GIỚI THIỆU CHUNG
VỀ VÙNG ĐÔNG BẮC
GIỚI THIỆU
VÙNG ĐÔNG BẮC
Đông Bắc Bộ là một trong những vùng văn hoá lớn của Việt Nam. Nơi đây có núi non kì vĩ, phong cảnh hữu tình nên thơ, là nơi sinh sống của nhiều dân tộc khác nhau. Chính sự đa dạng tộc người đã làm phong phú về bản sắc văn hóa, với nhiều đặc trưng văn hóa vật thể và phi vật thể.
A. VÙNG VĂN HÓA ĐÔNG BẮC Ở ĐÂU
Vùng Đông Bắc là vùng lãnh thổ ở hướng Bắc vùng đồng bằng sông Hồng, Việt Nam. Gọi là đông bắc để phân biệt với vùng tây bắc, còn thực chất nó ở vào phía Bắc và Đông Bắc của Hà Nội. Vùng Đông Bắc Bộ là một trong 3 tiểu vùng địa lý tự nhiên của Bắc Bộ Việt Nam (2 tiểu vùng kia là Vùng tây bắc và Đồng bằng sông Hồng). Sau sáp nhập Đông Bắc Bộ gồm các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Tuyên Quang, vùng núi Bắc Giang (cũ), Vĩnh Phúc & Phú Thọ (cũ) và Quảng Ninh.
(về kinh tế xã hội: Bắc Giang sáp nhập với Bắc Ninh thành 1 tỉnh thuộc vùng Đồng bằng Sông Hồng; Quảng Ninh còn thuộc Duyên hải Bắc Bộ, nằm trong vùng quy hoạch phát triển Đồng bằng sông Hồng).

Vùng Đông Bắc được giới hạn về phía bắc và đông bởi đường biên giới Việt –Trung, phía Đông Nam hướng ra vịnh Bắc Bộ, ranh giới phía Nam giới hạn bởi dãy núi Tam Đảo và vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng.
Đây là vùng núi và trung du với nhiều khối núi và dãy núi đá vôi hoặc núi đất. Phần phía tây, được giới hạn bởi thung lũng sông Hồng và thượng nguồn sông Chảy, cao hơn, được cấu tạo bởi đá granit, đá phiến và các cao nguyên đá vôi. Thực chất, đây là rìa của cao nguyên Vân Nam, những đỉnh núi cao của vùng Đông Bắc đều tập trung ở đây, như Tây Côn Lĩnh, Kiêu Liêu Ti.
Phần phía bắc sát biên giới Việt-Trung là các cao nguyên (sơn nguyên) lần lượt từ tây sang đông gồm: cao nguyên Bắc Hà, cao nguyên Quản Bạ (1.000-1200m) cao nguyên Đồng Văn (cao 1600m). Sông suối chảy qua cao nguyên tạo ra một số hẻm núi dài và sâu. Cũng có một số đồng bằng nhỏ hẹp, đó là Thất Khê, Lộc Bình.
Phía đông, từ trung lưu sông Gâm trở ra biển, thấp hơn có nhiều dãy núi hình vòng cung quay lưng về hướng Đông lần lượt từ Đông sang Tây là vòng cung Sông Gâm, Ngân Sơn-Yên Lạc, Bắc Sơn, Đông Triều. Núi mọc cả trên biển, tạo thành cảnh quan Hạ Long nổi tiếng. Các dãy núi vòng cung này hầu như đều chụm đuôi lại ở Tam Đảo.
Phía tây nam, từ Phú Thọ kéo sang đến Bắc Giang (cũ) thấp dần về phía đồng bằng là “vùng trung du”. Độ cao chừng 100–150 m, đặc trưng của vùng Trung du là có vùng Đồng Bằng khá rộng bị chia cắt bởi gò đồi.
