ĐÔNG QUẢNG NGÃI – VÙNG DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ
Vùng Đông Quảng Ngãi, một phần duyên hải Nam Trung Bộ – Việt Nam, nổi tiếng với nhiều cảnh đẹp thiên nhiên và các địa danh lịch sử, văn hóa hấp dẫn. Nơi đây không chỉ nổi tiếng với những danh lam thắng cảnh chiều lòng người mà còn đẹp bởi những người con xứ Trung đầy tình cảm. Hãy ghé thăm Quảng Ngãi để cảm nhận rõ cái “Tình” trong cả cảnh vật lẫn lòng người.
Giới thiệu về vùng đất phía Đông Quảng Ngãi
Tỉnh Quảng Ngãi mới được thành lập theo Nghị quyết số 202/2025/QH15. Theo đó, toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của hai tỉnh Kon Tum và Quảng Ngãi cũ được hợp nhất thành một đơn vị hành chính mới, mang tên tỉnh Quảng Ngãi. Bộ máy chính quyền địa phương chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01 tháng 7 năm 2025. Sau sáp nhập, tỉnh có diện tích tự nhiên 14.832,55 km², dân số 2.161.755 người. Thành phần dân cư đa dạng với hơn 40 dân tộc anh em cùng sinh sống. Người Kinh chiếm tỷ lệ lớn và tập trung chủ yếu tại các vùng đô thị, đồng bằng, ven biển. Các dân tộc thiểu số như H’rê, Co, Ca Dong, Xơ Đăng, Ba Na, Giẻ Triêng, Brâu, Rơ Măm… sinh sống tập trung ở vùng cao nguyên và trung du phía Tây. Cơ cấu dân tộc đa dạng tạo nên bản sắc văn hóa phong phú, đồng thời đặt ra yêu cầu về chính sách phát triển phù hợp với từng nhóm dân cư, từng khu vực đặc thù.

I. Tỉnh Quảng Ngãi Ở Đâu
Vị trí địa lý Quảng Ngãi là một tỉnh ven biển nằm ở phía bắc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, miền Trung Việt Nam. Trung tâm hành chính của tỉnh là phường Cẩm Thành, cách Thành phố Hồ Chí Minh 820km về phía bắc, cách thành phố Đà Nẵng 130km về phía nam và cách Thủ đô Hà Nội 883km về phía nam tính theo đường Quốc lộ 1A. Quảng Ngãi hội tụ cả đường biên giới quốc tế và đường bờ biển dài. Cụ thể: Phía Bắc giáp thành phố Đà Nẵng; Phía Nam giáp tỉnh Gia Lai; Phía Đông giáp Biển Đông; Phía Tây giáp nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và Vương quốc Campuchia. Với địa bàn trải dài từ vùng duyên hải miền Trung đến cao nguyên Tây Nguyên, tỉnh Quảng Ngãi giữ vai trò cầu nối quan trọng giữa các tỉnh ven biển và khu vực nội địa, đồng thời kết nối Việt Nam với các quốc gia trong Tiểu vùng sông Mê Kông. Đường biên giới quốc gia dài khoảng 142km là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, du lịch cửa khẩu, thúc đẩy hợp tác quốc tế.

Tỉnh còn nằm trên các trục giao thông huyết mạch của cả nước như Quốc lộ 1A, đường sắt Bắc – Nam, đường Hồ Chí Minh, Quốc lộ 24, Quốc lộ 40B, cao tốc Bắc – Nam và hành lang kinh tế Đông – Tây, thuận lợi cho giao thương nội địa và quốc tế, đặc biệt thông qua cảng biển nước sâu Dung Quất và cửa khẩu quốc tế Bờ Y.
Địa hình Tỉnh Quảng Ngãi mới, có địa hình phức tạp, được chia thành 3 vùng đặc trưng:
Vùng ven biển và đồng bằng phía Đông: Kéo dài từ vùng Bình Sơn đến phường Sa Huỳnh, gồm các dải đồng bằng hẹp và thấp dần ra biển. Khu vực này thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, công nghiệp và dịch vụ, nổi bật là Khu kinh tế Dung Quất – trung tâm công nghiệp trọng điểm quốc gia.
Vùng trung du và miền núi phía Tây Nam: Địa hình đồi núi thấp và trung bình, độ cao từ 200–800m, giàu tài nguyên rừng và khoáng sản. Đây là vùng tiềm năng phát triển nông – lâm nghiệp, kinh tế rừng và thủy điện nhỏ.
Vùng cao nguyên phía Tây Bắc: Có địa hình cao trung bình từ 800–2.500m, gồm các dãy núi lớn như Ngọc Linh 2.598m, Ngọc Krinh, Ngọc Pan… Địa chất chủ yếu là đất đỏ bazan, phù hợp với cây công nghiệp dài ngày như cà phê, cao su, hồ tiêu, và phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng.
Sự phân hóa địa hình theo hướng Tây Bắc – Đông Nam tạo điều kiện hình thành các tiểu vùng sinh thái rõ nét. Ở bài này Khám Phá Việt Nam xin được giới thiệu khám phá riêng về vùng đất Quảng Ngãi trước sáp nhập – Vùng đất phía Đông của Quảng Ngãi ngày nay.
II. Vùng đất Đông Quảng Ngãi (Quảng Ngãi cũ)
Đông Quảng Ngãi là một vùng đất nằm ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ của Việt Nam, có diện tích 5.155km2, trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung. Thủ phủ của tỉnh Quảng Ngãi mới nằm ở vùng này. Đông Quảng Ngãi là mảnh đất có bề dày lịch sử về Văn hóa Sa Huỳnh và Văn hóa Chăm Pa, được xem là cái nôi của nền văn hóa Sa Huỳnh, với 26 di tích được khai quật, đặc biệt là hệ thống thành lũy Chàm. Có nhiều di tích lịch sử – văn hóa và danh lam thắng cảnh đẹp. Sở hữu nhiều Lễ hội truyền thống nổi tiếng như Lễ hội nghinh cá Ông, Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa (Lý Sơn),… Đông Quảng Ngãi có nhiều tiềm năng phát triển du lịch.

Vị trí địa lý, vùng Đông Quảng Ngãi liền với vùng Tây Quảng Ngãi (tỉnh Kon Tum cũ) bởi dãy Trường Sơn. phía Bắc giáp TP. Đà Nẵng; phía Nam giáp phía Đông tỉnh Gia Lai (Bình Định cũ); phía Đông giáp Biển Đông. Đông Quảng Ngãi có đường bờ biển dài khoảng 130km, với nhiều bãi biển đẹp và hệ thống đảo, đặc biệt là đặc khu đảo Lý Sơn.
Đông Quảng Ngãi có Quốc lộ 1A và đường sắt Bắc – Nam; có cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi; có Quốc lộ 24 nối liền Quốc lộ 1A Đông Quảng Ngãi với Tây Quảng Ngãi (Kon Tum cũ), đây là tuyến giao thông quan trọng nối Đông – Tây Quảng Ngãi trong phát triển kinh tế, hội nhập văn hoá giữa Duyên Hải và Tây Nguyên, cung cấp trao đổi hàng hoá, phát triển kinh tế miền núi gắn với an ninh quốc phòng.
Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, vùng Đông Quảng Ngãi được Chính phủ chọn để xây dựng Nhà máy lọc dầu (Dung Quất) đầu tiên của Việt Nam. Có cảng Dung Quất là cảng biển tổng hợp Quốc gia có độ sâu và kín gió lý tưởng, tổng sản lượng hàng hóa xếp dỡ lớn, có khả năng xếp dỡ hàng lỏng (lọc hóa dầu) và hàng rời,… Ngoài ra, với đường bờ biển dài, Đông Quảng Ngãi có nhiều cửa biển, cảng quy mô nhỏ như Sa Kỳ, Sa Cần, Cửa Đại, Mỹ Á, Sa Huỳnh, Bến Đình (Lý Sơn)… có tiềm năng về giao thông đường thủy, thương mại và du lịch.
III. Khí hậu vùng Đông Quảng Ngãi
Đông Quảng Ngãi có địa hình tương đối phức tạp, có xu hướng thấp dần từ tây sang đông với các dạng địa hình đồi núi, đồng bằng ven biển, phía tây là sườn Đông của dãy Trường Sơn, tiếp đến là địa hình núi thấp và đồi xen kẽ đồng bằng, có nơi núi chạy sát biển. Khí hậu ở Đông Quảng Ngãi là khí hậu nhiệt đới gió mùa, nên nhiệt độ cao và ít biến động. Được chia thành 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mỗi mùa sẽ mang lại những nét đặc trưng riêng của thời tiết.
Khí hậu Đông Quảng Ngãi vào mùa mưa Khí hậu mùa mưa ở vùng Đông Quảng Ngãi bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 3 của năm sau. Đây là thời điểm của sự hoạt động mạnh mẽ của gió mùa Đông Bắc và tín phong Đông Bắc. Nằm trong vùng duyên hải miền Trung, có bờ biển dài 130km, hằng năm Đông Quảng Ngãi phải hứng chịu nhiều loại hình thiên tai khốc liệt như Bão, dông, lốc, lũ, hạn hán và ngập úng… Gió mùa Đông Bắc mang theo không khí lạnh làm cho nhiệt độ trong mùa mưa giảm sâu, thấp nhất có thể chạm xuống 10 – 13oC. Vào mùa Đông, gió mùa Đông Bắc sẽ qua biển và mang theo hơi ẩm, kết hợp hoạt động của các nhiễu động thời tiết trên biển Đông như bão. Vì vậy, mưa gió lớn thường chỉ tập trung nhiều nhất vào các tháng 9, 10, 11, 12 còn các tháng khác thì khô hạn.
Khí hậu Đông Quảng Ngãi vào mùa khô Hay còn được gọi là khí hậu Đông Quảng Ngãi vào mùa nắng từ tháng 3 đến tháng 8. Thời tiết vào mùa này nắng, nóng và tạnh ráo, nhiệt độ trung bình vào mùa khô dao động từ 25 – 27 0C. Vào mùa hè, từ tháng 4 – tháng 8 thời tiết nắng nhiều, cảnh vật cây cối xanh tươi. Đây là thời điểm lý tưởng để bạn và gia đình có những chuyến đi du lịch khám phá vùng đất miền Trung đầy nắng và gió.

