơ cho đến đầu năm 1976. Lúc này, chính quyền Cách mạng cũng bỏ danh xưng “quận” có từ thời Pháp thuộc và lấy danh xưng “huyện” (quận và phường dành cho các đơn vị hành chánh tương đương khi đã đô thị hóa).

1976–1992 (mang tên Hậu Giang này xưa) Ngày 24/2/1976, Hợp nhất tỉnh Cần Thơ (bao gồm cả huyện Thốt Nốt), tỉnh Sóc Trăng và thành phố Cần Thơ thành một tỉnh mới, lấy tên là tỉnh Hậu Giang. Tỉnh Hậu Giang có thành phố Cần Thơ(tỉnh lỵ), 2 thị xã: Sóc Trăng, Vị Thanh và 11 huyện. Đồng thời giải thể Quận 1 và Quận 2 thành phố Cần Thơ, phân chia thành 8 phường.
Tháng 12/1991, Quốc hội Việt Nam ban hành Nghị quyết chia tỉnh Hậu Giang thành tỉnh Cần Thơ và tỉnh Sóc Trăng. Tháng 4/1992, tỉnh Cần Thơ chính thức được tái lập và đi vào hoạt động. Tỉnh Cần Thơ lúc đó bao gồm thành phố Cần Thơ (tỉnh lỵ) và 6 huyện: Châu Thành, Long Mỹ, Ô Môn, Phụng Hiệp, Thốt Nốt, Vị Thanh.
Tháng 5/1992, Công nhận thành phố Cần Thơ là đô thị loại 2, trực thuộc tỉnh Cần Thơ; Tháng 7/1999, Thành lập thị xã Vị Thanh, đổi tên huyện Vị Thanh thành huyện Vị Thủy thuộc tỉnh Cần Thơ.
Thành phố trực thuộc trung ương Ngày 26/11/2003, Quốc hội ban hành Nghị quyết chia tỉnh Cần Thơ thành thành phố Cần Thơ trực thuộc trung ương và tỉnh Hậu Giang. Tháng 1/2004, Thành phố Cần Thơ trực thuộc Trung ương chính thức được thành lập và đi vào hoạt động; Ngày 2/1/2004, thành lập các quận Ninh Kiều, Bình Thủy, Cái Răng, Ô Môn và các huyện Phong Điền, Cờ Đỏ, Vĩnh Thạnh, Thốt Nốt thuộc thành phố Cần Thơ trực thuộc Trung ương; Tháng 6/2009, Công nhận thành phố Cần Thơ là đô thị loại I trực thuộc Trung ương.
Lịch sử đất Sóc Trăng
Tên gọi: Theo các nhà nghiên cứu, tên gọi Sóc Trăng do từ Srok Kh’leang của tiếng Khmer mà ra. Srok tức là “xứ,” “cõi,” Kh’leang là “kho,” “vựa,” “chỗ chứa bạc.” Srok Kh’leang là xứ có kho chứa bạc của nhà vua. Tiếng Việt phiên âm ra là “Sốc-Kha-Lang” rồi sau đó đọc thành Sóc Trăng. Dưới triều Minh Mạng, Sóc Trăng đuợc đổi tên thành Nguyệt Giang tỉnh (theo Hán tự).

Địa lý hành chính của Sóc Trăng nhiều lần thay đổi theo sự biến thiên của lịch sử. Vào năm Mậu Dần 1698, chúa Nguyễn sai Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược xứ Đàng trong và tiến hành xác lập địa giới hành chính vùng đất Nam bộ, lập thành phủ Gia Định. Lấy đất Đồng Nai (Nông Nại) làm huyện Phước Long và đặt dinh Trấn Biên, lưu mộ dân từ Quảng Bình trở vào đến ở, chia đặt thôn, ấp.
Năm 1732, chúa Nguyễn lập dinh Long Hồ tại Cái Bè (lúc đó là Cái Bè Dinh), năm 1780 được đặt tại vùng chợ Vĩnh Long và đổi tên là Vĩnh Trấn Dinh, sau đó đổi thành trấn Vĩnh Thanh. Lúc này Sóc Trăng thuộc vùng Ba Thắc (nằm trong trấn Vĩnh Thanh, phủ Gia Định).
Năm 1832, vua Minh Mạng chia Nam kỳ thành 6 tỉnh, 3 tỉnh miền Đông là: Gia Định, Biên Hòa, Định Tường; 3 tỉnh miền Tây gồm: Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Vùng đất Sóc Trăng thuộc tỉnh Vĩnh Long.
Năm 1835 lại lấy đất Ba Thắc (tức vùng đất Sóc Trăng) nhập vào tỉnh An Giang, lập thêm phủ Ba Xuyên gồm 3 huyện: Phong Nhiêu, Phong Thạnh và Vĩnh Định. Đây là điểm mốc có ý nghĩa lịch sử rất quan trọng về địa danh hành chính tỉnh Sóc Trăng sau này.
Năm 1867, thực dân Pháp chiếm 3 tỉnh miền Tây trong đó có Sóc Trăng, sau đó Pháp chia Nam kỳ lục tỉnh thành nhiều hạt; Đến năm 1876, thực dân Pháp chia toàn Nam kỳ thành 4 khu vực hành chính gồm: Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Bát Sắc (Bassac), mỗi khu vực hành chính lớn lại chia nhỏ thành nhiều tiểu khu, tiểu khu Sóc Trăng thuộc khu vực Bát Sắc.
Năm 1882, Pháp tách 2 tổng của tiểu khu Sóc Trăng và 3 tổng của tiểu khu Rạch Giá thành lập thêm tiểu khu Bạc Liêu; Năm 1926 thực dân Pháp chia tỉnh Sóc Trăng thành 4 quận: Châu Thành, Kế Sách, Long Phú và Phú Lộc.
Sau Cách mạng tháng 8/1945 và Trong kháng chiến chống Pháp tỉnh Sóc Trăng và các tỉnh Bạc Liêu, Rạch Giá, Cần Thơ có sự tách, nhập một số quận, huyện.
Cuối năm 1957 tỉnh Sóc Trăng nhận thêm thị xã Bạc Liêu và các huyện: Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu, Giá Rai của tỉnh Bạc Liêu và huyện Hồng Dân của tỉnh Rạch Giá; Đầu năm 1958 huyện Kế Sách sáp nhập về tỉnh Cần Thơ. Như vậy, vào thời gian này tỉnh Sóc Trăng có 2 thị xã (thị xã Sóc Trăng, thị xã Bạc Liêu) và 7 huyện (Châu Thành, Long Phú, Thạnh Trị, Vĩnh Châu, Vĩnh Lợi, Hồng Dân, Giá Rai).
Tháng 11/1973, theo quyết định của Khu ủy Tây Nam bộ, Sóc Trăng giao các huyện Vĩnh Lợi, Hồng Dân, thị xã Bạc Liêu cho tỉnh Bạc Liêu (riêng huyện Giá Rai giao lại cho tỉnh Cà Mau từ năm 1961).

Tháng 2/1976, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam giải thể cấp khu, hợp nhất một số tỉnh. Tỉnh Sóc Trăng hợp nhất với tỉnh Cần Thơ và thành phố Cần Thơ thành tỉnh Hậu Giang; Tháng 12/1991, tách tỉnh Hậu Giang thành 2 tỉnh Sóc Trăng và Cần Thơ. Tỉnh Sóc Trăng chính thức đi vào hoạt động tháng 4/1992 gồm các huyện: Mỹ Tú, Kế Sách, Thạnh Trị, Mỹ Xuyên, Long Phú, Vĩnh Châu và thị xã Sóc Trăng; Ngày 08/2/2007, Thành lập thành phố Sóc Trăng thuộc tỉnh Sóc Trăng.
Ngày 12/6/2025, theo Nghị quyết về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, bỏ cấp huyện. Sáp nhập tỉnh Hậu Giang và tỉnh Sóc Trăng vào thành phố Cần Thơ. Sau khi sáp nhập, thành phố Cần Thơ có diện tích 6.360,83 km².
V. Văn hóa- Lễ hội vùng đất Cần Thơ
1. Đôi nét về đô thị miền sông nước Cần Thơ qua lịch sử

Năm 1739, vùng đất Cần Thơ được khai mở và chính thức có mặt trên dư đồ Việt Nam với tên gọi là Trấn Giang. Cùng với lịch sử dân tộc, vùng đất Trấn Giang – Cần Thơ đã trải qua nhiều lần thay đổi tên gọi và địa giới hành chính. Mỗi giai đoạn đều ghi dấu những bước phát triển mới của vùng đất này.
Trên không gian hoang vu của vùng đất phương Nam, mãi đến thế kỷ 16, 17 mới được các tập đoàn lưu dân kéo tới khai khẩn, mở ra một tiến trình lịch sử mới với một mô thức văn hóa khác. Trong tiến trình đó, Cần Thơ xưa là lõm đất chẳng những so với miệt trên (Ðồng Nai – Sài Gòn) mà cả với miệt dưới (Hà Tiên), thậm chí mãi đến khi người Pháp đến xâm chiếm. Cả khu vực ở ngọn rạch Cần Thơ ăn thông qua sông Cái Bé thuộc đạo Kiên Giang vẫn còn bỏ hoang, đi lại khó khăn, không có người ở. Thời Gia Long, vùng Cần Thơ chưa có nhiều người Việt đến định cư nên cả vùng Cần Thơ rộng lớn chỉ mới hình thành một số làng, mà làng này cách làng kia hàng chục cây số, nằm trên các vùng đất gò, đất giồng.
Sau thời vua Minh Mạng, người Việt đến tụ cư đông dần lên, đất đai cũng được khai phá thêm. Chính vì có sự phát triển nhất định về dân số và diện tích khai khẩn. Cho nên, đến khoảng năm 1840 vùng Cần Thơ đã được lập thành một huyện – huyện Phong Phú thuộc phủ Tuy Biên, tỉnh An Giang. Kể từ thời điểm này trở đi, Cần Thơ có sự phát triển vượt bậc. Chỉ trong khoảng thời gian 30 năm (từ 1890 đến năm 1920) đã hình thành một hệ thống kênh đào dày đặc nối Cần Thơ với Sóc Trăng, Bạc Liêu, Rạch Giá, tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng nhanh chóng công cuộc khai thác đất đai.