Vùng Đông Bắc có nhiều sông chảy qua, trong đó các sông lớn thuộc hệ thống sông Hồng, hệ thống sông Thái Bình, sông Bằng, sông Bắc Giang, sông Kỳ Cùng, v.v…Vùng biển Đông Bắc có nhiều đảo lớn nhỏ.
B. KHÍ HẬU VÙNG ĐÔNG BẮC BỘ
Tuy nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm nhưng vì địa hình cao, lại có nhiều dãy núi hình cánh cung mở ra ở phía bắc, chụm đầu về Tam Đảo, vào mùa Đông có gió Bắc thổi mạnh, rất lạnh, còn mùa hè mát mẻ, do đó vùng này có khí hậu cận nhiệt ẩm. Vùng núi ở Hà Giang (cũ), Cao Bằng, Lạng Sơn có thể có lúc nhiệt độ xuống dưới 0°C và có băng giá, đôi khi có tuyết rơi. Các vùng ở đuôi các dãy núi cánh cung cũng rất lạnh do gió.
Khí hậu cận nhiệt đới ẩm, bởi vậy, Đông Bắc Bộ có thế mạnh đặc biệt để phát triển cây công nghiệp có nguồn gốc cận nhiệt và ôn đới. Đây chính là vùng chè lớn nhất cả nước, với các loại chè nổi tiếng.
C. CÁCH ĐI ĐẾN CÁC TỈNH VÙNG ĐÔNG BẮC
Để đi đến vùng Đông Bắc du khách có thể đi bằng nhiều loại phương tiện khác nhau:
– Du khách trong nước và quốc tế có thể đặt vé đến Sân bay quốc tế Nội Bài – HN, Vân Đồn – QN. Đi tuyến đường sắt Bắc – Nam đến Hà Nội hay xe khách Bắc Nam đến Hà Nội và các tỉnh Đông Bắc.
– Từ HN làm trung tâm du khách di chuyển bằng tàu hỏa tuyến Hà Nội – Lạng Sơn – Bằng Tường (Trung Quốc), các tuyến xe khách, xe buýt hoặc bằng xe máy trải nghiệm vùng Đông Bắc là vô cùng thuận lợi.
Hệ thống đường ô tô bao gồm các tuyến quốc lộ Quốc lộ 2 chạy từ Hà Nội – Phú Thọ – Tuyên Quang – Mèo Vạc.
Quốc lộ 3 Hà Nội – Thái Nguyên – Bắc Cạn- Cao Bằng – Thuỷ Khẩu.
Quốc lộ 18 (ngang) Nội Bài – Bắc Ninh – Uông Bí – Đông Triều – Móng Cái.
Quốc lộ 4 (ngang) Móng Cái – Lạng Sơn – Cao Bằng – Đồng Văn và nối liền với cửa khẩu Việt Trung…
Đường 3A(13A) từ Lạng Sơn- Bắc Sơn- Thái Nguyên- Tuyên Quang – Yên Bái gặp đường số 2.
Quốc lộ 37 chạy từ Chí Linh (Hải Dương) – Thái Nguyên – Tuyên Quang – Yên Bái – đi Sơn La.
Đi du lịch các tỉnh Vùng Đông Bắc theo Tour du lịch đây là cách đi du lịch phổ biến và an toàn nhất, khách du lịch nên áp dụng, đặc biệt là khi đi theo đoàn. Nếu đi du lịch theo Tour, xuất phát từ Hà Nội hoặc bất cứ đâu, giá Tour sẽ tùy theo điểm xuất phát và số ngày bạn tham quan du lịch.