Thời tiết Quảng Ngãi cũng có sự phân chia ở 4 mùa xuân – hạ – thu – đông
Khí hậu Quảng Ngãi được chia thành 2 mùa nhưng bạn hoàn toàn có thể theo dõi thời tiết Quảng Ngãi qua 4 tiết trời dưới đây để chủ động hơn trong những chuyến du lịch.
Vào Tiết xuân: Tháng Giêng đến tháng 3 âm lịch (vào khoảng tháng 2 đến tháng 4). khí hậu Quảng Ngãi lúc này thường mát mẻ, hoa lá xanh tươi, thỉnh thoảng có mưa phùn nhưng không mang hơi lạnh như sương mù cao nguyên.
Tiết hạ: Tháng 4 đến cuối tháng 6 âm lịch (từ tháng 5 – 8), nắng gắt có những trận mưa dông lớn. Thông thường thì sau những cơn mưa dông khí hậu sẽ mát mẻ, dễ chịu hơn rất nhiều.
Tới Tiết thu: Tháng 7 đến cuối tháng 9 âm lịch (từ tháng 8 – 10), mát mẻ. Với tiết trời thu thường xuất hiện mưa vào buổi chiều tối. Mực nước sông thường dâng cao gây nên lụt lớn, nhưng đôi khi mưa nắng tiết hè kéo dài đến tháng 9 và nhiệt độ không kém nhiệt độ tháng 5.
Vào Tiết đông: Từ tháng 10 đến 12 âm lịch (tháng 11 – tháng 1) là khoảng thời gian xuất hiện những cơn mưa dầm kéo dài. Thời tiết khắc nghiệt kèm gió bấc lạnh se da. Tuy nhiên thường sau 23 tháng 10 âm lịch không còn những trận lụt lớn.
IV. Du lịch phía Đông Quảng Ngãi mùa nào đẹp
Đông Quảng Ngãi, một phần duyên hải Nam Trung Bộ – Việt Nam, nổi tiếng với nhiều cảnh đẹp thiên nhiên và các địa danh lịch sử, văn hóa hấp dẫn. Để có một chuyến du lịch đáng nhớ, việc lựa chọn thời điểm thích hợp là rất quan trọng. Dưới đây là các mùa được khuyến nghị cho du khách:
Du lịch miền đông Quảng Ngãi vào mùa khô (tháng 3 đến tháng 8). Mùa khô là thời điểm thích hợp nhất để tham gia các hoạt động ngoài trời, đặc biệt là du lịch biển. Với bầu trời trong xanh, nắng vàng và làn gió mát, du khách có thể thoải mái tận hưởng vẻ đẹp của các bãi biển nổi tiếng ở Đảo Lý Sơn, thiên đường du lịch biển với bãi biển cát trắng mịn và nước biển trong xanh; Bãi biển Sa Huỳnh với vẻ đẹp hoang sơ; khu du lịch Mỹ Khê, đây là bãi biển lý tưởng để bơi lội, tham gia các hoạt động thể thao dưới nước,… Không chỉ có các bãi biển, mùa khô còn lý tưởng để khám phá các di tích văn hóa và lịch sử tại Đông Quảng Ngãi đó là Khu chứng tích Sơn Mỹ (Mỹ Lai), nơi ghi dấu ấn sự kiện chiến tranh đau thương của Việt Nam; Thành cổ Châu Sa, Di tích thành lũy cổ của người Chăm, nơi bạn có thể tìm hiểu về nền văn hóa Champa cổ đại, vv…

Du lịch miền đông Quảng Ngãi vào mùa mưa (tháng 9 đến tháng 12) Mùa mưa tại Quảng Ngãi có thể khiến việc du lịch ngoài trời trở nên khó khăn hơn, nhưng không vì thế mà mất đi sức hút. Vẻ đẹp của các địa điểm tự nhiên trở nên hùng vĩ và khác biệt, đặc biệt là các thác nước và cánh đồng xanh tươi như Thác Trắng, Minh Long, được mệnh danh là thác nước đẹp nhất Quảng Ngãi, vào mùa mưa, thác nước đổ xuống mạnh mẽ và hùng vĩ hơn bao giờ hết. Đây là thời điểm tuyệt vời để tận hưởng không khí mát mẻ, trong lành và chiêm ngưỡng cảnh sắc thiên nhiên tuyệt đẹp.
Ngoài ra, vào khoảng từ tháng 1 đến tháng 3 thời tiết Quảng Ngãi khá dễ chịu với nền nhiệt mát mẻ, ít mưa, phù hợp cho du lịch khám phá các địa danh văn hóa, lịch sử.
Thời tiết Quảng Ngãi thay đổi theo mùa, mỗi mùa lại mang đến cho du khách những trải nghiệm du lịch khác nhau. Dù bạn yêu thích du lịch biển, khám phá thác nước hay tìm hiểu văn hóa lịch sử, Quảng Ngãi đều có thể đáp ứng mọi nhu cầu của bạn. Hãy chọn thời điểm phù hợp để lên kế hoạch cho chuyến du lịch đến vùng đất xinh đẹp này!
V. Đi đến “miền đông” Quảng Ngãi bằng gì.
Đông Quảng Ngãi có quốc lộ 1A chạy qua, cách Hà Nội 883km về phía Nam, cách thành phố Hồ Chí Minh 820km về phía Bắc, để đến đây bạn có thể chọn phương tiện xe khách, tàu hỏa hoặc máy bay.
Đi bằng máy bay thì bạn lưu ý là bay đến sân bay Chu Lai, Núi Thành (TP. Đà Nẵng) hay sân bay Phù Cát, Gia Lai (Bình Định cũ) rồi mới di chuyển đến Quảng Ngãi.
Xe khách Có rất nhiều chuyến xe khách Bắc – Nam từ Hà Nội và Sài Gòn đều đi dọc vùng Đông Quảng Ngãi với giá vé từ hơn 300.000VNĐ.
Tàu hỏa Tàu từ Hà Nội, Sài Gòn đi Quảng Ngãi có nhiều mức giá hợp lý để bạn lựa chọn, thường từ hơn 600,000 VNĐ là đã có một chỗ vừa ý. Quãng đường từ Hà Nội hay Sài Gòn qua Quảng Ngãi có nhiều đoàn tàu đón trả khách và thời gian di chuyển khoảng 13 tiếng từ TP. Hồ Chí Minh, 18 – 20 tiếng từ Hà Nội.

Để qua đảo Lý Sơn tham quan bạn đi tàu cao tốc từ cảng Sa Kỳ. Hiện nay có từ 10 – 15 chuyến/ngày, tàu siêu tốc đang khai thác chuyến Sa Kỳ – Lý Sơn và ngược lại. Du khách có thể lựa chọn nhiều khung giờ các hãng tàu chạy ra đảo Lý Sơn tùy thích. Bắt đầu khung giờ chạy lúc 07h30 đến 15h30 mỗi ngày ra Đảo Lý Sơn và ngược lại, thời gian chạy khoảng 35 phút. Nếu lượng khách đông nên thông thường cứ đủ khách là tàu xuất bến. Lưu ý các khung giờ các hãng tàu có thể luân đổi theo ban quản lý Cảng Sa Kỳ đưa ra mỗi ngày.
Đi du lịch Quảng Ngãi theo Tour du lịch đây là cách đi du lịch phổ biến, an toàn và tiết kiệm nhất, du khách nên áp dụng, đặc biệt là khi đi theo đoàn bởi đội ngũ tổ chức và dẫn Tour là chuyên nghiệp. Nếu đi du lịch theo Tour bạn có thể đặt Tour riêng hoặc Tour ghép đoàn, xuất phát từ Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh hoặc bất cứ đâu, giá Tour sẽ tùy theo điểm xuất phát và số ngày bạn tham quan du lịch.
VI. Lịch sử vùng đất phía Đông Quảng Ngãi
Vùng đất phía Đông Quảng Ngãi có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời. Đông Quảng Ngãi trước đây là vùng đất Cổ Lũy Động. Đến năm 1402, vương quốc ChămPa dâng Cổ Lũy Động cho nhà nước Đại Việt. Nhà Hồ chia Cổ Lũy Động thành 2 châu: Tư Châu và Nghĩa Châu trực thuộc lộ Thăng Hoa của Nhà nước Đại Ngu.

Thời nhà Lê Năm 1471, quân Đại Việt lấy lại Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa, chiếm kinh đô Chà Bàn (nay thuộc tỉnh Bình Định cũ) của Vương quốc Chămpa. Tháng 6 âm lịch, thiết lập đạo thừa tuyên Quảng Nam (nay là các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và thành phố Đà Nẵng cũ) gồm 3 phủ Thăng Hoa, Tư Nghĩa, Hoài Nhân. Tỉnh Quảng Ngãi thuộc Phủ Tư Nghĩa.
Năm 1527, Mạc Đăng Dung chiếm ngôi nhà Lê, lập nên nhà Mạc.
Năm 1533, Nguyễn Kim nổi lên chống nhà Mạc, tôn Lê Ninh lên làm vua, lấy hiệu là vua Lê Trang Tông, hình thành cục diện Nam- Bắc triều.
Năm 1545, Tướng của Nguyễn Kim là Bùi Tá Hán được giao nhiệm vụ trấn thủ Quảng Nam (là vùng đất thuộc các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và thành phố Đà Nẵng trước sáp nhập).
Năm 1558, Nguyễn Hoàng nhận nhiệm vụ trấn thủ Thuận Hóa.
Năm 1602, Trấn Quảng Nam đổi thành dinh Quảng Nam, phủ Tư Nghĩa (thuộc dinh Quảng Nam) đổi thành phủ Quảng Nghĩa (Ngãi) (danh xưng Quảng Nghĩa (Ngãi) lần đầu tiên xuất hiện, phủ Quảng Nghĩa nay là tỉnh Quảng Ngãi).
Năm 1771, Khởi nghĩa Tây Sơn. Năm 1776, Nhà Tây Sơn đổi tên phủ Quảng Nghĩa thành phủ Hòa Nghĩa.
Năm 1803, Nhà Nguyễn đổi phủ Hòa Nghĩa trở lại tên cũ là phủ Quảng Nghĩa. Năm 1831, Tỉnh Quảng Ngãi được thành lập. Cả nước lúc này có 30 tỉnh và 1 phủ (kinh đô Thừa Thiên). Năm 1831, Lấy kinh sư (Thừa Thiên) làm trung tâm, triều đình nhà Nguyễn chia cả nước thành các trực kỳ trong đó tả trực gồm 2 tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi.
Năm 1884, với 2 hiệp ước Quý Mùi và Giáp Thân, nước Việt Nam, trong đó có tỉnh Quảng Ngãi, đã trở thành thuộc địa của Pháp. Trong thời Pháp thuộc, tỉnh có tên gọi là Quảng Ngãi.
Từ thời các chúa Nguyễn (lúc còn là cấp phủ) đến thời nhà Nguyễn độc lập (thời đã là tỉnh Quảng Ngãi), thì Quảng Ngãi luôn là địa phương quản lý các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (thời đó còn chưa được phân biệt rõ ràng và trực thuộc huyện Bình Sơn Quảng Ngãi) bằng các đội Hoàng Sa và Bắc Hải.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đến trước ngày bầu cử Quốc hội khóa 1 (06/01/1946), tỉnh có tên gọi là tỉnh Lê Trung Đình, sau đó đổi lại thành tỉnh Quảng Ngãi. Đảo Lý Sơn nhập vào huyện Bình Sơn nhưng năm 1952 bị quân Pháp chiếm đóng sáp nhập hải đảo vào thị xã Đà Nẵng.

Dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa Từ 26 tháng 6 năm 1954 đến năm 1971, tỉnh Quảng Ngãi được chia thành 10 quận gồm Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Mộ Đức, Đức Phổ, Trà Bồng, Sơn Hà, Minh Long, Ba Tơ.
Giải phóng tỉnh Quảng Ngãi và sau Thống nhất đất nước năm 1975
Ngày 24/3/1975, tỉnh lỵ Quảng Ngãi và các huyện Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Mộ Đức, Đức Phổ được giải phóng. Ngày 29/3/1975, tiếp tục giải phóng các huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh. Ngày 31/3/1975, đảo Lý Sơn cũng giải phóng.
Ngày 20/9/1975, theo Nghị quyết số 245/NQ-TW hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định hợp nhất thành tỉnh Nghĩa Bình.
Ngày 30/6/1989, Quốc hội ra Nghị quyết chia tỉnh Nghĩa Bình thành tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi như cũ. Khi tách ra, tỉnh Quảng Ngãi có 11 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm thị xã Quảng Ngãi và 10 huyện Ba Tơ, Bình Sơn, Đức Phổ, Minh Long, Mộ Đức, Nghĩa Hành, Sơn Hà, Sơn Tịnh, Trà Bồng, Tư Nghĩa. Ngày 1/1/1993, đảo Lý Sơn tách khỏi huyện Bình Sơn, chính thức thành lập huyện Lý Sơn.
Ngày 26/8/2005, Chính phủ ban hành Nghị định công nhận thị xã Quảng Ngãi trở thành thành phố Quảng Ngãi. Năm 2014, thành phố Quảng Ngãi được điều chỉnh mở rộng, sáp nhập thêm 10 xã phía đông của huyện Sơn Tịnh và 3 xã của huyện Tư Nghĩa.
Năm 2015, thành phố Quảng Ngãi được công nhận là đô thị loại II trực thuộc tỉnh. Năm 2020, huyện Đức Phổ trở thành thị xã trực thuộc tỉnh.
Năm 2025 trước khi sáp nhập, tỉnh Quảng Ngãi có 13 đơn vị hành chính cấp huyện, bao gồm 11 huyện (Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Mộ Đức, Ba Tơ, Trà Bồng, Sơn Hà, Sơn Tây, Minh Long, Lý Sơn), thị xã Đức Phổ và thành phố Quảng Ngãi.
Nghị quyết số 60-NQ/TW, ngày 12/4/2025 của Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 13 đã quyết định hợp nhất tỉnh Kon Tum và tỉnh Quảng Ngãi, lấy tên là tỉnh Quảng Ngãi, trung tâm chính trị – hành chính đặt tại tỉnh Quảng Ngãi cũ hay vùng Đông Quảng Ngãi hiện nay.
VII. Nét Văn hóa Đông Quảng Ngãi
Vùng đất phía đông Quảng Ngãi là một mảnh đất địa linh nhân kiệt, tràn ngập màu sắc văn hóa. Một nơi mà cổ đại và hiện đại nối tiếp, hòa quyện văn hóa của các tộc người sinh sống và cộng cư tạo nên những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể đặc sắc. Có thể nói, tinh hoa của các nền văn hóa cổ của Việt Nam như Văn hóa Sa Huỳnh, Văn hóa Chămpa và Văn hóa Đại Việt vẫn còn thấm đẫm trong từng di tích, di chỉ văn hóa, trong lối sống, phong tục, tập quán, nghi lễ, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ dân gian, nghệ thuật ẩm thực của cư dân bản địa gồm bốn dân tộc anh em Kinh, Hrê, Cor và Cadong đến tận ngày nay.

Kho tàng di sản văn hóa đặc sắc
Vùng Đông Quảng Ngãi có nhiều di sản văn hóa đa dạng và độc đáo, được xem là cái nôi của Văn hóa Sa Huỳnh, với 26 di tích đã khai quật trong số hơn 80 địa điểm được phát hiện và nghiên cứu, chủ yếu phân bố ở phường Sa Huỳnh và xã Khánh Cường (xã mới sau sáp nhập). Di tích khảo cổ học VHSH được xếp hạng là Di tích cấp Quốc gia vào năm 1997, với 2 khu vực bảo vệ là địa điểm Phú Khương và Gò Ma Vương, xã Khánh Cường. Ngày 29/12/2022, Di tích khảo cổ VHSH được công nhận là Di tích Quốc gia đặc biệt. Quần thể gồm 6 địa điểm: Di tích Long Thạnh còn gọi là Gò Ma Vương; di tích Thạnh Đức thuộc phường Sa Huỳnh; di tích Phú Khương thuộc xã Khánh Cường; quần thể di tích Chămpa; đầm An Khê và sông Cửa Lỗ. Di sản VHSH là nguồn tài nguyên quý hiếm. Việc bảo tồn, phát triển là rất quan trọng để phát lộ lịch sử văn hóa và phát huy được giá trị văn hóa gắn với phát triển cộng đồng xã hội xanh và bền vững.
Cư dân Sa Huỳnh cổ xưa đã tạo dựng được nền văn hoá vô cùng đặc sắc trong không gian rộng lớn. Không gian VHSH và các thành tố liên quan như một “bảo tàng sống” phục vụ công tác nghiên cứu và phát triển du lịch văn hóa. Vùng đất Sa Huỳnh có cửa biển, thuận lợi cho giao thương. Những tuyến hàng hải chọn nơi đây làm điểm dừng chân neo đậu tàu thuyền để buôn bán, trao đổi hàng hoá. Đây là nơi có đầm An Khê – đầm nước ngọt nằm cạnh biển lớn nhất Việt Nam, những bãi cát vàng và gành đá hàng triệu năm tuổi. Các di chỉ tìm thấy của nền VHSH đều gắn với các đồng muối cổ. Đây cũng là điểm xuất phát con đường muối, từ vùng muối Sa Huỳnh lên Tây Nguyên và đi các nơi theo đường biển.
Có thể khẳng định, đồng muối Sa Huỳnh nằm trong không gian Di tích Quốc gia đặc biệt VHSH là thành tố không thể tách rời với nền văn hóa khảo cổ này. Nghề làm muối ở Sa Huỳnh mang tính đại diện, thể hiện bản sắc cộng đồng – địa phương, trao truyền qua nhiều thế hệ và được cộng đồng người dân Sa Huỳnh tự nguyện cam kết bảo vệ. Hiện đồng muối Sa Huỳnh có tổng diện tích khoảng 106 ha với hơn 560 hộ diêm dân phường Sa Huỳnh cùng nhau sản xuất muối. Ngày 10.12.2024, Bộ VH-TT&DL đã công nhận Nghề thủ công truyền thống Nghề làm Muối Sa Huỳnh trở thành Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Sự kiện ý nghĩa này không chỉ là sự khẳng định giá trị văn hóa lâu đời, mà còn là động lực thúc đẩy bảo tồn và phát huy nghề muối truyền thống. Đây cũng là cơ hội để quảng bá, giới thiệu di sản VHSH đến du khách trong và ngoài nước, góp phần phát triển du lịch và kinh tế của địa phương.

Tại đây còn có Làng du lịch cộng đồng Gò Cỏ – ngôi làng nằm trong vùng lõi của không gian VHSH với cảnh quan thiên nhiên hoang sơ tuyệt đẹp. Ngôi làng chỉ có hơn 80 hộ dân, nằm trên đồi núi đá ven biển. Đến với Gò Cỏ, du khách dễ dàng bắt gặp những đặc trưng tiêu biểu của văn hóa Chămpa mà cư dân làng chài này đã gìn giữ từ hàng nghìn năm trước, là các đền thờ, miếu mạo từ thời Vương quốc Chămpa, các giếng đá, cầu đá, nhà lợp mái tranh… Hiện trong làng còn khoảng 12 giếng đá cổ, miếu mạo của người Chăm, tường rào đá bao quanh làng để ngăn thú dữ, giữ đất giữ làng. Ngoài ra, qua canh tác, sinh sống, người dân địa phương phát hiện thêm nhiều bình gốm tùy táng của người Chăm cổ. Năm 2020, làng Gò Cỏ được công nhận là làng du lịch 3 Sao theo tiêu chuẩn OCOP. Nhờ vậy, người dân sống được với du lịch, nên đã biết giữ gìn từng bờ đá, giếng cổ… như tài sản vô giá mà tiền nhân để lại.
Nói đến văn hóa Quảng Ngãi thì phải nhắc tới văn hóa biển, đảo đặc sắc của vùng đất này. Trong đó, đảo Lý Sơn là vùng đất tinh hoa di sản lễ hội và địa chất. Trải qua 11 triệu năm kiến tạo từ những đợt phun trào núi lửa đầu tiên, Lý Sơn sở hữu quần thể thắng cảnh tuyệt tác, địa hình, địa mạo độc đáo. Hòn đảo này còn mang dấu vết con đường giao thương tơ lụa và gốm sứ thuộc nhiều niên đại khác nhau. Đây là nơi hội tụ, giao thoa tinh hoa của các nền văn hóa lớn như Chămpa, Sa Huỳnh và Đại Việt với hệ thống 6 di tích cấp quốc gia, 2 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, 19 di tích cấp tỉnh và nhiều di chỉ khảo cổ, di tích kiến trúc tín ngưỡng mang đậm sắc thái văn hóa biển. Sự đa dạng, độc đáo về hệ thống văn hóa vật thể và phi vật thể đan xen, tích hợp lẫn nhau đã tạo nên một dòng chảy lịch sử – văn hóa trên đất đảo, được bảo tồn dường như nguyên vẹn. Đặc biệt, Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa – Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia là lễ hội mang tính đặc trưng riêng có của đảo Lý Sơn mà không có nơi nào trong cả nước có được. Đây là lễ hội duy nhất gắn liền với lịch sử ra đời và hoạt động của Hải đội Hoàng Sa, khẳng định chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam trên Biển Đông.

Bảo tồn và phát triển
Trên địa bàn vùng Đông Quảng Ngãi hiện có 285 di tích. Trong đó, có 2 di tích cấp quốc gia đặc biệt, 33 di tích quốc gia, 171 di tích cấp tỉnh, 79 di tích đã được kiểm kê, bảo vệ. Có 4 bảo vật quốc gia, gồm: Tượng Tu sĩ Chămpa Phú Hưng; bộ sưu tập bình gốm đất nung Long Thạnh; bộ sưu tập trang sức vàng Trà Veo 3 và Lâm Thượng; khuôn in tín phiếu mệnh giá một đồng và khuôn in tín phiếu mệnh giá năm mươi đồng, niên đại từ năm 1947. Các di vật, cổ vật, bảo vật này được lưu giữ, bảo quản, trưng bày tại Bảo tàng Tổng hợp tỉnh.

Quảng Ngãi còn là mảnh đất giàu truyền thống yêu nước, truyền thống cách mạng kiên cường với những chiến công lẫy lừng trong lịch sử của dân tộc như: Khởi nghĩa Ba Tơ, khởi nghĩa Trà Bồng và vùng núi Quảng Ngãi, chiến thắng Ba Gia, chiến thắng Vạn Tường, chiến thắng Đình Cương,… Quảng Ngãi cũng là nơi sinh ra các bậc chí sĩ yêu nước, các vị văn thần, võ tướng, các nhà hoạt động cách mạng lớn và các nhà lãnh đạo của đất nước như Bùi Tá Hán, Trương Đăng Đồ, Lê Trung Đình, Trương Định, Nguyễn Nghiêm, Phạm Văn Đồng, Trần Đức Lương,…nhiều nhà trí thức, nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, nghệ sĩ tên tuổi: Bích Khê, Tế Hanh, Trà Giang, Thanh Thảo, Trương Quang Lục, Nhất Sinh, Thế Bảo, Nguyễn Vĩ,…
Những địa điểm du lịch văn hóa, lịch sử nổi tiếng của vùng Đông Quảng Ngãi có thể kể đến như: Mộ và đền thờ Bùi Tá Hán, Đền thờ Anh hùng dân tộc Trương Định, di tích Khởi nghĩa Ba Tơ, Ba Gia, Trà Bồng, Vạn Tường, Địa đạo Đàm Toái, Khu chứng tích Sơn Mỹ, Vụ thảm sát Bình Hoà, Vụ Thảm sát Khánh Giang – Trường Lệ, Vụ Thảm sát Diên Niên – Phước Bình, Trụ sở Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Trung Bộ (1946-1949), Khu lưu niệm Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Thành cổ Châu Sa, Kiến trúc nghệ thuật Chùa Ông, Thắng cảnh Chùa Hang,… Hàng năm, các điểm di tích này thu hút hàng chục nghìn lượt khách trong và ngoài nước đến tham quan.