Với hệ thống sông rạch phong phú và giữ vai trò trọng yếu trong việc canh tác nông nghiệp và vận chuyển hàng hóa, sông rạch Cần Thơ đã góp phần vào việc thay đổi diện mạo Cần Thơ thành một đô thị hiện đại. Có thể nói, ở Cần Thơ lúc bấy giờ “đường sông là mạch máu giao thông chính, ghe xuồng trở nên quan trọng đến mức thiết yếu. Làng xã được hình thành trên các giồng đất trải dài theo sông, rạch và về sau là kinh đào. Những khúc sông thuận lợi, giáp nước, cửa vàm, ngã ba, ngã tư trở thành tụ điểm giao thương, thị tứ, trung tâm thương mại – văn hóa của một vùng. Chính nhờ hệ thống sông ngòi chằng chịt nên vùng Cần Thơ xưa đã thu hút dân tứ xứ đến khai khẩn đất, lập làng, ghe xuồng tấp nập kết thành điểm chợ giao thương, trao đổi hàng hóa phong phú và đa dạng. Đến cuối thế kỷ 19 thương mại và kỹ nghệ đã phát triển rực rỡ. Hằng năm, Cần Thơ sản xuất rất nhiều lúa gạo, các nghề thủ công quy tụ thợ kim hoàn, thợ mộc, thợ sắt tây, thợ rèn,…Ngành nghề đánh bắt hải sản cũng phát triển. Lúa gạo ngon và rẻ, trái cây Phong Ðiền, Bình Thủy nào kém địa phương khác về khối lượng và chất lượng.
Và những thay đổi theo hướng ngày càng phát triển, Cần Thơ (châu thành) đã thay đổi một cách choáng ngợp. Những con đường tuyệt đẹp vắt qua châu thành; những bờ kè trồng xoài trải dài hàng trăm mét… Tháng 2 năm 1919, Phạm Quỳnh từ Long Xuyên đến Cần Thơ, cũng có những nhận xét: “Cần Thơ có cái vẻ mỹ miều, xinh xắn, sạch sẽ phong quang, thật xứng danh làm tỉnh đầu ở miền Tây. Ðường phố thênh thang, cửa nhà san sát, các nhà buôn Tây cũng nhiều hơn tỉnh khác, có chỗ coi xinh đẹp hơn ở Sài Gòn”.
Ngoài thương mại, các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, thể thao, văn học nghệ thuật ở Cần Thơ cũng phát triển. Ở lĩnh vực giáo dục, Trường Trung học Cần Thơ đóng vai trò tích cực về mở mang dân trí. Nhà trường gần kề, học sinh Cần Thơ được ưu tiên. Học sinh các tỉnh lân cận, như Rạch Giá, Hà Tiên, Bạc Liêu, Sóc Trăng hoặc Sa Ðéc, Vĩnh Long dễ đến hơn. Lại thêm trung học tư, sớm nhất là Trường Võ Văn, dành cho những học sinh không được tuyển vào trường nhà nuớc. Trước kia, công chức, giáo viên của phía Tây Nam phần lớn do trường Trung học Mỹ Tho (cất từ cuối thế kỷ 19) cung cấp, các ông đốc phủ đều từ Gò Công, Mỹ Tho đến. Khi đó, Trường Trung học Cần Thơ bắt đầu đào tạo nhiều thanh niên lỗi lạc,…Ðến Cần Thơ, là mở rộng tầm nhìn, được học bản đồ thế giới với những chính thể chính trị đa dạng.

Sinh hoạt ở thị xã Cần Thơ là sinh hoạt Sài Gòn thu hẹp. Từ năm 1910, Cần Thơ và Cái Vồn đã có đoàn chiếu bóng câm, từ Sài Gòn xuống trình diễn. Tuồng xi-nê của Cần Thơ chỉ chiếu chậm hơn Sài Gòn có 7 ngày. Những hội chợ triển lãm tổ chức ở Cần Thơ nào kém chất lượng so với Sài Gòn: nào khiêu vũ, thi sắc đẹp, dàn nhạc Tây (của giới theo đạo Thiên Chúa) trình diễn, lại còn võ đài, võ sĩ khắp Nam Bộ gom về để tranh chức vô địch. Những cuộc đấu bóng đá ở Cần Thơ thời trước đã lừng danh. Giới chủ lớn ở Bạc Liêu đã trao giải thưởng xứng đáng. Thời trang quần áo Việt, Âu, các hiệu đóng giày, hiệu ăn, khách sạn của Cần Thơ một thời nổi danh. Trường Nữ công (dạy thêu, may) Như Văn ra đời sớm nhất miền Tây. Với tranh chấp điền địa, tại Cần Thơ có văn phòng của hai luật sư Pháp, làm ăn khá giả. Về nghệ thuật, ở Cần Thơ có phong trào thu tiếng vào dĩa hát, dĩa Béka (loại tròng tím). Về văn chương, Cần Thơ đã là trung tâm hoạt động tích cực, chỉ đứng sau Sài Gòn. Các tỉnh phía Tây Nam muốn tìm văn hóa đã hướng lên Cần Thơ, tạm đủ, chưa cần đến tận Sài Gòn.
2. Mang nét văn hóa đa sắc màu

TP Cần Thơ hợp nhất có không gian mở rộng với nhiều di sản văn hóa đã được công nhận. Khu vực này hiện là nơi sinh sống của nhiều dân tộc, trong đó đông nhất là dân tộc Kinh, Hoa, Khmer. Như vậy, bên cạnh hệ sinh thái đa dạng, Cần Thơ còn có sự phong phú về bản sắc văn hóa. Một TP. Cần Thơ cũ với yếu tố nước nội đồng của đô thị bên sông, không chỉ là thủ phủ của miền Tây sông nước của những miệt vườn trĩu quả hay chợ nổi nhộn nhịp. Thành phố còn lưu giữ một kho tàng di sản văn hóa, lịch sử quý giá, là minh chứng sống động cho quá trình hình thành và phát triển của vùng đất Tây Đô. Các di tích văn hóa lịch sử Cần Thơ chính là những chứng nhân thầm lặng, kể lại câu chuyện về con người, về những cuộc khai hoang mở cõi, về tinh thần bất khuất trong các cuộc đấu tranh giành độc lập như Nhà cổ Bình Thủy, Đình Bình Thủy, Chùa Ông, Thiền viện Trúc Lâm Phương Nam, Di tích Khảo cổ học Nhơn Thành, Bến Ninh Kiều, Khu tưởng niệm Châu Văn Liêm, Đền thờ Vua Hùng,…
Một vùng Hậu Giang (cũ) gắn liền với những kênh xáng, vùng ngập nước, với Di tích Chiến thắng Chương Thiện, Đền thờ Bác Hồ, Di tích căn cứ Tỉnh ủy Cần Thơ, Khu di tích chiến thắng Vàm Cái Sình & Khu Trù Mật; Khu Bảo tồn Thiên nhiên Lung Ngọc Hoàng, Rừng tràm Vị Thủy, Chợ nổi Ngã Bảy (Phụng Hiệp), Chùa Phổ Minh, Cổ tự Quan Đế.
Và vùng đất Sóc Trăng có hơn 200 ngôi chùa, trong đó có gần 100 ngôi chùa Phật giáo Nam tông, đây là nơi hội tụ văn hóa lâu đời của đồng bào Khmer. Ngôi chùa cũng là nơi sinh hoạt đời sống, sinh hoạt văn hóa tâm linh, văn hóa cộng đồng của đồng bào Khmer Nam bộ từ thế hệ này qua thế hệ khác. Ngoài ra, địa phương còn có nhiều Di tích Lịch sử Văn hóa cấp quốc gia, cấp tỉnh. Những cù lao, vườn cây ăn trái ven sông, cảng biển, rừng phòng hộ với hệ sinh thái đa dạng. Đặc biệt, có chợ nổi Ngã Năm với những nét đặc trưng của văn hóa miền sông nước Nam Bộ,…

Gắn liền với văn hóa vật thể đó chính là một kho tàng văn hóa phi vật thể: Văn hóa chợ nổi Cái Răng, Lễ hội Kỳ yên Đình Bình Thủy, Hò Cần Thơ, Hát ru của người Việt ở Cần Thơ; Nghệ thuật trình diễn dân gian hát Aday của người Khmer Hậu Giang; Nghệ thuật trình diễn nhạc ngũ âm, sân khấu Dù Kê, Nghệ thuật dân gian múa Rom Vong, nghệ thuật sân khấu Rô Băm của người Khmer. Nghề thủ công truyền thống bánh Pía của người Hoa ở Châu Thành. Vùng Sóc Trăng còn có những lễ hội mang nét đặc trưng của cư dân vùng biển như Lễ hội Chrôi Rum Chếk (cúng Phước Biển), Lễ hội Nghinh Ông, Lễ Thắk Côn (cúng Dừa), Ngày hội sông nước miệt vườn. Đặc biệt, Sóc Trăng được biết đến với Lễ hội Oóc Om Bóc – Đua ghe ngo của đồng bào Khmer, được tổ chức vào ngày 15/10 (âm lịch) hàng năm, thu hút hàng ngàn lượt du khách đến tham quan, trải nghiệm. Đến nay, Lễ hội Oóc Om Bóc – Đua ghe ngo trở thành lễ hội cấp khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và Lễ hội Nghinh Ông được công nhận Di sản Văn hóa phi vật thể quốc gia…Song song đó, khu vực Cần Thơ còn có nhiều nét văn hóa đặc sắc mang tín ngưỡng dân gian, như Lễ Tống phong của người Việt ở Cần Thơ, Lễ hội thả đèn nước trên sông, Lễ dâng bông của đồng bào dân tộc Khmer,…đều là những hoạt động văn hóa tiêu biểu.

Du khách đến Cần Thơ sẽ được thưởng ngoạn cảnh đẹp của vùng sông nước, tham gia các lễ hội vui tươi, rực rỡ bản sắc văn hóa của đồng bào các dân tộc, tạo nên những câu chuyện khám phá, từ tìm hiểu kiến trúc, đời sống tâm linh, đến nếp sống sinh hoạt qua các điệu múa, âm nhạc và ẩm thực. Đắm mình trong không gian văn hóa của những bản đờn ca tài tử Đất Phương Nam…
2. Khám phá các làng nghề truyền thống
Làng nghề bánh tráng Thuận Hưng: Nổi tiếng với các loại bánh tráng như bánh tráng nem, bánh tráng dừa, bánh tráng mặn… Hơn hai trăm năm tuổi, bánh tráng Thuận Hưng đã trở thành một phần không thể thiếu trong ẩm thực miền Tây. Chứng kiến quy trình làm bánh ở đây tất cả đều tỉ mỉ, công phu đến từng chi tiết. Những chiếc bánh tráng mỏng tang, trắng trong, cảm nhận được sự khéo léo và tâm huyết của người làm bánh. Đó không chỉ là nguyên liệu để chế biến những món ăn ngon, mà còn mang một nét văn hóa ẩm thực đặc trưng của vùng đất này.

Làng nghề làm hủ tiếu truyền thống: Tập trung nhiều tại quận Ninh Kiều và Bình Thủy, du khách có thể trải nghiệm quy trình làm sợi hủ tiếu thủ công và thưởng thức “pizza hủ tiếu”. Làng nghề hủ tiếu lại mang một vẻ tĩnh lặng, cần mẫn riêng. Mỗi sợi hủ tiếu trắng trong kia là kết tinh của bao công đoạn tỉ mỉ, từ hạt gạo quê hương đến đôi bàn tay nhào nặn khéo léo. Và rồi, được thưởng thức một tô hủ tiếu nóng hổi ngay tại lò, cái vị ngọt thanh của nước dùng, cái dai mềm của sợi bánh như tan chảy trong miệng, đọng lại một dư vị khó quên về Cần Thơ.