D. ĐÔI NÉT VỀ LỊCH SỬ, VĂN HÓA VÙNG ĐÔNG BẮC BỘ
1. Sơ lược về lịch sử – địa chất hình thành

Địa hình đặc biệt của Cao nguyên đá. Ảnh: Chu Việt Bắc
Cơ sở lục địa của Trung du và vùng núi phía Bắc được hình thành từ liên đại Nguyên sinh cách đây gần 600 triệu năm. Biển tiến và thoái liên tục cho đến chu kỳ tạo núi Indochina thì miền đông bắc thoát hẳn khỏi chế độ biển và bắt đầu chế độ lục địa. Vận động tạo núi Himalaya sau đó lan tới đây làm cho toàn miền được nâng lên và cũng đồng thời tạo ra những đứt gãy. Đất bị phơi trần và chịu tác động của nắng, mưa và gió nên không ngừng bị phân hủy trong khi các đỉnh núi bị san mòn bớt.
– Cho đến khoảng 800 nghìn năm: Một viên thiên thạch rơi xuống khu vực mà ngày nay là Việt Nam, làm thay đổi hệ thống sinh thái của Đông Nam Á một cách trầm trọng. Tuy nhiên, trong một khoảng thời gian tương đối ngắn sau đó, trong khu vực có thể tìm thấy được các động vật thuộc Họ Người. Các động vật này đã tìm được một số đống đá mới nhồi lên, rất tốt trong việc chế tạo đồ đá
– 600 nghìn năm: Người vượn đứng thẳng xuất hiện
– 200 nghìn năm: Người vượn thông minh xuất hiện
– 70-11 nghìn năm (giữa và cuối thế Canh Tân) Vịnh Hạ Long: đánh dấu thời kỳ khi các hang động nổi tiếng của khu vực được tạo ra.
(Giai đoạn văn hóa Sơn Vi: Cách dãy biển tiến sau băng hà Vuyếc-mơ, tràn vào ngập toàn bộ đồng bằng và vùng thấp ven đồi núi. Người nguyên thủy Sơn Vi tạm lánh lên vùng núi Hòa Bình – Bắc Sơn).
– 17 nghìn năm, Các dải đồi hai bên bờ sông Thao có mấy chục thị tộc người nguyên thủy cư trú. Họ là chủ nhân nền văn hóa hậu kỳ đồ đá cũ Sơn Vi.
– Đầu thế Toàn Tân(Holocen): Các đảo của vịnh Hạ Long ngày nay về cơ bản là tàn dư của các dãy núi này bị ngập lụt. Nước mưa chảy vào các kẽ hở trong đá vôi đã được hình thành từ hoạt động kiến tạo. Quá trình xói mòn đều đều này liên tục mở rộng các đường rạn vỡ này, cuối cùng tạo ra các thành tạo đá của ngày nay
– 11-7 nghìn năm (thế Toàn Tân): Vịnh Hạ Long – đáng chú ý vì sự dâng lên của biển
– Trước 7 nghìn năm: Nước biển rút khỏi đồng bằng. Sau đó trải hàng ngàn năm mưa lũ thau chua rửa mặn và phù sa màu mỡ các con sông bồi đắp làm hồi sinh thảm thực vật. Quần thể động vật như chim thú, cá tôm nhuyễn thể trở nên sầm uất, tạo nên môi trường sống hết sức thuận lợi cho con người
(Đầu của cuối thế Toàn Tân: Vịnh Hạ Long – mực nước biển lại dâng lên một lần nữa, tạo thành lớp nền lầy lội của các con kênh và suối, và tạo ra các dấu nước có thể nhìn thấy trên các vách đá vôi ngày nay).
– 7-4 nghìn năm: Chuyển động dâng lên của biển đạt tới đỉnh điểm và tạo thành vịnh Hạ Long ngày nay
– 4-3 nghìn năm: Với biển trong quá trình rút xuống đều đều, nền văn hóa Hạ Long đã bắt đầu phát triển
Các sự kiện địa chất đáng chú ý nhất trong lịch sử Việt Nam và vịnh Hạ Long bao gồm sự mở rộng của biển, tăng lên của diện tích vịnh và xói mòn mạnh đã tạo thành san hô và nước biển màu xanh lam thuần khiết với độ mặn cao. Quá trình xói mòn của nước biển đã ăn sâu vào đá, góp phần tạo ra vẻ đẹp diệu kỳ của nó. Vịnh Hạ Long ngày nay là kết quả của quá trình tiến hóa địa chất kéo dài và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố này.