Bên cạnh các di tích văn hóa, lịch sử, vùng Đông Quảng Ngãi còn có 6 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, gồm: Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa; Lễ hội đua thuyền Tứ Linh; Lễ hội điện Trường Bà; nghệ thuật cồng chiêng của dân tộc Cor (Trà Bồng); nghề dệt thổ cẩm truyền thống và nghệ thuật trình diễn chiêng Ba của người Hrê (Ba Tơ). Riêng nghệ thuật bài chòi Trung Bộ Việt Nam được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Và nhiều lễ hội truyền thống được bảo tồn như lễ hội nghinh cá Ông, lễ hội cầu ngư, lễ mừng lúa mới… là nguồn lực văn hóa phi vật thể quý giá để phát triển du lịch đặc thù.
Về tài nguyên du lịch tự nhiên, tỉnh sở hữu nhiều danh thắng nổi bật như đảo Lý Sơn – “thiên đường giữa biển khơi”, danh thắng nổi tiếng Thiên Ấn Niêm Hà, Thiên Bút Phê Vân, Thạch Bích Tà Dương, Cổ Luỹ Cô Thôn, Nước Trong – Cà Đam… Các bãi biển Mỹ Khê, Sa Huỳnh, Dung Quất, hệ thống hồ, thác, thảo nguyên… Những điểm đến này phù hợp phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, trải nghiệm với nhiều loại hình, sản phẩm du lịch đa dạng.
Tỉnh Quảng Ngãi mới đang định hướng phát triển du lịch bền vững, chú trọng khai thác giá trị văn hóa – thiên nhiên, đồng thời kết nối liên vùng trong chuỗi du lịch miền Trung – Tây Nguyên.
VIII. Lễ Hội – Du Lịch Vùng Đông Quảng Ngãi
1. Những lễ hội đặc trưng
Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa – Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Lễ khao lề thế lính là một lễ hội được nhân dân huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi duy trì hàng vài thế kỷ nay. Thời gian đầu khi mới thành lập Hải đội Hoàng Sa, cứ hàng năm người của đảo Lý Sơn lại được tuyển mộ vào đội này làm binh, phu đi khai thác và bảo vệ Hoàng Sa và Trường Sa. Việc này gọi là “thế lính”. Lễ khao lề thế lính là một lễ hội độc đáo với truyền thống uống nước nhớ nguồn nhằm ghi nhớ công ơn người xưa thuộc Hải đội Hoàng Sa đã ra đi tìm kiếm sản vật, cắm mốc biên giới hải phận mà không trở về, truyền thống gìn giữ và bảo vệ lãnh thổ và lãnh hải của đất nước.

Lễ hội được tổ chức tại Âm Linh Tự (một di tích được xếp hạng quốc gia) vào các ngày 18 – 20 tháng 3 âm lịch hàng năm. Đây là lễ hội lớn không chỉ của Lý Sơn mà còn của cả tỉnh Quảng Ngãi. Với hình thức tổ chức rất công phu nhiều công đoạn, song đặc biệt hơn cả là hình thức thả thuyền giấy ra biển ngụ ý mãi duy trì việc ra biển như trước và có lẽ vì thế mà lễ hội có tên là khao lề thế lính. Vào những ngày này, ngoài việc tổ chức người địa phương còn thực hiện đắp và dọn các ngôi mộ của các chiến sĩ hải đội Hoàng Sa (Mộ gió).
Lễ hội đua thuyền tứ linh – Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia Lễ hội diễn ra từ ngày mùng 4 – 8 tháng Giêng. Có lẽ đây là một trong những lễ hội lớn nhất của cư dân vùng biển ở Quảng Ngãi nói riêng và ở Nam Trung bộ nói chung. Lễ hội đua thuyền Lý Sơn không chỉ là một trò diễn vui chơi giải trí mà còn để tưởng nhớ đến các vị tiền hiền buổi đầu khai sinh ra đảo và cầu mong cho quốc thái dân an, người an vật thịnh. Lễ hội được tổ chức tại An Vĩnh và An Hải. Mỗi xã có 4 thuyền đua mang tên 4 con vật trong tứ linh: Long, Lân, Quy, Phụng được trang trí chạm trổ hết sức công phu. Lễ hội đua thuyền có 2 cấp độ, hội đua thuyền của xã và hội đua thuyền của đảo Lý Sơn (đua 8 chiếc) vào ngày 8 tháng Giêng.

Lễ hội đua thuyền Vào các dịp lễ tết, nhiều nơi trong tỉnh thường tổ chức hội đua thuyền, như ở Mộ Đức; Sơn Tịnh(Tịnh Long); Tư Nghĩa; Nghĩa Hành… Ở Tư Nghĩa hội đua thuyền thường diễn ra trên sông Cổ Lũy – Phú Thọ. Ở Bình Sơn hội đua thuyền diễn ra ở vịnh Vũng Tàu, cửa Sa Cần, trên sông Trà Bồng. Trung tâm Quảng Ngãi, xã Sơn Tịnh hội đua thuyền thường diễn ra trên sông Trà Khúc. Ở Lý Sơn, hội đua thuyền diễn ra ở vùng biển phía Tây Nam của đảo. Tiêu biểu có các hội đua thuyền truyền thống An Hải, An Vĩnh vào dịp tết Nguyên đán hàng năm. Ý nghĩa sâu xa của hội đua thuyền là để tỏ lòng cảm tạ các vị thần linh phù hộ cho dân làng có được cuộc sống bình an, làm nông, làm biển được mùa, tri ân các bậc tiền hiền đã có công khai khẩn, xây dựng cuộc sống lâu dài trên quê đảo, tưởng nhớ quan quân và binh phu các đội Hoàng Sa, Bắc Hải. Đây cũng là dịp để người dân rèn luyện sức khỏe, thi thố tài năng điều khiển ghe thuyền.
Lễ hội Điện Trường Bà – Di sản văn hóa cấp quốc gia Lễ hội Điện Trường Bà Xã Trà Bồng là nơi diễn ra sự giao lưu văn hóa khá mạnh mẽ giữa cộng đồng các dân tộc Kinh, Cor, Hrê, Hoa, thu hút rất đông khách đến vãn cảnh, ngưỡng bái, đặc biệt trong các ngày diễn ra lễ hội 15,16 tháng 4 âm lịch hàng năm. Lễ hội thể hiện thông điệp đầu tiên là gắn tình đoàn kết giữa các dân tộc trong quá trình mở mang bờ cõi. Phần lễ là phần hội với nhiều hoạt động văn hoá dân gian mang đặc trưng của các dân tộc anh em như: múa cồng chiêng, múa Cà đáo, bắn cung, ném lao, kéo co, đi cà kheo, thi đấu cờ người, hát bộ, múa lân, múa sắc bùa, cô đồng…

Từ bao đời nay, lễ hội Điện Trường Bà đã trở thành ngày lễ thiêng liêng của người dân đất quế Trà Bồng và nhiều vùng lân cận. Dù ở đâu, làm gì, trong ngày lễ hội, tất cả mọi người đến dự lễ đều hướng lòng thành kính, tri ân đến Thánh mẫu Thiên Y A Na và các vị thần khác đã có công trong việc khai phá vùng đất này.
Lễ hội cúng cá Ông Lễ hội cúng cá Ông là một hình thức sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng phổ biến của cư dân vạn chài ven biển, hải đảo Quảng Ngãi. Lễ hội này được tổ chức thường xuyên vào mùa xuân và mùa thu. Tiêu biểu là lễ hội cúng cá Ông ở lăng vạn Đông Yên, xã Bình Sơn vào ngày mùng 8 tháng Giêng và 16 tháng 7 âm lịch ở lăng Vạn Cù Lao, Mỹ Tân vào các ngày 10 tháng 3 và 25 tháng 6 âm lịch hằng năm. Vào các ngày hội có đầy đủ kiệu rước, đội trống chiêng, ban nhạc cùng đội gươm và đội chèo bả trạo diễn xướng theo nghi lễ, thu hút hàng nghìn người tham gia. Trong lễ hội cúng cá Ông còn có các hình thức diễn xướng khác như đua thuyền, lắc thúng, múa lân, hát sắc bùa, hát bội, hát hố… Hiện nay, tại Quảng Ngãi còn khá nhiều lăng Cá Ông ở dọc ven biển và đảo Lý Sơn có kiểu dáng kiến trúc cổ cách đây vài trăm năm. Nhiều lăng còn giữ được những bộ xương cá voi khổng lồ và các sắc phong thần của Triều Nguyễn như lăng Thanh Thủy (Bình Sơn), lăng Cồn, lăng Tân, lăng Chánh (Lý Sơn), lăng Thạch Bi (Đức Phổ)…
Lễ hội ra quân đánh bắt hải sản đầu năm ở Sa Huỳnh Trình thức lễ hội cầu ngư Sa Huỳnh vào ngày mùng 3 Tết Nguyên đán hàng năm bao gồm các lễ thức: Tế cáo thần linh khai lạch, lễ ra nghề và các trò diễn dân gian.

Từ sáng mùng 3 Tết Nguyên đán tất cả các thuyền trong các vạn, đặc biệt là vạn Thạch Bi, tập trung tại cửa biển, chong đèn kết hoa rực rỡ, bày soạn lễ vật lên thuyền và chuẩn bị các loại ngư lưới cụ. Sau khi đại diện chính quyền, hội nghề cá khai mạc và tổng kết nghề đánh bắt hải sản một năm cũng như kế hoạch thực hiện trong năm mới, ông chủ vạn gióng tiếng trống báo hiệu lễ ra nghề bắt đầu. Chiếc thuyền đầu tiên ra khơi là chiếc thuyền được ban vạn bầu chọn (không gặp bất trắc gì trong năm cũ, gia đình hòa thuận, chủ thuyền có uy tín…) và sau đó là hàng trăm chiếc thuyền nối tiếp ra khơi. Ra đến cách bờ chừng vài hải lý, các thuyền lại thực hiện nghi thức tế cáo thần linh và đánh mẻ lưới làm phép đầu tiên. Sau khi vớt mẻ lưới lên các thuyền quay lại vào bờ thì các trò diễn như đua thuyền, thi lắc thúng, thi đánh bóng chuyền mới bắt đầu diễn ra. Có năm trong dịp làm lễ cầu ngư, người Sa huỳnh còn tổ chức hát bội vài ba ngày.
Hát sắc bùa ngày xuân Hát sắc bùa là loại hình diễn xướng dân gian mang dấu ấn tín ngưỡng, phong tục, thường diễn ra vào dịp Tết Nguyên đán hằng năm ở các làng quê ven biển Quảng Ngãi. Những người tham gia hát sắc bùa lập thành phường. Phường sắc bùa gồm có ông bầu (cái) và các quân (có khi 4, 8 hoặc 16 quân và phải là con gái, thường từ 13 đến 18 tuổi), cùng ban nhạc gồm kèn, trống, sanh tiền, đờn cò. Phường sắc bùa thường bắt đầu “lưu diễn” từ đêm trừ tịch cho đến hết tháng giêng, từ nhà này sang nhà khác để chúc tụng năm mới, yểm quỷ, trừ tà (sắc nhà), có khi cũng hát ở đình làng, lăng miếu (sắc làng). Ngoài những bài hát theo điệu thức của tuồng, dân ca… còn có những điệu múa dân gian của các con xô (quân) giúp vui ngày Tết. Ở Quảng Ngãi còn có 2 làng hát sắc bùa nổi tiếng là An Thạch (phường Trà Câu) và Văn Hà (Lân Phong).