Làng hoa Phó Thọ – Bà Bộ: Là trung tâm cung cấp hoa kiểng lớn cho khu vực đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt nhộn nhịp vào dịp Tết. Mỗi độ xuân về, làng hoa Phó Thọ như khoác lên mình một chiếc áo mới, rực rỡ và tràn đầy sức sống. Những luống hoa đủ màu sắc, hương hoa dịu nhẹ lan tỏa trong không khí, mang theo cả hơi thở của mùa xuân đang đến và cảm nhận không khí rộn ràng của những ngày Tết cổ truyền.
Làng đan lọp Thới Long: Nơi sản xuất các loại lọp, lờ, dụng cụ đánh bắt thủy sản phổ biến ở miền Tây. Trước những đôi tay thoăn thoắt, những sợi tre, sợi trúc tưởng chừng khô khan vậy mà qua bàn tay họ lại mềm mại, uyển chuyển thành những chiếc lọp đủ hình dáng, kích cỡ. Mùa nước nổi, cả làng rộn ràng tiếng nói cười, tiếng tre va vào nhau, một thứ âm thanh mộc mạc mà sao nghe ấm áp đến lạ. Ngắm nhìn họ cần mẫn đan từng chiếc lọp, bạn không chỉ thấy sự khéo léo mà còn cảm nhận được cái tình, cái tâm mà họ gửi gắm vào từng sản phẩm. Nó không đơn thuần là cái để bắt cá, bắt tôm, mà còn là cả một niềm tự hào về một nghề truyền thống cha ông để lại.
Làng lưới Thơm Rơm: Nổi tiếng với nghề đan lưới, chài phục vụ đánh bắt cá. Làng lưới Thơm Rơm như một bức tranh tĩnh lặng mà đầy sức sống. Hơn ba mươi năm, những đôi tay chai sạn mà khéo léo kết nối thành những tấm lưới vững chãi, chở theo bao hy vọng của người dân sông nước. Không chỉ là sản phẩm mưu sinh, những tấm lưới Thơm Rơm còn là chứng nhân cho bao mùa cá bội thu, vươn mình ra cả những chân trời xa quốc tế.

Làng nghề bánh kẹo Ba Rích: Chuyên sản xuất các loại bánh truyền thống như bánh mè, bánh đường, bánh kẹp. Đi ngang qua Ba Rích, thứ níu chân bạn lại chính là cái hương thơm ngọt ngào, quyến rũ lan tỏa trong không khí. Làng nghề bánh kẹo của người Hoa này đã hơn sáu mươi năm tuổi. Những chiếc bánh gai dẻo thơm, bánh xốp kem xốp tan trong miệng, bánh kẹp giòn rụm hay những chiếc bánh mè béo ngậy… mỗi loại mang một hương vị đặc trưng, gợi nhớ về những món quà quê thân thương. Bạn sẽ thích cái cảm giác được đứng bên lò, nhìn những mẻ bánh nóng hổi vừa ra lò, vừa nghe kể về những bí quyết gia truyền mà gia đình bao đời nay gìn giữ. Cái vị ngọt ngào ấy, không chỉ là vị của đường, của bột, mà còn là vị của thời gian, của tâm huyết.
Làng nghề làm đồ chơi dân gian Long Tuyền: Lưu giữ các giá trị văn hóa đồ chơi thủ công truyền thống. Đặt chân đến Long Tuyền, một ký ức tuổi thơ chợt ùa về. Những con tò he đủ màu sắc, những chiếc đèn ông sao lung linh, những chú lân giấy ngộ nghĩnh… tất cả như trở về một thời đã xa. Những nghệ nhân Long Tuyền, bằng sự khéo léo và tình yêu, thổi hồn vào những vật liệu đơn sơ, tạo ra cả một thế giới tưởng tượng đầy màu sắc.
Làng dệt chiếu Cái Chanh: Đến Cái Chanh, như lạc bước vào một thế giới khác, nơi cây lác, cây bố bình dị lại hóa thành những tấm chiếu óng ả. Những người phụ nữ Cái Chanh đôi tay thoăn thoắt chọn từng cọng lác, nhuộm màu rồi tỉ mẩn dệt nên những họa tiết hoa lá thân thương. Cái tiếng “cạch, cạch” của khung cửi, hòa cùng tiếng trò chuyện râm ran, tạo nên một âm thanh đặc trưng, ấm áp lạ thường. Dù cuộc sống có đổi thay, những chiếc chiếu Cái Chanh vẫn giữ nguyên cái hồn quê mộc mạc, bền bỉ như chính những con người nơi đây.
Làng nghề chằm nón lá: Đến Thới Tân A, nơi chiếc nón lá đã trở thành một phần không thể thiếu của đời sống. Ở đây, thời gian dường như trôi chậm hơn, bên những chiếc lá cật mật quý hiếm. Mỗi cây chỉ cho duy nhất một lá non, vậy nên chiếc nón ở đây không chỉ bền đẹp mà còn chứa đựng cả sự trân trọng của người làm nghề. Khác với chiếc nón Huế dịu dàng hay nón Bắc mộc mạc, nón lá Thới Tân A mang một vẻ đẹp riêng, một nét duyên thầm của người phụ nữ miền Tây.

Làng nghề đan cần xé Ngã Bảy: Làng nghề đan cần xé, một nghề thủ công truyền thống đã có hơn 40 năm tuổi. Những chiếc cần xé được làm từ tre, trúc, mây và dây kẽm, dùng để đựng nông sản, trái cây… Tại đây, bạn có thể chứng kiến quy trình đan lát tỉ mỉ của người dân và thậm chí tự tay làm một chiếc cần xé nhỏ xinh làm quà lưu niệm.
Làng nghề đan lát lục bình Vị Thủy: Làng nghề đan lát Vị Thủy nổi tiếng với các sản phẩm thủ công được làm từ nguyên liệu thiên nhiên như lục bình, dừa nước… Tại đây, bạn có thể chiêm ngưỡng những sản phẩm đa dạng như giỏ xách, thảm, chiếu, nón…mua những sản phẩm thủ công làm quà lưu niệm.
Làng nghề đóng ghe, xuồng Hiệp Thành: Làng nghề đóng ghe, xuồng Hiệp Thành là nơi sản xuất những chiếc thuyền truyền thống vững chắc phục vụ cho cuộc sống sông nước của người dân miền Tây. Với truyền thống hơn 50 năm, những người thợ tại đây đã tạo nên những chiếc ghe, xuồng thủ công độc đáo, đặc trưng của sông nước miền Tây.
Làng trầu Vị Thủy: Làng Trầu Vị Thủy nổi tiếng với lịch sử trồng trầu lâu đời, là “vương quốc trầu lá” của miền Tây Nam Bộ. Đến đây, bạn sẽ được chiêm ngưỡng những vườn trầu xanh mướt, tạo nên một khung cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp. Đến làng Trầu Vị Thủy nghe những câu chuyện văn hóa, di tích lịch sử về tục ăn trầu, giúp du khách hiểu hơn về một phần lịch sử và văn hóa người Việt.

Làng khóm Cầu Đúc: Nằm bên dòng sông Cái Lớn thơ mộng, vào mùa khóm (Dứa) chín từ tháng 5 – 7. làng khóm Cầu Đúc nổi bật với những vườn khóm trĩu quả, trái khóm to, ngọt thanh đặc biệt. Khóm tại đây thuộc giống Queen, cho trái thơm ngọt, ít xơ và có thể chế biến thành nhiều món ngon như mứt khóm, kẹo khóm, rượu khóm, nước ép khóm… Du khách đến đây có thể checkin với cánh đồng khóm, tìm hiểu quy trình trồng và thu hoạch khóm, và thưởng thức trực tiếp các món ngon từ khóm.
Làng nghề đan Đát vùng Sóc Trăng: thường tập trung tại một số địa điểm nhất định như Phước Quới, Vũng Thơm… Khi du lịch tại đây, bạn sẽ có thể tham quan những hộ gia đình đang thực hiện công việc đan đát thường ngày. Nhờ đó, bạn cũng hiểu thêm về nghệ thuật về làng nghề truyền thống ở Sóc Trăng này. Vì quá nổi tiếng nên nơi đây còn được nhiều người biết đến với danh xưng Làng nghề đan đát Phước Quới. Những nghệ nhân với đôi bàn tay khéo léo, tinh tế và tài hoa. Những sản phẩm vô cùng đa dạng và phong phú đến nỗi khiến bạn choáng ngợp như: Thúng, xà ngom, rổ, xà neng, cần xé nhỏ, bội nhốt gà và nhiều mặt hàng thủ công mỹ nghệ khác như chiếc ghe, khay đựng trầu,… cũng được làm bằng nguyên liệu chủ yếu là tre, trúc.

Làng nghề làm bánh pía Vũng Thơm: Bánh pía Vũng Thơm là làng nghề truyền thống ở Sóc Trăng nổi tiếng không còn xa lạ với nhiều du khách. Bánh Pía có nguồn gốc từ bánh Trung thu của người Triều Châu, một loại bánh ngọt do người Minh Hương di cư sang Việt Nam từ thế kỷ 16 mang theo. Từ ”Pía” có gốc từ tiếng Triều Châu, ”Pi-é” có nghĩa là bánh. Vì vỏ bánh có cấu trúc nhiều lớp da mỏng xếp chồng lên nhau và có thể lột ra dễ dàng nên được cộng đồng các dân tộc ở Nam bộ gọi với cái tên khác là “bánh lột da”. Ngày nay, chiếc bánh Pía đã trở thành một trong những biểu tượng văn hóa ẩm thực đặc sắc của vùng Sóc Trăng,…
Làng nghề truyền thống làm cốm dẹp: Cốm dẹp là đặc sản của Sóc Trăng nói riêng và đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ nói chung. Món ăn này được xem như lễ vật quan trọng trong mỗi dịp Lễ cúng Trăng. Theo lời của các nghệ nhân nơi đây cho biết, đây là một trong những nghề đã xuất hiện từ rất sớm của đồng bào Khmer. Thời điểm hình thành món cốm này đã quá lâu nên không ai tìm thấy bất cứ tài liệu nào ghi chép cụ thể về làng nghề truyền thống ở Sóc Trăng này. Ngày xưa, việc đâm, giã cốm dẹp đã là một công việc truyền thống của người Khmer, nhất là làng nghề tại Phước Quới. Theo thời gian, mùi thơm của nếp mới cùng với vị ngon ngọt đã bước ra khỏi lũy tre của phum, sóc, và mở rộng quy mô danh tiếng hơn để trở thành món ăn lạ miệng được công nhận trên thị trường. Để gắn bó với ngành nghề này, đòi hỏi sự khéo léo lẫn tình yêu công việc bởi làm cốm phải thức khuya, dậy sớm và tốn nhiều công sức. Cũng chính vì vậy, những gia đình gắn bó với nghề thường tự tạo lập các cơ sở sản xuất cốm với 4 lò rang lúa nếp, 2 cối quết và có từ 4 – 6 nhân công. Tuy cùng một món nhưng mỗi cơ sở lại có bí quyết và phương thức chế biến riêng nên hương vị cũng có phần khác biệt.

Làng nghề vẽ tranh trên kiếng: Vẽ tranh trên kiếng là làng nghề truyền thống mang đậm nét văn hóa nghệ thuật. Khi đặt chân đến vùng đất Phú Tân, bạn có thể chứng kiến những bức tranh vẽ trên kiếng vô cùng điệu nghệ của các nghệ nhân nơi đây. Mỗi bức tranh mang một cái hồn riêng, đề tài vẽ tranh cũng khá phong phú, đặc biệt là tái hiện câu chuyện kể về cuộc đời của Đức Phật Thích Ca, tả lại phong cảnh chùa hay những địa danh nổi tiếng,…
Khám phá những làng nghề truyền thống ở Cần Thơ không chỉ là một chuyến đi, mà còn là một hành trình tìm về những giá trị văn hóa, những nét đẹp trong đời sống thường nhật của người dân miền sông nước. Mỗi làng nghề là một câu chuyện, một mảnh ghép làm nên bức tranh Cần Thơ thật đậm đà.
3. Các lễ hội nổi bật tại Cần Thơ
Lễ hội Bánh dân gian Nam Bộ: Thường được tổ chức tại TP. Cần Thơ vào khoảng tháng 4 hàng năm. Đây là sự kiện tôn vinh các loại bánh truyền thống miền Tây và hoạt động trình diễn nghệ thuật làm bánh với hơn 200 gian hàng. Lễ hội là sự kiện thường niên cấp quốc gia của Cần Thơ nhằm quảng bá, xúc tiến hình ảnh du lịch, ẩm thực Cần Thơ.