Do tất cả các yếu tố này mà các du khách hiện nay đến thăm vịnh Hạ Long không chỉ coi nó như là một trong những kì quan của thế giới, mà còn như một viện bảo tàng địa chất quý giá được bảo tồn một cách tự nhiên ngoài trời trong 300 triệu năm gần đây.
2. Văn hoá Vùng Đông Bắc
Một số mốc thời gian văn hóa tiêu biểu của vùng Đông Bắc
Khoảng 2.500 năm TCN: Đây là nền văn hóa của văn hóa Đông Sơn. Thời kỳ này, người Việt cổ đại đã có sự chuyển biến mạnh mẽ sang một xã hội đa dạng và phong phú nên đẩy mạnh việc hình thành nhà nước sơ khai của người Việt. Họ đã biết đúc đồng, làm đồ đồng,…
Khoảng 1.000 năm TCN: Khi ấy, do chưa có chữ viết nên đến thời kì Bắc thuộc, mới có ghi chép rằng người Việt đã học chế tác đồ sắt từ người Trung Hoa nhưng lại có giả thuyết rằng họ đã biết chế tác đồ sắt từ thời kỳ sớm hơn. Vùng Đông Bắc đã gắn bó chặt chẽ với trung tâm đặt nước và người Việt ở châu thổ Bắc Bộ, do vị trí địa lý và lịch sử của nó. Ngoài ra, vùng này còn là một điểm giao thoa văn hóa giữa nước ta và phía Bắc, với sự ảnh hưởng rõ rệt từ văn hóa Hán, bên cạnh những ảnh hưởng văn hóa của người Kinh.
Thế kỷ thứ 1 đến Thế kỷ 10: Người dân Đông Bắc đã chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Hán về tư tưởng, tôn giáo, chữ viết, kiến trúc,… Song vẫn giữ được những nét văn hoá đặc trưng và không bị đồng hóa. Họ đã tham gia vào quá trình xây dựng, đấu tranh, phát triển và giữ gìn bỡ cõi nước nhà dưới thời Lý, Trần, Lê,…
Thế kỷ 20: Văn hóa vùng Đông Bắc tiếp tục giữ gìn những bản sắc dân tộc kết hợp phát triển, hội nhập với văn hóa thế giới.
Bản sắc văn hóa độc đáo và đa dạng
Ngày nay, Vùng Đông Bắc Việt Nam là nơi sinh sống của nhiều dân tộc như Kinh, Tày, Nùng, Hmông, Dao, Sán Dìu, Lô Lô, Pà Thẻn, Bố Y, Phù Lá, La Chí, Pu Péo, Cờ Lao, Thổ… thuộc các nhóm ngôn ngữ Việt – Mường; Tày – Thái; Hmông – Dao; Hán – Tạng; Kra Đai. Sự đa dạng về thành phần các dân tộc cũng đồng nghĩa với việc đa dạng về ngôn ngữ, văn hóa, tín ngưỡng, trang phục, lối sống, ngành nghề thủ công…Vốn văn hóa của các dân tộc trong vùng đã góp phần tạo nên nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc của Việt Nam.