Lễ hội chùa Ông – Thu Xà Lễ hội ở Quảng Ngãi này được tổ chức từ ngày 14,15/7 Âm lịch ở xã Tư Nghĩa. Chùa Ông ở đây được xây dựng bởi cộng đồng người Hoa Quảng Ngãi từ năm 1821. Trải qua nhiều lần trùng tu, ngôi chùa mang kiến trúc vô cùng độc đáo là điểm đến tâm linh đặc sắc của người Hoa. Các hoạt động và nghi thức của lễ hội này rất độc đáo, thể hiện đặc trưng văn hóa của người Hoa Quảng Ngãi. Đặc biệt ,khung cảnh các thuyền chở hoa đăng và thả hàng trăm ngọn đèn nối đuôi nhau lững lờ, trôi trên dòng sông gửi gắm những lời nguyện cầu là hình ảnh rất đẹp, ẩn chứa nét văn hóa tâm linh và nhân văn.
Tết Ngã rạ: Nét đẹp văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Cor Tết Ngã rạ – hay còn gọi là Giã rạ, tiếng Cor là “xa a-nít”, là một trong những lễ hội truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa của đồng bào dân tộc Cor. Tại thôn Thọ An, xã Bình Minh – nơi có 95% dân cư là người Cor, Tết Ngã rạ thường được tổ chức vào cuối tháng 10 âm lịch. Đối với người Cor, Tết Ngã rạ mang ý nghĩa vô cùng đặc biệt. Già làng chia sẻ: “Tết Ngã rạ được coi như Tết Nguyên Đán của đồng bào Cor. Đây không chỉ là ngày lễ của riêng từng gia đình mà còn là sự kiện thiêng liêng của cả cộng đồng, nơi mọi người cùng dâng lên thần linh những gì tốt đẹp nhất để tri ân và cầu mong một năm mới an lành”.

Lễ cúng Tết Ngã rạ được tổ chức trang nghiêm tại nhà sàn truyền thống của thôn Thọ An. Sau nghi thức cúng tế, không khí lễ hội trở nên sôi động với tiếng cồng, chiêng và các điệu múa đặc trưng. Múa Cà đáo là một điệu múa truyền thống không thể thiếu trong Tết Ngã rạ. Những người tham gia nhảy múa thành vòng tròn, thể hiện sự kết nối giữa con người và thiên nhiên, giữa thần linh và cộng đồng. Tiếng chiêng vang vọng khắp bản, tạo nên không gian linh thiêng và phấn khởi.
2. Làng nghề truyền thống tiêu biểu
Những làng nghề truyền thống tại Quảng Ngãi được hình thành và phát triển khá sớm, chủ yếu bắt nguồn từ những người nông dân phương Bắc di cư vào phương Nam vào thế kỷ 15, 16 (nghề mộc, dệt vải, đan lát, thái lát, đúc, làm gốm, làm súng…), một phần từ nghệ thuật truyền thống của người Hoa (làm Kẹo , làm Nhang,… hay các loại hình nghệ thuật dân gian trước đó là văn hóa Sa Huỳnh (gốm), văn hóa Chăm-pa (Rèn, khăm xà cừ). Tất cả tạo nên sự phong phú, đa dạng và độc đáo của nghệ thuật ở Quảng Ngãi.
Làng nghề làm muối Sa Huỳnh Làng nghề làm muối Sa Huỳnh ở phường Phổ Thạnh (nay là phường Sa Huỳnh) là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia lâu đời, nổi tiếng với kỹ thuật làm muối thủ công trên sân đất truyền thống. Nơi đây nổi tiếng với sản phẩm muối trắng mịn, vị mặn dịu đặc trưng, được sản xuất từ tháng 3 đến tháng 8 hàng năm bởi hàng trăm hộ dân diêm dân.

Làng nghề trồng cây cảnh Xuân Vinh như một bức tranh nên thơ, nay đã được phong tặng danh hiệu cao quý – Thương hiệu tập thể làng cây cảnh do Cục Sở hữu trí tuệ trao tặng. Niềm vui ấy như một đóa mai vàng rực rỡ, tô điểm thêm cho bức tranh phát triển kinh tế của vùng đất Nghĩa Hành. Xuân Vinh với những khu vườn bonsai xanh mát, nay đã trở thành nơi giao lưu của những người yêu hoa, yêu cây cảnh, nơi lưu giữ tinh hoa nghệ thuật bonsai mai vàng. Mỗi độ xuân về, “Bon sai – Ngày mai vàng” lại rộn ràng, như lời chào đón mùa xuân tươi sáng, cũng là dịp để những người con Nghĩa Hành tự hào về truyền thống trồng cây cảnh của quê hương. Hơn 500 hộ gia đình bằng đôi bàn tay khéo léo đã thổi hồn vào từng cây mai, từng chậu thông, mang ra thị trường những tác phẩm bonsai đẹp, góp phần làm giàu thêm cho quê hương, tô điểm thêm cho cuộc sống.
Nghề truyền thống dệt thổ cẩm làng Teng Làng Teng, xã Ba Động, là điểm nhấn văn hóa độc đáo. Nơi đây, tiếng dệt lụa bay trong gió, tiếng hát dệt thổ cẩm truyền thống, một di sản quý giá của người Hrê. Thổ cẩm của người Hrê có nhiều hoa văn họa tiết rất đẹp, minh chứng cho đôi bàn tay khéo léo và tâm hồn nghệ thuật của người Hrê. Sản phẩm đủ các loại, từ váy (kà tu), khố (kapen), tấm địu con (Katăk), khăn đội đầu (mul), dây đeo (sipăh), khăn gói trầu cau, lễ vật (tagóh), mền đắp (veixan), mỗi sản phẩm đều toát lên vẻ đẹp riêng, góp phần tạo nên nét văn hóa truyền thống độc đáo của người dân nơi đây. Những dịp cúng mừng năm mới, hội làng, lễ cưới không thể thiếu tiếng cồng chiêng, rượu cần và trang phục truyền thống của người Hrê.

Nghề truyền thống sản xuất đồ gốm Mỹ Thiện Cách nay từ 2000 đến 2500 năm, cư dân văn hóa Sa Huỳnh đã sản xuất ra nhiều loại đồ gốm phong phú về loại hình, hoa văn sắc sảo, họa tiết trang trí đa dạng, đạt trình độ cao cả về kỹ thuật và thẩm mỹ. Do những biến động của lịch sử, bẵng đi một thời gian dài nghề gốm mới xuất hiện trở lại trên đất Quảng Ngãi, song song với quá trình định cư của người Việt từ phía Bắc vào. Các làng gốm Việt xuất hiện ở Quảng Ngãi vào khoảng cuối thế kỷ 17 và không bao lâu sau đó có mặt hầu khắp các vùng đồng bằng trong tỉnh. Vào khoảng thập niên 30 của thế kỷ trước, các làng gốm nổi tiếng trong tỉnh là Mỹ Thiện (xã Bình Sơn mới), Đông Thành, Đại Lộc (Sơn Tịnh), Thạch Hiếu, Chỉ Trung (2 làng Trung Sơn và Vĩnh An – Đức Phổ), Bồ Đè (Mộ Đức).

Trong các làng gốm ở Quảng Ngãi thì làng gốm ở Mỹ Thiện có nghề làm đồ gốm phát triển nhất. Nơi đây đã sản xuất được những đồ gốm có tráng men từ thế kỷ 19. Làng gốm Mỹ Thiện thuộc địa phận thị trấn Châu Ổ (xã Bình Sơn), nằm trên đường Thiên Lý Bắc – Nam (nay là Quốc lộ 1). Mặt khác, làng gốm lại nằm ven sông Trà Bồng, sản phẩm xuất ra khỏi lò được vận chuyển đi nơi khác dễ dàng bằng đường sông, xuôi dòng ra cửa Sa Cần, hay ngược lên nguồn đến các làng miền núi. Xưa kia gốm Mỹ Thiện (dân gian gọi là gốm Châu Ổ) đã có mặt ở khắp nơi trong tỉnh, ở các tỉnh lân cận miền trung, tây nguyên… Qua thăng trầm, nghề gốm Mỹ Thiện tưởng như đã mất, nay có sự hồi phục. Mới đây, gốm Mỹ Thiện đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Nghề truyền thống sản xuất đồ gốm xã Phổ Khánh (xã Khánh Cường mới) Làng Trung Sơn và Vĩnh An – Gốm Phổ Khánh, ẩn mình trong lòng sứ Quảng, mang trong mình câu chuyện thầm lặng của thời gian. Từ thời nhà Nguyễn, khi làn khói xanh từ các lò gốm len lỏi vào từng ngóc ngách, đã nuôi dưỡng nên một nền văn hóa đặc sắc nơi đây. Ở đó, mỗi ngôi nhà đều mang hình dáng những chiếc bình gốm mộc mạc, như một câu chuyện của quá khứ. Những chiếc chum, vại, bình, bát, đĩa… đều được tạo ra từ quê hương, mang trong mình tinh hoa của cư dân Sa Huỳnh, minh chứng cho truyền thống gốm sứ lâu đời, đáng tự hào. Dù thời gian đã trôi qua, làng gốm Phổ Khánh vẫn giữ được nét đẹp truyền thống, như một bông hoa thơm ngát trong dòng chảy văn hóa Việt.
Nghề làm kẹo Mạch nha Thi Phổ Mạch nha được làm từ mầm lúa và gạo nếp, có màu vàng hổ phách, dẻo mà không dai, vị ngọt thanh, thoảng mùi hương nếp. Làng Thi Phổ (nay là thôn Phước Thịnh, xã Mỏ Cày mới) là nơi sản xuất kẹo mạch nha nổi tiếng cả nước. Ra đời từ những năm ba mươi của thế kỷ trước, mạch nha Thi Phổ từng được bán rộng rãi ở kinh đô Huế và Hà Nội. Nghệ nhân làm kẹo mạch nha Phó Sáu (thôn Thiết Trường, thị trấn Mộ Đức cũ) từng được các vua triều Nguyễn phong hàm Cửu phẩm Văn giai. Còn dân gian truyền tụng câu “Kẹo gương Thu Xà, mạch nha Thi Phổ” để nói về đặc sản này.

Làng nghề đường phèn ở Ba La – Vạn Tượng, Nghĩa Dõng (nay là xã An Phú) Làng nghề đường phèn thủ công ở xứ Ba La – Vạn Tượng đã tồn tại cả trăm năm, mang theo nhiều giá trị tinh túy về ẩm thực và văn hóa xứ Quảng. Đường phèn tại đây nức tiếng gần xa bởi chất lượng và hương vị. Thời vàng son, đường phèn rất quý, thợ nấu đường cũng trở nên có giá. Những mẻ đường làm ra được chọn làm cống phẩm hoàng triều. Tại đây nghề làm đường phèn thủ công đã được “cha truyền con nối” qua nhiều đời, có người còn duy trì lửa nghề từ thời ông cố cho đến ngày nay. Xưa kia, khu bãi bồi ven sông Trà Khúc từng là vựa mía lớn, đường phèn được nấu thủ công từ mật mía. Mùa làm đường, xe ngựa tập trung nối thành hàng dài chờ nhận đường phèn, đường muỗng, đường chén, đường phổi chuyển đi khắp nơi tiêu thụ. Ngày nay, mật mía không còn phổ biến, người dân chuyển sang dùng đường cát làm nguyên liệu sản xuất đường phèn.