Lễ hội đình Bình Thủy: Lễ hội truyền thống quy mô nhất Cần Thơ, đình Bình Thủy nằm trên đường Lê Hồng Phong, thành phố Cần Thơ. Hàng năm, tại đình Bình Thủy, các ngày rằm, ngày Tết đều diễn ra lễ cúng và đặc biệt là 2 lễ lớn Kỳ Yên thượng điền và Kỳ Yên hạ điền. Lễ Kỳ Yên thượng điền được tổ chức ngày 15 tháng chạp để tạ ơn và cúng ruộng đồng nghỉ ngơi. Còn lễ Kỳ Yên hạ điền được tổ chức vào ngày 15/4 âm lịch để cúng đất đai bắt đầu một mùa vụ mới. Đến với đình Bình Thủy vào dịp lễ hội, ngoài cầu những điều tốt lành, bạn sẽ được tự do vui chơi, tham quan, xem hát cải lương, diễn tuồng,…

Lễ hội chùa Ông Cần Thơ: Lễ hội của cộng đồng người Hoa Quảng Đông, thu hút đông đảo du khách đến cầu may mắn, tài lộc. Chùa Ông nằm ở đường Hai Bà Trưng, Cần Thơ, còn có tên gọi khác là Quản Triệu Hồi Quán, tuy nhiên người dân nơi đây vẫn quen gọi là chùa Ông vì ở chính điện chùa thờ Quan Thánh Đế Quân, tức Quan Công. Hàng năm, chùa Ông diễn ra những lễ hội như lễ cúng thánh thần vào các ngày rằm, lễ vía Bà thiên hậu 23/3, lễ vía Ông ngày 24/6, lễ vu lan vào mùng 7/7 âm lịch,…đặc biệt phải kể đến lễ hội đấu đèn 10 năm 1 lần vào dịp Tết nguyên tiêu. Mục đích của đấu giá đèn lồng là tạo sinh khí, sự vui tươi cho lễ hội và cũng để xây dựng quỹ từ thiện. Số tiền đấu giá được dùng vào những việc công đức như xây trường học, giúp đỡ những trẻ mồ côi,…
Lễ vía Bà Thiên Hậu: Lễ vía Bà Thiên Hậu của người Hoa, họ quan niệm rằng những vị thần như bà đã phù hộ cho người dân có một cuộc sống đầy đủ và ấm no. Hàng năm lễ vía Bà thiên Hậu tổ chức vào ngày 23/3 Âm lịch tại các ngôi chùa như: Hiệp Thiên Cung Ba Láng (tại Cái Răng), Võ Đế Cổ Miếu (Ô Môn), Quan Đế Võ Miếu (Bình Thủy), Thất Phủ Võ Miếu (Thốt Nốt), Quảng Triệu Hội Quán (Ninh Kiều)…Lễ hội này đã truyền qua hàng trăm năm, trở thành một tục lệ không thể thiếu trong đời sống của người Hoa. Dù hiện nay, văn hóa của tộc người này đã hòa nhập rất nhiều với người Kinh và các dân tộc khác của Việt Nam, nhưng họ vẫn giữ được nét đặc trưng của riêng mình bằng những lễ hội truyền thống. Lễ hội thường thu hút đông đảo du khách tham gia.
Lễ hội hoa đăng Cần Thơ: Diễn ra tại bến Ninh Kiều vào khoảng cuối tháng 11 hàng năm. Đến hội hoa đăng, bạn sẽ được đắm chìm trong không gian ngập tràn ánh sáng nhiều màu sắc sặc sỡ cùng âm thanh sống động. Mỗi năm Hội hoa đăng Cần Thơ được tổ chức theo từng chủ đề khác nhau, bao gồm nhiều hoạt động như: lễ khai mạc, hội thi hoa đăng, lễ hội ánh sáng, các gian hàng quảng bá du lịch, ẩm thực, trưng bày ảnh, trải nghiệm và trưng bày các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, trò chơi dân gian, âm nhạc đường phố, biểu diễn đờn ca tài tử, lễ bế mạc. Nổi bật nhất là lễ hội ánh sáng – kể chuyện nghệ thuật bằng âm thanh và ánh sáng tạo nên một không gian nghệ thuật đặc sắc mang đậm nét văn hóa sông nước miền Tây.

Lễ hội Văn hóa Sông nước Cần Thơ: Tổ chức lần đầu tiên năm 2025, là điểm nhấn văn hóa – du lịch, góp phần tạo không khí vui tươi, phấn khởi, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân. Đặc biệt, lễ hội góp phần giới thiệu, quảng bá nét đặc trưng văn hóa sông nước của ĐBSCL nói chung và TP Cần Thơ nói riêng đến người dân và du khách trong, ngoài nước.
Lễ hội trái cây Tân Lộc: Hàng năm vào ngày Tết Đoan Ngọ (5/5 âm lịch) trên cù lao Tân Lộc, tổ chức lễ hội trái cây – một trong những lễ hội Cần Thơ nổi tiếng. Lễ hội trái cây Tân Lộc được tổ chức với mục đích giới thiệu tiềm năng du lịch sinh thái miệt vườn Cần Thơ với du khách phương xa. Ngày hội có nhiều hoạt động đặc sắc như tạo hình trái cây nghệ thuật, gian hàng ẩm thực, triển lãm nghề truyền thống, phiên chợ hàng Việt về nông thôn, giải múa lân,… Quý khách cũng có thể tham quan các miệt vườn và thưởng thức trái cây tươi tại đây. Sự kiện này cũng góp phần kết nối các nhà vườn với các đơn vị lữ hành nhằm phát triển du lịch Cần Thơ.

Ngày hội Sông nước Miệt vườn: Lễ hội được tổ chức vào ngày mùng 4, 5/5 âm lịch hàng năm tại cồn Mỹ Phước. Lễ hội nhằm tôn vinh những loại trái cây đặc sản của vùng Kế Sách, là vùng chuyên canh cây ăn trái lớn nhất của Sóc Trăng cũ, và tôn vinh người nông dân đã lao động để làm ra các loại trái cây đó. Tại Lễ hội sẽ trưng bày các trái cây đặc sản ngon nổi tiếng gắn liền với các địa danh nơi đây như: Cam sành Ba Trinh, mít nghệ An Mỹ, bưởi da xanh Kế An, bưởi năm roi Kế Thành, chôm chôm Phong Nẫm, măng cụt An Lạc Tây… Bên cạnh đó, Lễ hội còn có còn có nhiều hoạt động để chào đón du khách tham quan có những phút giây vui chơi, giải trí như: Hội thi ẩm thực sông nước miệt vườn, đua thuyền rồng, liên hoan đờn ca tài tử, triển lãm thành tựu kinh tế – văn hoá – xã hội và các trò chơi dân gian…

Lễ hội Ooc-om-bok: Lễ Ooc-om-bok còn được gọi là lễ cúng Trăng hay lễ “Đút cốm dẹp”, được đồng bào Khmer tổ chức vào đêm Rằm Khe Ka-đâk (15/10 âm lịch) nhằm tạ ơn Thần Mặt Trăng đã quản lý mùa màng trong năm và tiễn đưa Thần Nước trở về với biển cả. Theo tương truyền, Lễ Ooc-om-boc đã có từ rất lâu rồi, từ khi con người bắt đầu biết trồng lúa nước. Lễ vật dâng cúng là những nông sản thu hoạch được trong mùa vụ và không thể thiếu cốm dẹp. Mâm cúng được bày biện vào chiều tối. Khi trăng lên, một vị Achar được các gia đình mời đến hoặc một trưởng lão trong gia đình sẽ tiến hành nghi lễ cúng trăng. Sau lời khấn cầu, những đứa trẻ trong gia đình sẽ được gọi lên để đút cốm dẹp và hỏi chúng ước muốn gì. Câu trả lời của đứa trẻ là ước muốn của mọi người gửi tới mặt trăng, là niềm tin của người lớn vào năm tới. Sau nghi lễ, mọi người cùng quây quần ăn bánh, ăn cốm dẹp và trò chuyện vui vẻ, đợi đến sớm mai đi xem đua ghe Ngo trên sông Maspero. Bên cạnh đó, trong dịp Lễ hội, sẽ tiến hành các hoạt động văn hóa như: thả đèn gió, đèn nước, đặc biệt là hội Đua ghe Ngo.

Hội Đua ghe Ngo: Đua ghe Ngo (Prònăng tuuk ngôo) là một trong những hoạt động truyền thống quan trọng nhất của đồng bào Khmer. Gắn liền với Lễ Ooc-om-bok, Hội Đua ghe Ngo cũng mang ý nghĩa tương tự. Bên cạnh đó, đây còn là dịp bà con Khmer vui chơi sau những ngày lao động vất vả. Ghe Ngo là hình tượng của rắn thần Nagar mà theo truyền thuyết đã từng đưa Đức Phật Thích Ca qua sông. Ghe ngo thường dài từ 20- 30m, đầu ghe có hình đầu rắn, hai bên lườn ghe được vẽ những hoa văn rực rỡ. Trước ngày hội, các chùa phải chuẩn bị cách đó rất lâu để tuyển chọn các tay bơi là những chàng trai khỏe mạnh trong các phum sóc. Một đội ghe từ khoảng vài chục đến hơn trăm người nên phải quy tụ người khắp phum sóc mới thành đội,… Đua ghe Ngo không chỉ là một phong tục mà còn thể hiện ý chí đua tranh và khát vọng chiến thắng. Vì vậy, không khí tại lễ hội hết sức tưng bừng, náo nhiệt. Hội Đua ghe Ngo được diễn ra trên sông Maspero với sự tham gia của nhiều đội thuyền trong và ngoài tỉnh, thu hút lượng người xem lên đến vài vạn người.
Lễ thả Đèn Nước: Hay còn gọi là Lôi-Protip được tổ chức vào dịp Lễ Ooc-om-bok, nhằm cúng chiếc răng nanh Phật Thích Ca được rắn thần Naga cất giữ nơi long cung. Protip cũng tượng trưng cho hàm răng dưới của Đức Phật ở lại hạ giới độ trì chúng sinh. Lễ còn mang ý nghĩa là để tạ ơn Thần Mặt đất (Prés thôrni) và Thần Nước (Prés kôong kea) vì qua một năm lao động và sinh hoạt, con người đã làm ô uế đến thiên nhiên nên làm lễ cúng để tạ lỗi. Mặc khác, Lễ cũng nhằm tưởng nhớ công ơn của đấng thiên nhiên đã phù hộ con người làm ăn sinh sống bình yên và mong muốn điều tốt lành hơn cho năm sau. Trong đêm diễn ra Lễ hội, hàng ngàn bà con và du khách sẽ đổ xô về sông Maspero Sóc Trăng để cùng chiêm ngưỡng vẻ đẹp của những chiếc đèn nước được ráp thành hình một ngôi đền,… Trước khi thả đèn, sư sãi và bà con trong phum sóc thắp nhang xung quanh đèn rồi nghe sư tụng kinh cầu tam bảo, cúng trăng… Sau đó người ta rước đèn ra sông để thả đèn. Trong ngày diễn ra lễ thả Đèn nước còn có nhiều hoạt động văn hoá truyền thống đặc sắc của bà con Khmer như: múa trống sadăm, hát dù kê, múa lâm thol, biểu diễn dàn nhạc ngũ âm, hội thi trang phục dân tộc…

Tết Chôl Chnăm Thmây: Tết cổ truyền mừng năm mới của người Khmer, diễn ra tại các chùa với nghi thức tắm Phật, đắp núi cát. Là một trong ba lễ hội lớn và quan trọng nhất của người Khmer Nam Bộ, tết Chôl-Chnăm-Thmây diễn ra vào ngày 13, 14, 15/4 dương lịch. Vào ngày thứ nhất, người ta làm lễ rước Đại lịch. Mọi người tắm gội, mặc quần áo đẹp, mang theo lễ vật nhang đèn, hoa quả đến chùa làm lễ rước Đại lịch. Ngày thứ hai, làm lễ dâng cơm và đắp núi cát. Mỗi gia đình sẽ làm cơm dâng cho các vị sư sãi ở chùa vào buổi sớm và trưa. Buổi chiều, họ tổ chức lễ đắp núi cát để tìm phúc duyên… Ngày thứ ba làm lễ tắm tượng Phật và tắm sư. Lễ mang ý nghĩa biết ơn đức Phật, đồng thời, gột rửa mọi điều không may của năm cũ. Sau khi thực hiện các nghi lễ, thời gian còn lại trong các ngày này mọi người đi thăm hỏi lẫn nhau, chúc nhau những điều tốt đẹp và cùng nhau vui chơi.

Lễ hội Sene Dolta: Lễ cúng ông bà, thể hiện lòng hiếu thảo, thường tổ chức các hoạt động đua bò. Là một trong 3 lễ hội lớn của người miền Tây trong 1 năm. Lễ hội Sen Dolta (còn gọi là Ph’chum-Banh) là một nghi lễ truyền thống lớn nhất trong năm của người Khmer. Lễ hội bắt đầu tổ chức vào ngày 29/8 âm lịch và kéo dài trong vòng 3 ngày. Theo tiếng của người Khmer, “Sen” có nghĩa là cúng, Dol có nghĩa là “bà”, Ta có nghĩa là “ông”. Lễ Sen Dolta có ý nghĩa giống với lễ Vu Lan của người Việt. Lễ hội này được tổ chức nhằm tưởng nhớ đến công ơn ông bà, cha mẹ và người thân; thể hiện thái độ tạ ơn đối với những người đã khuất, cầu mong cho gia đạo được bình an. Trong lễ hội có rất nhiều nghi lễ cúng rước linh hồn ông bà về nhà, ra chùa nghe kinh,… Kết thúc lễ Dolta là nghi lễ đưa tiễn ông bà.
Lễ Dâng Bông: Hay còn gọi là Lễ Kathina, Lễ Dâng y cà sa. Được tổ chức trong thời gian từ ngày 15/9 – 15/10 âm lịch. Là nghi lễ mang đậm nét văn hóa truyền thống của người dân Khmer Nam Bộ nhằm cầu cho phum sóc yên ấm, gia đình bình an, mưa thuận gió hòa và thành kính dâng y Kathina, chúc mừng các nhà sư hoàn mãn mùa an cư kiết hạ, thể hiện tín ngưỡng với Đức Phật và làm theo lời Phật dạy.

Lễ hội Cúng Phước Biển: Lễ hội cúng Phước Biển còn có tên gọi khác là Chrôium check, được tổ chức vào ngày 14,15/2 âm lịch hàng năm. Là lễ hội dân gian của đồng bào Khmer, chủ yếu là của đồng bào Khmer ở vùng biển Vĩnh Châu. Lễ mang ý nghĩa tạ ơn biển cả đã ban cho con người nguồn hải sản dồi dào, cầu nguyện cho người đi biển được bình an, đánh bắt được nhiều cá tôm. lễ hội diễn ra trong 2 ngày 2 đêm. Đầu tiên, sẽ tổ chức rước tượng Phật từ chùa Cà Săng đến điểm làm lễ; làm lễ cầu siêu theo nghi thức Phật giáo; tụng kinh cầu quốc thái dân,… Bên cạnh các nghi lễ truyền thống còn có nhiều hoạt động giải trí đặc sắc tại lễ hội như: các trò chơi dân gian; liên hoan hòa tấu nhạc ngũ âm; múa gà, múa khỉ cổ truyền; hội thi giọng hát hay, thi đấu bóng đá, bóng chuyền, bi sắt, kéo co, thả diều, vv…
Lễ hội Nghinh Ông Nam Hải: Lễ hội cầu ngư của cư dân vùng biển Trần Đề, diễn ra vào ngày 21/3 âm lịch hàng năm. Tương truyền, cá Ông là một vị thần luôn giúp ngư dân vượt qua những tai nạn trên biển khơi, khi con người đang bị nạn ngoài biển có lời khẩn cầu thì cá Ông sẽ đến cứu nạn và đưa vào bờ an toàn. Hiện nay Lăng Ông Kinh Ba đang lưu giữ hai bộ cốt của hai Cá Ông lớn, nhỏ. Lễ hội thể hiện ý nguyện và lòng thành kính của người đi biển đối với cá Ông, cầu mong cho người đi biển được bình an, mang lại mùa hải sản bội thu. Sau khi tiến hành những nghi lễ truyền thống, người ta sẽ diễu hành, múa lân rồi lên tàu ra biển cúng Ông. Trên tàu, người ta sẽ tiến hành các nghi thức cúng vái và xin keo. Khi xin keo thành công nghĩa là cá Ông đã chứng cho lòng thành của ngư dân, lúc đó, các tàu sẽ quay vào bờ để làm lễ hầu Ông về Lăng.

Vùng đất Cần Thơ mới còn có rất nhiều những sự kiện văn hóa, nghệ thuật, lễ hội như Các hoạt động văn hóa tại Đền thờ Vua Hùng, Lễ hội Thác Côn còn có tên gọi khác là lễ hội Cúng Dừa,… mang nhiều màu sắc văn hóa đáng để du khách cùng trải nghiệm khám phá.
VI. Cần Thơ những địa danh du lịch hấp dẫn
Bến Ninh Kiều: Bến Ninh Kiều là điểm du lịch Cần Thơ đã quá nổi tiếng với nhiều du khách. Nơi đây được xem như biểu tượng của thành phố Tây Đô. Tại đây bạn sẽ được hòa mình vào không gian sôi nổi, tấp nập của dòng người,… Ban ngày bạn có thể đi dạo dọc bờ sông Hậu, hít thở không khí trong lành và ngắm nhìn khung cảnh thuyền bè tấp nập. Về đêm, nơi đây “thay áo” với ánh đèn lung linh, rực rỡ. Đây là thời điểm tuyệt vời để bạn tản bộ, hàn huyên trên cầu đi bộ được thiết kế hình chữ S độc đáo, nối liền Bến Ninh Kiều với cồn Cái Khế. Tại đây, bạn có thể trải nghiệm du thuyền và một số tour du thuyền, thưởng thức đờn ca tài tử, dạo quanh Cần Thơ ở một góc nhìn khác, thả mình vào không gian sông nước mênh mang.

Chợ đêm Ninh Kiều – thiên đường mua sắm, ăn uống nổi tiếng Cần Thơ: Nằm đối diện công viên bến Ninh Kiều, chợ bắt đầu nhộn nhịp từ khoảng 18h đến 23h, nhộn nhịp nhất là tầm 19-21h. Chợ đêm Ninh Kiều là nơi mà bạn có thể tham quan, mua sắm những món đồ về làm quà sau chuyến đi du lịch Cần Thơ. Ngoài ra, có thể thưởng thức ẩm thực đường phố tại đây với nhiều các món ăn đặc trưng miền Tây Nam Bộ.
Khám phá nét văn hóa chợ nổi Cái Răng: Đã đặt chân đến nơi đây mà chưa đi chợ nổi là xem như chưa đến với thủ phủ của Tây Đô. Chợ nổi Cái Răng là chợ nổi chuyên trao đổi, mua bán nông sản, các loại trái cây, hàng hóa…Vì có hệ thống kênh rạch, sông ngòi chằng chịt nên người dân sử dụng ghe xuồng làm phương tiện chính cho việc đi lại. Vì thế, đây chính là một trong những “đặc sản” , là nét văn hóa cuốn hút khách tới tham quan vùng đất này. Đi chợ nổi Cái Răng, du khách có thể mua được các loại nông sản, trái cây, rau củ từ các miệt vườn. Các mặt hàng thủ công, nhu yếu phẩm cho đến dịch vụ đồ ăn như hủ tiếu, bánh canh, cà phê, bánh ngọt… Do tính chất là chợ nổi và mọi hoạt động đều diễn ra trên thuyền, trên sông nước nên mọi vật dụng đều được đơn giản hóa một cách tối đa. Mang lại một trải nghiệm cực kỳ thú vị cho chuyến đi. Thời điểm lý tưởng để đến đây là khoảng từ 5h-8h sáng, 5h là lúc các ghe thuyền bắt đầu tấp nập đổ về, từ 6-8h là lúc chợ hoạt động nhộn nhịp, thời điểm lý tưởng để bạn hòa mình vào không khí mua bán, khám phá và chụp ảnh.

Làng du lịch Mỹ Khánh: Làng du lịch Mỹ Khánh được xem như một đồng bằng sông Cửu Long thu nhỏ – đây là một điểm du lịch sinh thái nổi tiếng ở Cần Thơ. Ghé qua đây, bạn hãy thưởng thức trái cây đủ loại trong miệt vườn và các món ăn đặc sản, tham quan làng nghề truyền thống và nghe câu ca hát dân ca Nam Bộ. Đồng thời bạn đừng bỏ qua các trò chơi dân gian như leo cây, nhảy bao bố, đua heo,…
Lò hủ tiếu: Các lò hủ tiếu thường tập trung ở phường An Bình, du khách có thể lựa chọn di chuyển bằng xe hoặc bằng tàu thuyền. Đến đây, du khách sẽ được tham quan quy trình sản xuất truyền thống, tận tay trải nghiệm làm hủ tiếu cùng người dân. Đồng thời, thưởng thức hủ tiếu tươi ngon tại chỗ độc đáo, hủ tiếu hải sản hay hủ tiếu xương hầm,…

Các miệt vườn trái cây: Nổi tiếng với các miệt vườn trái cây ở phường An Bình, Bình Thủy, Phong Điền, Cồn Sơn, Cồn Mỹ Phước, Cù lao Dung,… Đến với các miệt vườn này du khách sẽ được tận hưởng một bầu không khí trong lành ở nơi thôn dã, dõi mắt ngắm những khu vườn trái cây rộng lớn râm mát, trĩu cành. Trái cây ở đây rất đa dạng và phong phú với nhiều chủng loại khác nhau, khách tham quan tha hồ thưởng thức các loại trái cây tươi ngon và giải trí bằng cách câu cá sấu, ngắm cá lóc bay, hái trái cây tại vườn, trải nghiệm làm bánh, tát mương bắt cá. Qua đó, hiểu thêm về cuộc sống và văn hóa miền Tây sẽ là những trải nghiệm rất thú vị.