Đường phèn là loại đặc sản nổi tiếng của Quảng Ngãi. Du khách mỗi khi đến Quảng Ngãi đều chọn mua đường phèn làm quà. Đường phèn là loại đường được kết tinh mà thành, đường ở dạng kết tinh trong suốt, tựa như những thỏi thạch anh, với nhiều hạt đường hình lập thể. Khi ăn, thỏi đường phèn vỡ ra, giòn tan, vị ngọt thanh, thấm dịu vào đầu lưỡi.
Làng nghề truyền thống làm mắm Đức Lợi (xã Long Phụng) Kỳ Tân, An Chuẩn là 2 làng chài nằm ở vùng đất cát cuối hạ lưu sông Vệ, bên cửa Lở, thuộc xã Long Phụng. Nơi đây hiện có hơn 300 gia đình chuyên sản xuất nước mắm thủ công. Từ nước mắm, nước mắm đục, nước mắm mực đến mắm tôm, mắm chua, mắm nục,… mỗi loại nước mắm đều chứa đựng một câu chuyện riêng, một tinh hoa ẩm thực được gìn giữ qua nhiều thế hệ. Nước mắm Kỳ Tân, An Chuẩn ngon, thơm nổi tiếng và được khách hàng trong và ngoài tỉnh ưa chuộng, đặc biệt là ở TP. Hồ Chí Minh các tỉnh Tây Nguyên. Ngoài ra, Quảng Ngãi còn có các làng nghề làm mắm khác như: (Thạch Bi) phường Đức Phổ, (Nghĩa An) xã An Phú, (Tịnh Kỳ) xã Tịnh Khê mới…
Làng nghề dệt chiếu Nghề dệt chiếu vẫn còn tồn tại và phát triển ở các làng xã ven biển như: xã Tịnh Khê, An Phú, đặc biệt là ở xã Tư nghĩa (Nghĩa Hòa cũ). Những nơi này người ta chú trọng đến việc trồng cói – nguyên liệu chính để dệt chiếu. Để dệt được một tấm chiếu đẹp người ta chỉ cần dùng các dụng cụ thô sơ như trục, con ngựa, khổ… tất cả đều bằng gỗ hoặc tre. Chiếu Thu Xà (Nghĩa Hòa) dày dặn, màu sắc hài hòa, đa dạng mẫu mã, bền và mát nên được ưa chuộng trên thị trường.

Nghề đúc đồng Chú Tượng Xã Đức Hiệp nay là xã Long Phụng có làng nghề đúc đồng Chú Tượng được hình thành từ khoảng thế kỷ 17. Dân làng từng đúc vũ khí cho nhà Tây Sơn (1778 – 1802) hay đúc tượng cho vua Khải Định (1885 – 1925). Nghề đúc đồng Chú Tượng vừa cần kỹ thuật tốt, vừa đòi hỏi sự khéo léo, mang tính nghệ thuật cao. Thời kỳ phát đạt, Chú Tượng có hàng trăm hộ gia đình chuyên sản xuất nồi, khuôn ngói, đồ thờ, nhạc cụ, vũ khí nhưng nổi tiếng nhất vẫn là đúc chuông. Ngày nay, sản phẩm của Chú Tượng được nhiều người biết đến thông qua các quả chuông được đúc tinh xảo ở chùa Thiên Ấn, chùa Ông, chùa Thình Thình, chùa Diệu Giác…
Làng nghề truyền thống rèn xóm 6, thôn Minh Khánh (xã Trường Giang mới) Giữa lòng làng Minh Khánh, hương vị làng rèn được hun đúc nên từ đôi bàn tay khéo léo của những người thợ. Hơn 60 hộ gia đình với những bàn tay tài hoa, tiếng búa nện vang, tiếng rèn như khúc ca, vang vọng mãi trong cuộc sống của người dân nơi đây, góp phần vun đắp hạnh phúc, mang lại công ăn việc làm cho con em quê hương. Giờ đây, danh hiệu “Làng rèn” như một niềm tự hào, một nguồn sáng tạo, giúp làng nghề Tịnh Minh ngày càng hoàn thiện sản phẩm, vươn ra thị trường, đưa những nông cụ cầm tay chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, khẳng định niềm tự hào “hàng Việt chất lượng cao”.

Nghề truyền thống sản xuất chổi đót xã Phổ Phong (Nguyễn Nghiêm mới) Nửa thế kỷ đã trôi qua, nghề làm chổi đã trở thành sợi dây kết nối, nuôi dưỡng hạnh phúc cho biết bao thế hệ người Phổ Phong. Từ đôi bàn tay chai sạn, cần cù của mình, họ đã thổi hồn vào từng cây chổi, mang lại sự ấm áp, thịnh vượng cho gia đình và tô điểm thêm cho bức tranh cuộc sống làng quê. Từ người già đến trẻ nhỏ, ai cũng tự hào về nghề làm chổi, góp phần tạo nên nét đẹp văn hóa riêng biệt, độc đáo của Phổ Phong, biểu tượng đẹp của làng nghề truyền thống Việt Nam.
3. Các điểm du lịch nổi tiếng Đông Quảng Ngãi
Đảo Lý Sơn Đặc khu Lý Sơn gồm 3 đảo là đảo Lớn, đảo Bé (xã đảo An Bình) và hòn Mù Cu, nằm cách đất liền khoảng 30km. Trước đây, Lý Sơn được gọi là cù lao Ré, theo dân gian là “cù lao có nhiều cây ré”. Hòn đảo là vết tích còn lại của ngọn núi lửa với 5 miệng, được hình thành cách đây khoảng 25-30 triệu năm. Ngọn núi là nguồn giữ các mạch nước ngầm cung cấp nguồn nước cho người dân trên đảo. Lý Sơn là một xã đảo (Đặc khu) rất nổi tiếng của du lịch Quảng Ngãi, nơi đây nổi tiếng với biệt danh “vương quốc tỏi”. Tuy nhiên, điểm thu hút dân du lịch hơn hết chính là màu nước biển trong xanh, khung cảnh thơ mộng và đẹp đến ngỡ ngàng. Đến Lý Sơn, du khách có thể tham quan đỉnh núi lửa Thới Lới kỳ vĩ. Hang Câu với vách đá dựng đứng, nước biển trong vắt, bờ cát trắng mịn và những rạn san hô nhiều màu sắc dưới chân. Ngắm hoàng hôn với cổng Tò Vò, thăm chùa Hang, chùa Đục núi Giếng Tiền, Âm Linh tự, cánh đồng tỏi. Đi thuyền sang đảo Bé với làng bích họa An Bình, đến bãi Ngang chèo thuyền thúng lặn ngắm san hô, hay đón bình minh trên hòn Mù Cu…

Đặc sản Lý Sơn hấp dẫn với cua huỳnh đế, tôm hùm, ốc cừ, cá tà ma, chả cá, gỏi tỏi, nộm rong biển, dưa hấu hắc mỹ nhân, ốc tượng… và đặc biệt là tỏi Lý Sơn, loại cây vô cùng đặc trưng ở đảo này.
Bãi biển Mỹ Khê Quảng Ngãi Nằm cách trung tâm phường Cẩm Thành, tỉnh Quảng Ngãi chừng 12km, bãi biển Mỹ Khê là một trong những bãi biển đẹp, hoang sơ sẽ chiếm trọn trái tim du khách lần đầu đến đây. Thời điểm lý tưởng nhất để ghé thăm là từ tháng 5 đến tháng 8, thời tiết biển Mỹ Khê vô cùng thuận lợi với bầu trời trong xanh, nắng vàng rực rỡ và sóng biển êm dịu. Đến đây, du khách có thể thỏa thích tắm biển, dạo chơi trên bờ cát trắng mịn hay chiêm ngưỡng khung cảnh thiên nhiên hoà cùng những hàng dương xanh mát, xa xa thấp thoáng những chiếc tàu, thuyền thúng nhộn nhịp vào ra đánh bắt cá tôm, thưởng thức hải sản tươi ngon và thư giãn.

Biển Dung Quất Nằm phía đông bắc cách trung tâm Quảng Ngãi khoảng 35km, biển Dung Quất có độ sâu lý tưởng để bơi lội. Ngoài tắm biển, phơi nắng, ngắm mặt trời mọc và lặn, đến đây, bạn đừng quên thưởng thức những món hải sản tươi ngon hay các món ngon từ dông (nhông) – loại bò sát sống trên vùng đất cát có thịt thơm ngon, hay thưởng thức món bánh tráng nướng nhúng nuớc cuốn rau và những con mực tuơi rói, chén nước mắm cay đậm.
Ba Tân Gân (Ba Làng An) Mũi Ba Làng An được liệt kê trong danh sách những địa điểm du lịch Quảng Ngãi đẹp hút hồn, tiên cảnh có thật. Đây là một mũi đất được tạo nên bởi những vách đá trầm tích của núi lửa cùng với dòng biển xanh trong vắt. Tên gọi nơi đây là do nơi này có ba làng cùng tên “An”: An Hải, An Vĩnh và An Kỳ. Người Pháp đã khám phá nơi này với địa thế cực đông của tỉnh Quảng Ngãi, nơi gần nhất với đảo Lý Sơn, có nguồn hải sản dồi dào, và có một tên gọi khác trên bản đồ thế giới là Batangan. Ở mũi Ba Làng An, bạn sẽ có cơ hội được ngắm nhìn toàn cảnh của mũi biển từ ngọn hải đăng cao 36m, đi bộ dọc bờ biển, chụp ảnh với những khối đá nhấp nhô hay miệng núi lửa đã ngưng hoạt động.

Biển Khe Hai Biển Khe Hai là một trong những bãi biển ở Quảng Ngãi thu hút du khách bởi vẻ đẹp mộc mạc, yên bình và hiền hòa. Khung cảnh bình yên, không khí trong lành tại bãi biển Khe Hai sẽ khiến bạn cảm thấy say đắm và thư giãn. Sóng biển tại đây khá êm, tắm biển dưới làn nước trong xanh và tận hưởng bầu không khí dễ chịu là trải nghiệm tuyệt vời, khó quên đối với mỗi du khách khi có dịp du lịch biển Khe Hai.
Gành Yến – “Bức tranh” thiên nhiên từ dung nham núi lửa Nằm tại thôn Thanh Thủy (Vạn Tường), Gành Yến là một kỳ quan địa chất độc đáo, được tạo nên từ những khối đá bazan hình lục giác xếp chồng lên nhau, gợi nhớ đến Gành Đá Đĩa ở Phú Yên. Điểm đặc biệt là nơi đây còn gắn với làng chài yên bình và biển xanh trong vắt, soi rõ từng đàn cá bơi lội. Đến Gành Yến, du khách có thể đi thuyền thúng ra giữa biển để ngắm san hô, hoặc dạo bước trên bãi đá kỳ thú. Với sự hòa quyện của địa chất, biển cả và đời sống ngư dân, Gành Yến xứng đáng là một trong những địa điểm du lịch Quảng Ngãi độc đáo và mới lạ nhất.