Nhà cổ Bình Thủy: Nhà cổ Bình Thủy được xây dựng từ năm 1870 thuộc sở hữu của nhà họ Dương. Căn nhà cổ này là một trong số ít những căn nhà cổ còn nguyên vẹn cho đến ngày nay, có giá trị lớn trong việc hỗ trợ công tác nghiên cứu, tìm hiểu nền văn hóa, phong tục tập quán của người dân đồng bằng sông Cửu Long thời kì giao thoa giữa hai thế kỉ. Không gian ngôi nhà gồm 5 gian nhà trước, dùng làm nơi tiếp khách trong các dịp lễ trang trọng, được trang trí theo phong cách châu Âu; 5 gian nhà giữa, trong đó 3 gian giữa được bố trí làm nơi thờ tự theo truyền thống, 2 gian bìa dùng để ở; nhà sau được sử dụng làm nơi sinh hoạt chung, cùng với đó là các tiểu cảnh bên trong và bên ngoài.

Chùa Ông: Chùa Ông là một trong những ngôi chùa cổ ở Cần Thơ thể hiện nét văn hóa độc đáo của người Hoa. Vẻ đẹp của ngôi chùa vẫn còn trường tồn theo thời gian, trở thành điểm đến nổi tiếng của Cần Thơ. Đến đây, du khách vừa có dịp chiêm ngưỡng vẻ đẹp cổ kính, vừa có thể thành tâm cầu mong bình yên, hạnh phúc. Chùa nằm tại 32 đường Hai Bà Trưng, phường Ninh Kiều.

Đình Bình Thủy: Tại 46/11A Đường Lê Hồng Phong, Đình Bình Thủy (hay còn được biết đến với tên gọi Long Tuyền Cổ Miếu) là một trong những điểm đến tâm linh quen thuộc và là một Di tích Lịch sử Văn hóa Quốc gia. Ngôi đình được xây dựng lần đầu vào năm 1844 dưới thời vua Tự Đức được tu bổ, hoàn thiện vào năm 1909. Trải qua trên 180 năm lịch sử, ngôi đình là chứng tích sống động về đời sống văn hóa, tâm linh và tín ngưỡng của người dân vùng đất Cần Thơ từ những ngày đầu khẩn hoang mở đất.

Khám Lớn Cần Thơ: Xưa có tên gọi là “Prison Provinciale”, nằm tại phường Ninh Kiều, được thực dân Pháp xây dựng vào khoảng những năm 1876 – 1886. Từng là nhà tù lớn nhất miền Tây Nam Bộ, được ví như “địa ngục trần gian”. Ngày 28/6/1996, công trình này được công nhận là Di tích lịch sử cấp Quốc gia. Là điểm đến để tìm hiểu, tri ân và nhắc nhở thế hệ hôm nay về một giai đoạn lịch sử kiên cường.
Thiền viện Trúc Lâm Phương Nam: Thiền viện Trúc Lâm Phương Nam là ngôi chùa thuộc hệ phái Trúc Lâm Yên Tử. Hầu hết các hạng mục đều mang đậm lối phong cách kiến trúc thuần Việt thời Lý – Trần. Đây là một nét đặc trưng rất rõ trong kiến trúc xây dựng của các ngôi thiền viện ở Việt Nam. Và đây cũng là yếu tố quan trọng để bất kỳ ai khi nhìn vào cũng đều phân biệt được với phong cách kiến trúc của những ngôi chùa Khmer Nam Tông hoặc Bắc Tông tại miền Tây Nam Bộ.
Khu di tích lịch sử Giàn Gừa: Đây là căn cứ cách mạng thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ, Giàn Gừa từng là nơi hoạt động bí mật, nơi họp của Khu ủy Khu Tây Nam Bộ. Với không gian thiên nhiên rộng lớn, khu di tích có các cây gừa cổ thụ, nhánh gừa khổng lồ đan xen, tạo không gian “mê cung” xanh mát. Tại đây, còn có miếu thờ Bà Thượng Động Cố Hỉ, được người dân tôn kính như vị nữ thần bảo hộ vùng Giàn Gừa. Người dân duy trì nghi lễ tưởng nhớ bà vào ngày 28/2 âm lịch hằng năm.
Đền thờ Vua Hùng ở Cần Thơ: Góp mặt trong các điểm đến khi du lịch Cần Thơ là đền thờ Vua Hùng. Công trình được khánh thành vào năm 2025 tại phường Bình Thủy, trở thành điểm đến tâm linh thu hút người dân ở khu vực phía Nam. Đền thờ được thiết kế với 14 hạng mục. Khu vực đền thờ chính có kiến trúc độc đáo với hình tượng trống đồng ở trung tâm, khối hình vuông được đặt dưới khối tròn mang ý nghĩa trời đất vuông tròn. Đây là nơi thờ cúng và tưởng nhớ công ơn của các Vua Hùng, những người có công dựng nước. Công trình mang ý nghĩa về lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc và truyền thống “uống nước nhớ nguồn”.

Chợ đêm Vị Thanh: Địa chỉ ở đường 1/5, nơi tái hiện lại khung cảnh sống sôi động về đêm – chợ đêm Vị Thanh sẽ là điểm mua sắm vui chơi thú vị dành cho các du khách khi đến với vùng Hậu Giang. Nếu bạn đang tìm địa điểm ăn uống, mua sắm thì hãy thử đến với chợ đêm Vị Thanh để trải nghiệm nhé.
Khu căn cứ Tỉnh Ủy Cần Thơ: Trong kháng chiến chống Pháp, căn cứ Tỉnh Ủy Cần Thơ là cơ quan căn cứ cách mạng quan trọng của quân và dân ta. Nằm sâu trong rừng nên khó bị địch phát hiện được. Đến đây, bạn sẽ được tham quan, tìm hiểu những di tích, những câu chuyện lịch sử có ý nghĩa trong thời chiến.
Công viên Chiến Thắng – Di tích lịch sử Chiến thắng Chương Thiện: Di tích lịch sử Chiến thắng Chương Thiện (Địa điểm lưu niệm Chiến thắng 75 lượt tiểu đoàn địch của quân và dân Khu 9) phân bố tại 2 địa điểm phường Vị Tân và xã Vĩnh Viễn. Đến thời điểm này, đây là Di tích Quốc gia đặc biệt duy nhất tại TP Cần Thơ. Có nhiều hạng mục công trình để du khách có thể tham quan, chụp ảnh như: Nhà lưu niệm, sân lễ, quảng trường, khu trưng bày ngoài trời, ao sen,… và tượng đài tưởng niệm những người đã hy sinh vì độc lập dân tộc.

Chùa Som Rong (Wat Pothisomron): Là một ngôi chùa Khmer nổi bật với kiến trúc lộng lẫy và độc đáo, được mệnh danh là “Ngôi chùa có kiến trúc đẹp nhất Sóc Trăng”. Nổi bật nhất là tượng Phật Thích Ca nhập Niết bàn khổng lồ dài 63m, cao 22,5m, đặt trên cao, tạo nên một khung cảnh kỳ vĩ. Ngoài ra, chùa còn có bảo tháp bốn mặt với kiến trúc tinh xảo, là nơi lưu giữ xá lợi của các vị sư trụ trì và là một công trình kiến trúc độc đáo với bốn lối đi và nhiều họa tiết trang trí cầu kỳ. Chùa Som Rong là điểm đến lý tưởng cho du khách tìm hiểu về kiến trúc Phật giáo Khmer và chiêm bái các công trình tâm linh ấn tượng, cũng là một địa điểm check-in tuyệt đẹp cho du khách.

Chùa Chén Kiểu: Ngôi chùa nổi bật với kiến trúc được đính chén, dĩa sứ cổ, đồng thời còn lưu giữ nhiều món đồ cổ quý giá từng thuộc về công tử Bạc Liêu – một nhân vật nổi tiếng miền Nam xưa.

Chùa Đất Sét (Bửu Sơn Tự): Chùa được xây dựng từ đầu thế kỷ 20 bởi dòng họ Ngô với mục đích là tu hành tại gia. Không giống những ngôi chùa khác, Chùa Đất Sét được làm phần lớn từ đất sét, pha với bột nhang cùng với keo ô dước để không bị nứt nẻ, và toàn bộ đều được sơn phết tỉ mỉ bằng sơn và dầu bóng, tạo nên sự tinh tế và trang nghiêm cho ngôi chùa. Đặc biệt, trong chùa còn có 8 cây đèn cầy khổng lồ, mỗi cây nặng tới 200kg và cao 2.6m, được thắp liên tục trong nhiều thập kỷ, tượng trưng cho sự trường tồn của Phật pháp. Với thiết kế khác lạ, đây chắc chắn là một trong những ngôi chùa bạn nên đến thăm khi ghé Sóc Trăng.
Chùa La Hán: Khuôn viên yên ả với tượng các vị La Hán uy nghiêm là điểm dừng chân lý tưởng cho những tâm hồn đang tìm kiếm sự thanh thản. Hương khói nhang thoang thoảng, tiếng chuông chùa vang vọng xa xa, tất cả hòa quyện tạo nên không gian tĩnh lặng như rửa sạch muôn vàn phiền muộn trần gian. Đây là nơi để bạn ngồi thiền, suy ngẫm và tìm lại chính mình giữa cuộc sống hối hả.

Chùa Kh’leang: Một trong những ngôi chùa Khmer cổ nhất tại Sóc Trăng, được xây dựng vào thế kỷ 16. Ngôi chùa này mang đậm kiến trúc truyền thống của người Khmer với những mái cong, tháp nhọn và các họa tiết trang trí tinh xảo. Chùa Kh’leang không chỉ là nơi thờ cúng mà còn là trung tâm văn hóa, giáo dục của cộng đồng Khmer. Đến đây, du khách có thể tìm hiểu về lịch sử, kiến trúc và các nghi lễ Phật giáo của người Khmer. Đặc biệt, chùa còn lưu giữ nhiều bộ kinh cổ viết trên lá cọ, là kho tàng tri thức quý giá về Phật giáo Theravada. Khuôn viên chùa rộng lớn, rợp bóng cây xanh, tạo cảm giác thanh tịnh và bình yên.
Bảo tàng Khmer Sóc Trăng: Để hiểu rõ hơn về văn hóa và lịch sử của người Khmer tại Sóc Trăng, Bảo tàng Khmer là một điểm đến không thể bỏ qua. Bảo tàng Khmer được xây dựng từ năm 1938, có gần 13.000 sản vật văn hóa quý, trong đó hơn nửa là sản vật văn hóa do đồng bào Khmer sinh sống trong khu vực hiến tặng phản ánh đời sống, tín ngưỡng và nghệ thuật của người Khmer qua các thời kỳ. Đây là nơi lý tưởng để du khách có cái nhìn toàn diện về bản sắc văn hóa độc đáo của dân tộc Khmer, đồng thời hiểu hơn về quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng này tại Sóc Trăng. Hằng năm, bảo tàng thu hút hơn 200.000 lượt du khách trong và ngoài nước ghé thăm và tìm hiểu nét đẹp văn hóa lịch sử của ba dân tộc Kinh, Hoa, Khmer cùng truyền thống yêu nước chống ngoại xâm.

Chùa Phật Học 2: Còn gọi là chùa Quan Âm Linh Ứng, nằm ngay trung tâm Sóc Trăng, nơi đây nổi bật với các bức tượng Phật A Di Đà, Phật Nằm, và Thích Ca Phật Đài hoành tráng. Không gian chùa thanh tịnh rất thích hợp để tìm lại sự yên bình trong tâm hồn.
Chùa Dơi: Chùa Dơi, hay còn gọi là Chùa Mã Tốc (Wat Mahatup), là một trong những công trình kiến trúc tiêu biểu và cổ kính nhất của đồng bào Khmer tại Sóc Trăng, với lịch sử hơn 400 năm tuổi. Ngôi chùa này nổi tiếng không chỉ bởi kiến trúc Angkor độc đáo, những mái ngói cong vút, những bức tượng Phật tinh xảo mà còn bởi hàng vạn con dơi trú ngụ trên những cây cổ thụ trong khuôn viên chùa. Ngôi chùa này không chỉ là một di tích lịch sử – văn hóa mà còn là một trung tâm tâm linh quan trọng, nơi diễn ra nhiều nghi lễ Phật giáo truyền thống của người Khmer.

Chùa Pem Buôl: Được xây dựng từ năm 1963, mang trong mình nét đẹp văn hóa Khmer Sóc Trăng, chùa Pem Buôl là nơi sinh hoạt tôn giáo, các hoạt động lễ hội của đồng bào Khmer trong khu vực. Kiến trúc nơi đây vô cùng tinh xảo, cổ kính với mọi chi tiết trong ngôi chùa đều được chạm khắc vô cùng tỉ mỉ.
Ngoài ra còn khá nhiều địa điểm du lịch đẹp và kỳ bí khác nữa tại Cần Thơ mà du khách nên đến để chiêm ngưỡng và khám phá như Bảo tàng TP Cần thơ, Hẻm 51 – phố ẩm thực sầm uất, Biển nhân tạo Mini Beach, Khu du lịch sinh thái Ông Đề, Vườn cò Bằng Lăng, Căn Nhà Màu Tím, Căn nhà dát vàng, Làng hoa Bà Bộ, Chùa khmer Munir Ansay, Chùa Phật học, vườn cây Chín Hồng, Di tích căn cứ Vườn Mận, Khu tưởng niệm thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa; khu bảo tồn thiên nhiên Lung Ngọc Hoàng, Vườn tre Tư Sang, công viên Kittyd & Minnied, Chợ Vị Thanh, Chợ nổi ngã bảy, Đền thờ Bác Hồ, khu du lịch Mùa Xuân, rừng tràm Vị THủy, Công viên ánh sáng kỳ quan thế giới; Chợ nổi Ngã Năm, Chùa La Hán, Thiền viện trúc lâm Sóc Trăng, Chùa Bốn Mặt, Chùa Ông Bổn, Chùa Vĩnh Hưng, Vườn cò Tân Long, Khu du lịch sinh thái Hồ Bể,…
VII. Ẩm thực Cần Thơ
Ẩm thực Cần Thơ không chỉ mang đậm dấu ấn sông nước miền Tây với hương vị dân dã, tươi mát, ngọt ngào mà còn là bức tranh giao thoa văn hóa đặc sắc giữa ba dân tộc Kinh, Hoa và Khmer Các đặc sản trứ danh trải dài từ lẩu mắm đậm đà, hải sản hay cá đồng tươi sống kết hợp với rau củ tự nhiên, nem nướng thơm lừng, vịt nấu chao béo ngậy cho đến loạt thức quà vặt trứ danh vùng đất này mang đến những trải nghiệm hương vị khó quên. Dưới đây là những món ẩm thực đặc trưng vùng đất Cần Thơ các bạn cùng tham khảo:
Nem nướng Cái Răng: Với nguyên liệu chính là thịt heo xay nhuyễn, được ướp theo công thức đặc biệt và viên thành những que dài nướng trên than hồng, khiến món ăn dậy mùi nức mũi. Nem nướng thường được ăn chung với bún tươi và các loại rau sống, chua ngọt, cùng với nước chấm tương ớt tỏi hoà quyện tạo thành một đặc sản nổi danh, góp phần thêm phong phú nền ẩm thực vùng Cái Răng.

Bánh Cống: Một món ăn vô cùng quen thuộc và dân dã đối với người dân nơi đây. Bánh Cống với đặc trưng màu vàng ươm bắt mắt, bạn sẽ cảm nhận được sự giòn rụm đầu tiên, với hương vị hòa quyện giữa bột đậu xanh thơm lừng, béo ngậy, nhân bánh là thịt mềm và vị tôm tươi ngọt. Kèm theo đó là rau xanh tươi mát và không thể bỏ qua nước chấm chua ngọt hoặc mắm nêm đậm đà, sẽ khiến bạn khó dừng lại và nhớ mãi hương vị đặc biệt này.

Lẩu vịt nấu chao: Nếu yêu thích món lẩu thì chắc hẳn bạn không nên bỏ qua món lẩu vịt nấu chao trứ danh, làm nên thương hiệu đặc sản Ninh Kiều được nhiều người ưa thích. Để nấu món lẩu này sẽ dùng thịt vịt xiêm đem ướp với chao ngon và các gia vị rồi dùng để nấu lẩu. Khi ăn sẽ cho thêm nấm rơm, huyết, khoai môn, và ăn kèm với bún, mì, đậu hũ, rau sống sẽ khiến bạn mê mẩn ngay từ lần đầu thưởng thức. Đã đến với vùng miền Tây sông nước, bạn nên chớ bỏ qua món lẩu vịt nấu chao đã lọt top 100 món ăn, đặc sản tiêu biểu do Tổ chức Kỷ lục Việt Nam công nhận này.
Bánh xèo: Bánh xèo là món ăn đậm vị miền Tây với phần vỏ bánh vàng ươm, giòn rụm, nhân bánh đầy đặn với đa dạng cách chế biến như thịt, tôm, mực, nấm, giá, củ hủ dừa, sắn cắt sợi xào chung với thịt, bông điên điển…tùy mỗi loại lại cho ra một hương vị riêng hòa quyện cùng vị ngọt của tôm, hương thơm của rau sống, giá, dưa chua cùng nước mắm tỏi ớt chua ngọt sẽ mang lại ấn tượng khó phai về món bánh này.