Cửa biển Sa Cần Sa Cần là một trong năm cửa biển của người Quảng Ngãi, nơi đây sông Trà Bồng đổ ra biển. sách xưa gọi Sa Cần là Thái Cần hay Thế Cần. Sông Trà Bồng chảy đến gần cửa biển thì mở rộng lòng, nước rất êm. Giữa lòng sông nổi lên một quả núi nhỏ với nhiều tảng đá lớn chồng chất lên nhau, gọi là hòn Bà, sách Đại Nam Nhất thống chí gọi là “Ghềnh thạch Bàn”. Bên ngoài cửa biển, đối diện với hòn bà là hòn Ông, cũng nhiều đá nhưng có cây cối xanh tốt. Sa Cần không chỉ quyến rũ bởi vẻ thơ mộng của thiên nhiên mà còn hấp dẫn bởi nét sinh hoạt đặc trưng của ngư dân quanh cửa biển với tục thờ cá Ông, hội đua thuyền, hát bả trạo…
Thạch Ky điếu tẩu (Lão câu ghềnh đá) Ghềnh đá Thạch Ky Điếu Tẩu, là vùng non thanh thủy tú ở bờ nam cửa biển Sa Kỳ, Đây là cảnh đẹp thứ 2 của Quảng Ngãi do người lớp sau Nguyễn Cư Trinh đề vịnh và là cảnh cuối cùng trong Quảng Ngãi thập nhị cảnh từng được các văn nhân thi sỹ ngày xưa hết lời ca ngợi. Nơi đây nổi tiếng với những mỏm đá hình thù kỳ lạ, giống như những chiếc tẩu thuốc khổng lồ mọc lên giữa biển trời. Được hình thành từ dung nham núi lửa cách đây hàng triệu năm, ghềnh đá mang vẻ đẹp hoang sơ, hùng vĩ. Khi thủy triều xuống, bạn có thể dạo bước trên ghềnh đá, khám phá những hình thù độc đáo và check-in “sống ảo” cực chất.

Bãi Dừa Tư Nghĩa Khác với sự náo nhiệt của biển cả, bãi Dừa xã Tư Nghĩa lại mang vẻ đẹp bình dị và thanh mát. Nơi đây là một bãi cát trắng trải dài bên sông Vệ, với hàng dừa xanh rợp bóng, tạo không gian mát mẻ và lãng mạn. Nhiều du khách ví bãi Dừa như một “ốc đảo nhỏ” giữa lòng Quảng Ngãi – nơi có thể ngồi dưới tán dừa, ngắm dòng sông hiền hòa trôi lững lờ, hoặc tổ chức picnic cùng bạn bè. Chính sự mộc mạc ấy đã giúp bãi Dừa trở thành một địa điểm du lịch thú vị cho những ai yêu thiên nhiên và sự yên tĩnh.
Cổ Lũy cô thôn Thôn Cổ Lũy nằm cách trung tâm Quảng Ngãi khoảng 10km về hướng Đông. Nổi tiếng gắn liền với địa danh núi và sông Phú Thọ. Hai địa danh này là thắng cảnh đã nổi tiếng từ xa xưa với quần thể đá Granit nhiều hình dáng, ngọn núi thấp cùng bóng dừa bao quanh đổ bóng xuống dòng sông phẳng lặng như một bức tranh sơn thủy hữu tình. Và điều làm hấp dẫn người thưởng ngoạn chính là quang cảnh bao la, mênh mông của đồng lúa, dòng sông uốn lượn cùng dải biển dài xa tít khi đứng nhìn từ những tảng đá khổng lồ trên đỉnh núi. Không những thế, đây còn là nơi tọa lạc của rất nhiều thành cổ của người chăm cùng với nhiều truyền thuyết có giá trị lịch sử cao được ghi lại. Từ xưa núi Phú Thọ và Cổ Lũy cô thôn được xem là một trong những thắng cảnh của Quảng Ngãi và là nguồn cảm hứng vô tận cho nhiều thi nhân mặc khách.

Biển Sa Huỳnh Nằm ở cực nam biển Quảng Ngãi, biển Sa Huỳnh nằm trên trục đường Bắc – Nam, có trạm dừng nên rất tiện trở thành điểm đến của khách du lịch. Bãi cát của Sa Huỳnh nổi tiếng có màu vàng óng đẹp mắt, bởi vậy mà bãi biển này còn được gọi là Sa Hoàng (Cát Vàng), song do trùng với tên vua Nguyễn Hoàng nên đọc thành Sa Huỳnh. Có hình cong cong lưỡi liềm, kéo dài gần 6km, không có bãi đá ngầm, biển Sa Huỳnh là bãi biển lý tưởng cho những chuyến du lịch biển với hoạt động như bơi lội, vui chơi trên bãi biển. Không chỉ là bãi biển đẹp, nổi tiếng là vựa muối quan trọng ở miền Trung. Đến đây bạn có thể ngắm những cánh đồng muối trải dài, hay ghé thăm các thắng cảnh khác như ghềnh đá Châu Me, đảo Khỉ, khu di chỉ Văn hóa Sa Huỳnh. Đừng quên mua mắm nhum hay cua Huỳnh Đế để thưởng thức và làm quà.
Cánh đồng muối Sa Huỳnh Nay thuộc xã Sa Huỳnh, được hình thành từ thế kỷ 19. Vốn đã được biết đến từ lâu qua những bức ảnh vô cùng nghệ thuật của nhiều nhiếp ảnh gia trong nước và quốc tế. Không chỉ đẹp bởi nét đẹp lao động mà không gian đến cảnh vật đều vô cùng quyến rũ, du khách có cơ hội chiêm ngưỡng khoảnh khắc hoàng hôn thơ mộng và tận mắt chứng kiến cuộc sống của những diêm dân cả đời ngâm mình trong nước mặn để làm ra những hạt muối đậm đà.
Làng Gò Cỏ – Khám phá nét văn hóa Champa cổ Làng Gò Cỏ nằm gần bãi biển Sa Huỳnh, nổi tiếng với những ngôi nhà cổ và nền văn hóa Champa xưa. Du khách có thể trải nghiệm các hoạt động văn hóa truyền thống và khám phá những giá trị lịch sử độc đáo của vùng đất này.

Bãi biển Châu Me không mang vẻ đẹp mỹ lệ giống biển Mỹ Khê hay thơ mộng như biển Sa Huỳnh. Nhưng nơi đây đã thu hút được hàng nghìn khách du lịch ghé thăm bởi say mê vẻ đẹp hoang sơ đầy cuốn hút. Bãi biển thuộc phường Sa Huỳnh mới, biển Châu Me đầy thơ mộng, chưa được khai thác du lịch nhiều nên vẫn giữ được vẻ hoang sơ vốn có. Bãi biển thoai thoải, sóng gợn lăn tăn, thềm biển cạn tạo thành bãi cát hình trăng khuyết hòa vào làn nước biển xanh trong, bao bọc bởi những rặng dương xỉ nối với những dãy núi hùng vĩ chắn xung quanh. Tất cả tạo nên một bức tranh hữu tình, khung cảnh tuyệt mỹ xao xuyến tâm hồn của khách tham quan.
Đèo Vi Ô Lắk Nằm trên quốc lộ 24 – trục đường chính nối vùng Tây Nguyên với duyên hải Nam Trung Bộ, với chiều dài ước tính khoảng 50km. Đỉnh đèo nằm trên độ cao 1.300m so với mực nước biển, là điểm phân chia thời tiết giữa vùng Đông Trường Sơn và Tây Trường Sơn. Đèo Vi Ô Lắk ở Quảng Ngãi với vẻ đẹp vừa hùng vĩ, hiểm trở lại nên thơ, trữ tình khiến ai đã một lần đặt chân đến đều không thể quên.

Thành cổ Châu Sa – Di tích văn hóa Champa Nằm ở xã Tịnh Khê, thành cổ Châu Sa là một trong những dấu tích Champa quan trọng còn sót lại tại Quảng Ngãi. Thành được xây dựng từ thế kỷ 9 bằng đất nện, với lũy thành và hào nước bao quanh, mang giá trị lịch sử to lớn. Ngày nay, dù chỉ còn lại phế tích, nhưng thành cổ vẫn gợi cho du khách nhiều tò mò về một thời kỳ hưng thịnh của Champa. Ghé thăm thành Châu Sa, bạn sẽ vừa được tìm hiểu lịch sử vừa được chiêm ngưỡng cảnh quan đồng quê yên bình. Đây là điểm nhấn độc đáo trong bản đồ du lịch Quảng Ngãi.
Khu du lịch thác Trắng Minh Long cách trung tâm Quảng Ngãi tầm 38km. Nếu muốn tìm một nơi vừa hùng vĩ vừa mát lành, thác Trắng Minh Long chính là gợi ý tuyệt vời. Thác nước cao hơn 40m, tung bọt trắng xóa như dải lụa bạc giữa núi rừng. Âm thanh thác đổ hòa cùng tiếng chim hót, tiếng gió vi vu mang đến cho du khách cảm giác thư thái, tách biệt hoàn toàn với cuộc sống xô bồ. Đây là một trong những địa điểm du lịch lý tưởng cho những chuyến picnic, dã ngoại hay tắm suối. Không khí trong lành và khung cảnh nên thơ của thác Trắng chắc chắn sẽ khiến bạn lưu luyến mãi không quên.

Núi Thiên Ấn & Chùa Thiên Ấn – “Đệ nhất thắng cảnh” Quảng Ngãi Trong danh sách các địa điểm du lịch nổi tiếng Quảng Ngãi, núi Thiên Ấn và chùa Thiên Ấn là nơi mang đậm giá trị tâm linh và lịch sử. Núi nằm bên bờ sông Trà Khúc, với dáng hình như một chiếc ấn khổng lồ in trên trời đất, được người dân gọi là “ấn trời”. Trên đỉnh núi là chùa Thiên Ấn, ngôi chùa cổ linh thiêng được xây dựng từ thế kỷ 17, nổi tiếng với phong cảnh hữu tình và là nơi lưu giữ mộ phần của nhà thơ yêu nước Huỳnh Thúc Kháng. Khi đứng từ đây, du khách có thể phóng tầm mắt ngắm toàn cảnh thành phố Quảng Ngãi và sông nước hiền hòa bên dưới.

Khu chứng tích Sơn Mỹ Di tích vụ thảm sát Sơn Mỹ rộng 2,4 ha, cạnh tỉnh lộ 24B gồm các di tích gốc đã được bảo tồn tôn tạo và các công trình sau này mới được phục dựng. Nằm cách trung tâm Quảng Ngãi 13 km về phía đông bắc. Đây là nơi ghi lại tội ác của giặc Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Ngày 16.3.1968, một cuộc hành quân huỷ diệt được quân Mỹ thực hiện, đánh vào người dân Sơn Mỹ. 504 người đã chết, trong đó có 182 phụ nữ, 173 trẻ em, 60 cụ già, 24 gia đình, 247 ngôi nhà bị thiêu cháy. Vụ thảm sát Sơn Mỹ là tột cùng trong tội ác của đế quốc Mỹ đối với nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến tranh xâm lược.
Khu lưu niệm cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng Được biết đến là một khu lưu niệm của một cố thủ tướng vô cùng được nhiều người yêu mến, địa danh này còn mang nhiều ý nghĩa giá trị lịch sử lớn lao. Khu lưu niệm cố thủ tướng Phạm Văn Đồng có vị trí tọa lạc tại xã Mộ Đức – Quảng Ngãi.