Cá lóc nướng trui: Cá lóc nướng là một món ăn được nhiều người yêu thích khi đến miền Tây. Cá lóc ngọt thịt, nướng lên thơm lừng, bạn có thể ăn cá với các loại rau như lục bình, đọt dừa chấm với nước mắm me. Đây sẽ là một trải nghiệm khó quên.
Lẩu mắm: Lẩu mắm Cần Thơ là món ăn đậm đà, đặc trưng của vùng sông nước. Nước dùng được nấu từ mắm cá sặc hoặc mắm cá linh, kết hợp với thịt, cá, tôm, mực và các loại rau như bông điên điển, rau muống, bắp chuối. Hương vị mắm thơm nồng, cay nhẹ, ăn kèm bún tươi khiến món lẩu trở thành lựa chọn tuyệt vời cho bữa ăn gia đình.
Lẩu Mắm.
Gà um dâu Hạ Châu: Gà um dâu Hạ Châu là một trong những món ăn bổ dưỡng và độc đáo của người dân Cần Thơ. Món ăn này được chế biến từ gà ta săn chắc và dai thịt, gà được làm sạch và chiên với tỏi đến khi ngả vàng. Dâu Hạ Châu được chọn một cách kỹ lưỡng, những quả to, chín vừa để làm mứt dâu.
Lẩu bần: Lẩu bần là món lẩu đặc sản, quen thuộc với nhiều người con tại vùng đất Cần Thơ. Gọi là lẩu bần vì món ăn này được chế biến từ những trái bần chín, tạo vị chua ngọt thanh cho nước lẩu, cùng hương thơm đặc trưng khó quên. Khi ăn sẽ cho cá tươi, rau đồng vào và ăn kèm với bún, mì đều rất hấp dẫn.
Lẩu bần đậm đà hương vị đồng quê
Ốc nướng tiêu xanh: Nếu bạn là người yêu thích ăn ốc thì không thể bỏ qua những hàng quán bán ốc nổi tiếng tại Cần Thơ. Ốc được chọn lựa kĩ càng, sơ chế sạch sẽ thì đem đi luộc sơ, sau đó đem đi nướng trên bếp than hồng, vừa nướng vừa tẩm gia vị có hạt tiêu xanh rất thơm và hấp dẫn. Thịt ốc nướng tiêu xanh vẫn giữ được độ giòn, ngọt lại thấm gia vị cay cay rất cuốn hút.
Bánh tằm bì: Nằm trong những món ăn đặc sản mà bạn không nên bỏ lỡ đó là món bánh tằm bì lạ miệng. Sợi bánh tằm trắng to to, nóng hổi ăn kèm bì heo trộn với thính gạo, tỏi băm, tỏi phi và khi ăn chan thêm nước mắm, nước cốt dừa sẽ khiến món ăn thêm lạ miệng, cuốn hút.
Bánh Tằm Bì
Cu đất nướng mọi: Cu đất nướng mọi là một trong những top đặc sản của người dân Cần Thơ. Cu đất được làm sạch, tẩm ướp đơn giản rồi mang đi nướng. Món ăn này chấm cùng với muối tiêu chanh hay muối ớt là đúng điệu. Ngoài ra, nhâm nhi món ăn này cùng một ly rượu trắng hay một lon bia là đúng bài.
Ba khía rang me: Ba khía giòn tan cùng vị chua chua của nước sốt me rất lôi cuốn khi thưởng thức. Ba khía rang me thường ăn kèm cùng dĩa rau răm, dưa leo cắt nhỏ rồi nhâm nhi một ly bia là chuẩn vị.
Ba khía rang me.
Bún tôm khô: Bún tôm khô với nguyên liệu chính là tôm khô, một chút huyết, một ít thịt bò, chả giò, chả cua và rắc thêm một chút tóp mỡ. Món ăn này thường đệm vị cùng với một ít nước mắm ruốc sẽ rất ngon và cuốn khi ăn
Bánh hỏi heo quay: Bánh hỏi mềm mềm được làm từ bột gạo, sợi nhỏ, phủ lên một lớp mỡ hành thơm ngon, ăn cùng với thịt heo quay thơm lừng, kèm với đó là rau thơm và nước mắm tỏi ớt chính là món ăn cực kỳ đáng thử khi ghé Cần Thơ.
Bánh hỏi heo quay
Chuối nếp nướng: Một món ăn chơi nức tiếng vùng Cần Thơ, chuối được bọc lại bởi một lớp nếp dẻo, khi được nướng lên lớp vỏ giòn dai, bên trong bùi và thơm, rắc thêm một ít mè và đậu phộng, với vị thơm quyến rũ của chuối nếp khi được nướng trên bếp than hồng, hoà quyện với nước cốt dừa béo ngậy,… Một lần thử, chắc hẳn bạn sẽ ấn tượng với món ngon Cần Thơ này.
Món chuối nếp nướng
Pizza hủ tiếu: Hủ tiếu là một món ăn đặc sản Cần Thơ và nổi tiếng khắp miền Tây, còn pizza hủ tiếu, cái tên khá tây nhưng thật ra pizza hủ tiếu với cái tên thuần Việt là hủ tiếu chiên giòn. Sợi hủ tiếu sẽ được chiên giòn phủ lên là lớp trứng, thịt, nước cốt dừa, đậu phộng, hành phi,…tạo nên một màu vàng đẹp mắt, hủ tiếu giòn tan trong miệng và có vị ngọt béo của trứng, nước dừa, vị thơm của hành và đậu phộng tạo nên một món ăn thật khác biệt.
Pizza hủ tiếu
Bánh đúc mặn: Một trong những món ăn xế cực kỳ thơm ngon mà bạn nên thử khi ghé qua Cần Thơ chính là món bánh đúc mặn. Miếng bánh đúc núng nính, phủ lên một ít thịt bằm, tôm nhỏ cùng các gia vị như tiêu, hành, ăn kèm với rau thơm và nước mắm tỏi ớt đậm đà.
Vùng Hậu Giang
Cá thát lát chiên xù: Cá thát lát chiên xù là món ăn đặc trưng, được chế biến từ cá thát lát tươi ngon, đánh bắt từ sông ngòi miền Tây. Cá được làm sạch, chiên vàng giòn, tạo lớp vỏ ngoài giòn rụm, bên trong giữ được vị ngọt mềm của thịt cá. Món này thường ăn kèm rau sống, bánh tráng và chấm nước mắm ớt, mang lại trải nghiệm ẩm thực dân dã, đậm chất sông nước.
Cá thát lát chiên xù
Lẩu cá ngát: Với hương vị lẩu đậm đà thơm lừng cùng với vị béo của cá ngát ăn kèm chung với những loại rau sống đặc trưng miền tây sông nước. Món lẩu cá ngát là lựa chọn hàng đầu đối với những người có kinh nghiệm du lịch Hậu Giang. Vào những ngày gió bấc, ngồi quanh nồi lẩu thơm lừng, bốc khói nghi ngút, ngắm cảnh quê thì còn gì tuyệt vời!
Ốc len xào dừa: Món ốc len này được chế biến từ loại ốc len sống ở những cánh rừng ngập mặn hay ven các bồi bãi ở Hậu Giang. Khi chế biến với nước cốt dừa làm món ốc len thêm đậm đà, ngọt béo và đậm hương vị dân dã làm cho thực khách phải mê mẩn.
Đọt Choại: Rau đọt choại là một loại rau sạch, mọc tự nhiên, không hề sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu nên rất an toàn. Vì thế được ưa chuộng và chế biến thành rất nhiều món rất đa dạng không thể thiếu trong ẩm thực vùng Hậu Giang. Đọt choại có thể chế biến thành nhiều món nhưng ngon nhất là đọt choại xào.
Cháo lòng Cái Tắc: Gạo được dùng để nấu cháo lòng Cái Tắc phải là gạo đã cũ. Lòng lợn cũng được lựa chọn hết sức cẩn thận. Khi ăn không thể thiếu được một số loại rau thơm đặc trưng như húng chó, giá đỗ, hoa chuối. Mặc dù là món ăn dân dã nhưng hương vị độc đáo mà những ai một lần thử qua đều rất ấn tượng.
Gỏi sầu đâu: Gỏi sầu đâu là món ăn dân dã, sử dụng lá sầu đâu non kết hợp với tôm, thịt, hoặc cá khô, trộn cùng nước mắm chua ngọt. Lá sầu đâu có vị đắng nhẹ, hòa quyện với vị ngọt của tôm, thịt, tạo nên món gỏi độc đáo. Đây là món ăn phổ biến trong các bữa cơm gia đình miền Tây, mang đậm hương vị Hậu Giang.
Bún gỏi dà: Với nguyên liệu chính cho món ăn này là mắm cá linh nấu chung với me mới cho ra vị chua chua ngọt ngọt và điều đặc biệt là bún gỏi dà phải ăn chung với tép thì mới thưởng thức trọn vẹn hương vị của tô bún. Bên cạnh đó, có thể ăn ghém cùng với rau muống và bông chuối bào. Tất cả hòa quyện lại với nhau hài hòa để tạo nên một món ăn dân dã nhưng lại thơm ngon vô cùng.
Đặc sản bún gỏi dà
Vùng Sóc Trăng
Hủ tiếu cà ri Vĩnh Châu: Không như các loại hủ tiếu khác, hủ tiếu cà ri Vĩnh Châu có nguyên liệu chính là thịt vịt xiêm nên hương vị và mùi hương không thể nhầm lẫn. Thêm sợi hủ tiếu dai mềm, nước dùng béo béo nhờ nước cốt dừa, ăn cùng muối tiêu chanh hấp dẫn làm bạn chẳng thể nào quên được.
Bún nước lèo: Nếu các loại bún nước lèo của miền Tây thường được chế biến từ mắm cá linh, mắm cá sặc… thì bún nước lèo Sóc Trăng được chế biến từ mắm bò hóc, một loại mắm đặc biệt của người của người Khmer, là loại mắm khá đặc trưng về mùi vị, màu sắc. Và để bật lên hương vị chuẩn của món ăn thì không thể thiếu ngãi bún, một loại gia vị có nguồn gốc từ Campuchia. Chính ngãi bún tạo ra một thứ hương vị “bí ẩn” khiến nồi nước lèo có mùi vị đặc trưng không lẫn vào đâu được. Không chỉ vậy, tô bún nước lèo Sóc Trăng còn “quyến rũ” với miếng cá lóc luộc trắng phau, mực tươi xắt con chì, tôm tươi lột vỏ, thịt heo quay cắt thành từng miếng. Đi cùng món ăn là đĩa rau đa dạng về màu sắc, hương vị, chanh, ớt và chén muối ớt thơm đậm.
Cháo cá lóc rau đắng: Thêm một món ăn nữa bạn nên ăn thử khi có hội đến vùng Sóc Trăng, Cần Thơ du lịch chính là món cháo cá lóc rau đắng. Cháo được làm từ các nguyên liệu khá gần gũi và dân dã, nhưng khi kết hợp với nhau tạo nên món ăn hấp dẫn.
Bún vịt nấu tiêu: Khi đến du lịch Sóc Trăng, bạn có thể thử bún vịt nấu tiêu. Đây là một món ăn do người Hoa đem vào Việt Nam, người Sóc Trăng đã dung hòa lại các gia vị trong món bún vịt để phù hợp hơn với khẩu vị người Việt mà vẫn giữ được hương vị đặc trưng của món ăn.
Xá bấu Vĩnh Châu: Món ăn này có nguồn gốc từ người Hoa (người Tiều/Triều Châu), được những người Hoa di cư mang theo và truyền lại cho người dân Vĩnh Châu, từ đó trở thành món ăn truyền thống đặc trưng của vùng đất này. Xá bấu được làm từ những củ cải trắng, đem cắt thành miếng vừa ăn, phơi nắng và đem trộn với đường ủ vài ngày là có thể dùng. Đây được xem là món yêu thích của người dân nơi đây vì độ dễ ăn và dễ làm.
Bánh pía: Bánh Pía Sóc Trăng có nguồn gốc từ bánh trung thu của người Triều Châu, do những người Minh Hương di cư sang Việt Nam mang theo từ thế kỷ 16, 17. Tại Việt Nam, chiếc bánh này được bản địa hóa và trở thành đặc sản nổi tiếng nhất của Sóc Trăng. Bánh pía có lớp vỏ mỏng nhiều tầng được cán tỉ mỉ, phần nhân đậu xanh và sầu riêng thơm ngọt cùng vị béo của trứng muối. Hiện nay, bánh pía còn được biến tấu với nhiều loại nhân mặn ngọt đa dạng. Đây sẽ là món quà thơm ngon đầy ý nghĩa dành cho bạn bè, người thân mà bạn có thể chọn mua về.
Bánh in: Bánh in, còn được gọi là bánh trăng, thường được sử dụng cúng vào rằm tháng Tám và vào lễ hội Ooc-Om-Boc của người Khmer. Trong các loại bánh đặc sản Sóc Trăng, bánh in là loại bánh đơn giản nhưng để lại nhiều ấn tượng với độ mềm dẻo và vẻ ngoài cuốn hút của vỏ bánh, kết hợp vị thơm béo từ nhân đậu xanh và nước cốt dừa. Du khách cũng có thể chọn mua bánh in với nhiều nhân được biến tấu như vị dừa, đậu phộng để mang về thưởng thức hoặc tặng cho bạn bè.
Bánh in Cổ Cò được nhiều tín đồ du lịch yêu thích.
Cốm dẹp: Cốm dẹp đã không còn quá xa lạ đối với người dân miền Tây đặc biệt là Sóc Trăng. Lúa được dùng làm cốm dẹp phải là hạt lúa dài, thơm và dẻo. Sau đó đem đi rang cho đều lửa và giã cho đến khi vừa ăn. Bỏ hết cốm ra nia sàng sạch trấu, cám cho cốm được ngon và để cốm ráo tơi ra. Nhưng muốn ăn ngon hơn người ta phải trộn cốm dẹp với dừa rám nạo, ít nước dừa và đường cát trắng.
Cốm dẹp không chỉ là một đặc sản nổi tiếng, còn là biểu tượng văn hóa đặc trưng của đồng bào dân tộc Khmer.
Bánh ú mặn: Nguyên liệu làm bánh gồm nếp, đậu phộng, nước cốt dừa, tôm khô, thịt heo, nấm đông cô, lạp xưởng và đặc biệt là lòng đỏ trứng vịt muối. Bánh thường được gói bằng lá chuối, dạng hình tam giác cân và buộc bằng dây.
Mè láo: Mè láo được làm từ khoai môn bào mỏng rồi đem phơi nắng khoảng 3 ngày. Khi ăn người ta cắt miếng khoai môn miếng hình chữ nhật rồi đem trộn với nước đường đã thắng thành kẹo, sau đó lăn qua vừng rang chín.
Mè Láo
Bánh phồng tôm: Với thành phần nguyên liệu chính gồm bột mì, thịt tôm hoặc tép được xay nhuyễn với một ít hạt tiêu giã nhỏ. Các nguyên liệu trên sau khi trộn với nhau sẽ được nhồi vào những chiếc túi vải dạng hình ống dài. Sau khi hấp chín, người ta cắt ra từng lát hình chữ nhật hay tròn rồi đem phơi khô. Khi ăn, phải chiên bánh với dầu sôi, bánh sẽ nở to ra.
Những món đặc sản khác như: Cơm cháy kho quẹt; Sỏi mầm; Chả cá thát lát; Bê thui Sóc Trăng; Bò nướng ngói; Lạp xưởng Vũng Thơm; Hủ tiếu xương,…
Đặc sản Cần Thơ mua về làm quà còn có Bánh tét lá cẩm; Rượu mận Sáu Tia; Bánh tráng Thuận Hưng; Khô nhái; Khô cá lóc; Khô rắn; Ca cao Mười Cương; Dâu Hạ Châu; Vú sữa Phong Điền; Nhãn Ido; Mận An Phước; Măng cụt, Mứt dừa, Khóm Cầu Đúc, Quýt đường Long Trị, Cam sành Ngã Bảy, Cam Xoàn Phụng Hiệp, Bưởi năm roi Phú Hữu; Bưởi năm roi Kế Thành, Bánh gừng, Bánh ống, Khô trâu Thạnh Trị, Vú sữa tím Đại Tâm, Hành tím Vĩnh Châu,…
Cần Thơ vùng đất gạo trắng nước trong, là thủ phủ của miền Tây, tại đây bạn sẽ được thấy một Cần Thơ đang vươn mình thành một thành phố lớn, nhưng vẫn giữ được nét bình yên, dân dã và đặc trưng vùng sông nước. Hãy một lần đến thưởng ngoạn phong cảnh nơi đây, ăn những món ngon đặc sản Cần Thơ và nghe vài câu đờn ca tài tử trên sông, để cảm nhận được vẻ đẹp của dải đất miền Nam được mẹ phù sa bao bọc này.
khamphavietnam.com.vn Tổng Hợp