Khu di tích Đặng Thùy Trâm Khu di tích Đặng Thuỳ Trâm là một điểm tham quan hút của giới trẻ, nằm ở xã Khánh Cường (huyện Đức Phổ cũ). Khu di tích gồm Bệnh xá Đặng Thuỳ Trâm cùng các điểm đến lịch sử khác gắn với hoạt động của bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm trong chiến tranh. Liệt sĩ – bác sĩ Đặng Thùy Trâm được biết đến với tác phẩm “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” là người Thừa Thiên – Huế sinh ra và lớn lên tại Hà Nội. Đặng Thuỳ Trâm nhận nhiệm vụ của một thầy thuốc ở chiến trường miền Nam, công tác tại bệnh viện huyện Đức Phổ. Chị hy sinh khi chưa đầy 28 tuổi, mang theo sức trẻ, ý trí chiến đấu cùng những hoài bão của tuổi trẻ.
Chùa Minh Đức Tọa lạc tại xã Tịnh Khê, Ngôi chùa nằm trên tại ngọn núi Thiên mã cao 75m so với mực nước biển, một trong ba ngọn núi vô cùng nổi tiếng tại Quảng Ngãi là núi Thiên Ấn, Thiên Mã, Thiên Bút. Chùa Minh Đức nằm trên tuyến đường Mỹ Trà – Mỹ Khê, nằm cạnh dòng sông Trà yên ả, đối diện chính là cầu Cổ Luỹ mới vừa được đưa vào sử dụng. Chùa Minh Đức nằm trong khu văn hoá Thiên Mã rộng khoảng 90ha, là khu du lịch tâm linh đầu tiên tại Quảng Ngãi. Đứng từ chùa Minh Đức bạn có thể phóng tầm nhìn bao quát cả một vùng trung tâm Quảng Ngãi. Ghé thăm chùa Minh Đức bạn không chỉ được viếng bái Đức Phật mà còn được thưởng ngoạn phong cảnh hữu tình bình yên của xứ Quảng.

Điều đặc biệt của chùa Minh Đức chính là bức tượng Quan Thế Âm Bồ Tát có chiều cao lên đến 122m đứng trên đài hoa sen, tay cầm bình nước cam lộ, được xem là bức tượng cao nhất Việt nam. Tượng được xây dựng bao gồm 25 tầng, du khách có thể di chuyển vào được bên trong và được sử dụng thang máy để lên các tầng phía trên. Tượng Quan Thế Âm Bồ Tát có hướng nhìn ra biển, như đang nhìn thấu hồng trần chúng sinh.
Rừng dừa nước Tịnh Khê Khu rừng dừa nước xanh mướt được bao bọc bởi đường bờ biển và làng mạc đang trở thành điểm du lịch sinh thái thu hút du khách. Sông Kinh Giang dài hơn 7km nối liền với cửa biển Cổ Lũy. Nơi đầu dòng sông thuộc xã Tịnh Khê có một rừng dừa nước hình thành hàng trăm năm trước. Theo các tài liệu lịch sử, với địa thế hiểm trở như “đám lá tối trời” nên rừng dừa nước từng là nơi trú ẩn của các lực lượng vũ trang trong những năm kháng chiến. Nằm sát rừng dừa là thôn Cổ Lũy. Đây là địa danh hiếm hoi hội tụ nhiều yếu tố sông biển, núi non và làng mạc. Vùng đất thanh bình nổi tiếng bởi khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp suốt bốn mùa. Ngày nay, Cổ Lũy cô thôn là một trong 12 danh thắng của vùng Đông Quảng Ngãi. Do địa hình ngập nước, phương tiện chính để di chuyển tại đây là các loại ghe, thuyền. Tìm về rừng dừa nước Tịnh Khê du khách được hòa mình vào màu xanh tươi mát giữa những ngày hè oi ả. Du khách trải nghiệm chèo thuyền băng qua các con lạch, thưởng thức trái dừa nước và cùng người dân làm nghề thủ công.

Núi Cà Đam Với độ cao hơn 1.400m, núi Cà Đam được mệnh danh là “nóc nhà Quảng Ngãi”. Đây là điểm trekking yêu thích của những bạn trẻ ưa thích khám phá và chinh phục thử thách. Đường lên núi băng qua những cánh rừng già, thác nước mát lạnh và nhiều loài hoa dại rực rỡ. Khi lên đến đỉnh, du khách có thể phóng tầm mắt ra xa để chiêm ngưỡng toàn cảnh núi rừng hùng vĩ, biển xanh mờ ảo phía xa. Không khí trong lành, mây trời bồng bềnh sẽ mang lại cảm giác tự do, khoáng đạt hiếm có. Đây chắc chắn là một trong những địa điểm du lịch Quảng Ngãi lý tưởng cho những chuyến du lịch trải nghiệm và hòa mình vào thiên nhiên.

Đèo Long Môn là đoạn đèo nằm ở ngã ba Thanh An đến ngã ba Sơn Kỳ. Đi trên cung đèo này, bạn sẽ được chiêm ngưỡng khung cảnh hùng vĩ như lạc ở Tây Bắc vậy. Từ đây, bạn phóng tầm mắt xuống khung cảnh phía dưới, mọi thứ đẹp đến nghẹt thở sẽ khiến bạn không ngừng thốt lên ngạc nhiên và chụp ở góc nào cũng cho ra những bức ảnh vô cùng hút hồn.
Thảo nguyên Bùi Hui Thảo nguyên thuộc xã Đặng Thùy Trâm (Ba Trang, huyện Ba Tơ cũ), nơi được mệnh danh là thủ phủ trâu của Quảng Ngãi, cách trung tâm Quảng Ngãi khoảng 70km về phía tây nam. Bùi Hui rộng hàng chục ha giữa đất trời bao la, có đồi sim tím thơ mộng. Mùa sim chín khoảng tháng 6-7 là lúc người dân địa phương mặc trang phục truyền thống ra đồi hái sim. Bạn có thể check-in với hoa, quả sim, mua rượu sim của người H’Re bản địa. Bình minh và hoàng hôn trên thảo nguyên có mây và sương phủ, khiến du khách cảm thấy như chạm tới chân trời. Đây là nơi thích hợp để dã ngoại, cắm trại cùng bạn bè, gia đình sau những ngày bận rộn.

Khu bào tồn thiên nhiên Kon Chư Răng Điểm du lịch Quảng Ngãi Kon Chư Răng là khu bảo tồn thiên nhiên thuộc đia phận tỉnh Gia Lai và một phần nằm ở tỉnh Quảng Ngãi. Nơi đây đích thực là thiên đường cho những ai ham mê trekking bởi những khu rừng ở đây rất lý tưởng nhờ vào hệ sinh thái chuyển tiếp giữa vùng Đông và Tây của dãy Trường Sơn.
IX. Văn hóa ẩm thực vùng Đông Quảng Ngãi
Mảnh đất phía đông Quảng Ngãi được biết đến không chỉ là vùng đất địa linh nhân kiệt mà còn được thiên nhiên ưu đãi cho những sản vật đặc trưng, mang đậm hương vị rất riêng của xứ sở.

Cá Bống Sông Trà Người dân Quảng Ngãi vẫn thường nói “Cá bống kho tiêu, cá thiều nấu ngọt” để chỉ sức hấp dẫn của món cá bống sông Trà. Và ngày nay, cá bống kho tiêu trở thành thương hiệu đặc sản ẩm thực nổi tiếng của vùng núi Ấn- sông Trà.
Don sông Trà Khúc Dòng sông Trà Khúc, trước khi hoà mình vào đại dương bao la, tại nơi vị ngọt của sông giao hòa với vị mặn của biển đã hình thành vùng cư trú của một loài nhuyễn thể nước lợ, đó là con don. Món don mộc mạc, giản đơn nhưng nó ngọt lạ lùng, kỳ tuyệt vì con nước “chè hai”, vì hương vị của sông nước Trà giang.
Đặc sản kẹo gương hấp dẫn ngay từ tên gọi vì loại kẹo này có màu vàng ươm của đậu phộng, trắng vàng của mè và trong như pha lê. Kẹo gương là sản phẩm của sự giao thoa văn hóa giữa người Hoa và người Việt ở phố cổ Thu Xà. Giờ đây, kẹo gương không chỉ lọt vào tốp 10 đặc sản kẹo mứt nổi tiếng có vị ngon thanh khiết Việt Nam mà còn nổi tiếng trong câu ca “Ai về Quảng Ngãi quê ta/Mía ngon đường cát trắng ngà dễ ăn/Mạch nha, đường phổi, đường phèn/Kẹo gương thơm ngọt ăn quen lại ghiền”.
Nói đến đặc sản của Quảng Ngãi, ngoài cá bống sông Trà, kẹo gương và don còn có đặc sản thiên nhiên nổi tiếng Việt Nam là quế Trà Bồng, mạch nha, đường phèn, đường phổi, hành, tỏi Lý Sơn… cũng nổi tiếng không kém.
Du lịch Quảng Ngãi du khách không chỉ đến với những địa danh nổi tiếng nơi đây, được khám khá về cuộc sống con người mà còn thưởng thức những món ngon đặc sản, có những món nghe thôi cũng thấy rất lạ hiếm địa phương nào có được như là: Cá bống kho tiêu, cá Niên nướng, ram thịt nướng, Hải sản, cua Huỳnh Đế, Cúm Núm Sa Huỳnh, chim mía, cá Tà Ma, mì Quảng, ram Bắp, bún chả cá, bún cá ngừ um, bún Riêu Cua, Ốc hút cay, Bánh tráng đập, Gỏi tỏi Lý Sơn, Rong biển sấy Lý Sơn, bánh Bèo, bánh Xèo, bánh tráng mè, bánh Ít lá Gai, kẹo gương, kẹo mạch nha, Đường phổ, Đường phèn, rượu cần Hrê, rau dớn xào tỏi Ba Tơ, rau Ranh nấu ốc đá, bánh Đúc lạc người Hrê, Xu Xoa, bánh Bó, bánh In, bánh Thuẫn, bánh Mè cây mặn, bánh nổ, bánh mì xốp, mắm Nhum, tỏi Lý Sơn, quế Trà Bồng,…

Ẩm thực Quảng Ngãi phản ánh nét mộc mạc nhưng tinh tế của người dân vùng đất duyên hải miền Trung, để lại ấn tượng khó quên cho du khách.
Đông Quảng Ngãi là vùng đất của những biến động địa chất hàng triệu năm kiến tạo, từ một Lý Sơn sống động về văn hóa, lịch sử, được hình thành từ những lớp nham thạch núi lửa biển đến vùng đồng bằng ven biển hay vùng núi cao đều chứa đựng những bí ẩn, đầy kì thú của vũ điệu thời gian từ thủa khởi nguồn sự sống đến ngày nay. Và có lẽ sức hấp dẫn khiến du khách yêu mến, lưu luyến vùng đất Quảng Ngãi này chính là phẩm chất đôn hậu, thủy chung, sâu nặng ân tình, kiên cường, bất khuất của những người con xứ Quảng đã đồng cam cộng khổ trong suốt chiều dài lịch sử xây dựng, bảo vệ và phát triển quê hương núi Ấn, sông Trà.
KPVN Tổng Hợp