Một trong những nét văn hóa đặc trưng của đồng bào các dân tộc vùng Đông Bắc là các lễ hội truyền thống, sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng, các làn điệu dân ca, dân vũ đặc sắc như: Lễ hội Nào Sồng, Lễ hội Gầu Tào, Lễ hội cúng rừng của người Mông. Nghi lễ cấp sắc, nghệ thuật hát Páo Dung của người Dao. Lễ nhảy lửa của người Pà Thẻng. Lễ hội đình Hồng Thái. Điệu Sình ca của người Cao Lan. Làn điệu Soọng Cô của người Sán Dìu. Hát Xoan Phú Thọ. Hát ru của người Tày, Lễ ăn hỏi, Lễ cưới, Cây hoa báo hiếu, Lễ hội Hội tranh đầu pháo, Hội Lồng Tồng, Tết Đoan Ngọ, Tết Rằm tháng bảy, Lễ hội Cầu Trăng, Nghi lễ Then Tày, Then Khoăn của người Tày, Nùng vv… Nổi bật như là lễ hội lồng tồng (xuống đồng) của người Tày, Nùng. Nghi lễ chính của lễ hội lồng tồng là rước thần đình và thần nông ra đồng, để vừa tạ ơn đất trời, vừa cầu mong một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Sau phần lễ, phần hội thường là các trò chơi dân gian như đánh quay, đánh yến, tung còn, nhảy sạp… Ngày nay, lễ hội lồng tồng không chỉ dành riêng cho đồng bào bản địa mà còn là nơi để hàng nghìn du khách đến giao lưu tìm hiểu và tận hưởng không khí vui tươi trong ngày xuân mới.
Ngoài ra, hoạt động văn hóa chợ cũng là một đặc điểm văn hóa đặc trưng của vùng Việt Bắc. Văn học dân gian của Việt Bắc có sự đa dạng và phong phú. Một điều đáng chú ý khác là sự hình thành của tầng lớp trí thức Tày-Nùng từ rất sớm, bao gồm trí thức dân gian như các thày Mo, Then, Tào, Put,…
Bên cạnh lễ hội, ẩm thực cũng là một trong những thành tố đặc trưng của vùng, với nhiều món ăn nức tiếng cả nước được du khách tìm đến thưởng thức. Một số món ăn, thức uống đặc sản nổi tiếng của vùng như lợn quay, vịt quay Lạng Sơn; cơm lam Định Hóa; bánh khảo Cao Bằng; chè Thái Nguyên; Thắng cố, rượu ngô, chè shan tuyết – Hà Giang…
Trong số các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc thì người Tày, Nùng là cư dân bản địa lâu đời nhất, có số dân đông nhất. Người Tày, Nùng hiện đang sở hữu di sản văn hoá thực hành tín ngưỡng then – một loại hình diễn xướng văn hoá dân gian được UNESCO vinh danh là di sản văn hoá phi vật thể nhân loại bên cạnh nghệ thuật Hát Xoan Phú Thọ. Tại vùng Đông Bắc, hát then có ở hầu hết các tỉnh. Hát then, đàn tính ẩn chứa những giá trị lịch sử, văn hóa lâu đời của đồng bào dân tộc Tày, Nùng, phản ánh từ chuyện đời sống, bản mường, đến chuyện tình yêu, ma chay, cưới hỏi.
Đông Bắc còn sở hữu hệ thống các núi, đồi, sông, hồ, hang động, đặc điểm khí hậu, các khu bảo tồn, đặc biệt là hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ. Trong đó, điển hình có các khu du lịch quốc gia như: Thác Bản Giốc, Hồ Ba Bể, núi Mẫu Sơn, Tân Trào, Hồ Núi Cốc, Tam Đảo,…Đặc biệt còn có các di sản được UNESCO vinh danh như Công viên địa chất toàn cầu Non nước Cao bằng, Công viên địa chất toàn cầu Lạng Sơn, Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn hay Di sản thiên nhiên thế giới kép Vịnh Hạ Long.
Vùng Đông Bắc còn được biết đến là cái nôi của cách mạng với chiến khu Việt Bắc, hiện vẫn còn lưu giữ nhiều di tích gắn với sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh như: Hang Pác Bó – Cao Bằng, Tân Trào – Tuyên Quang, Định Hóa – Thái Nguyên và các di tích gắn với lịch sử chống giặc ngoại xâm của cha ông như Ải Chi Lăng – Lạng Sơn;… Đặc biệt, vùng Đông Bắc có đường biên giới quốc gia dài gần 800km và hệ thống cửa khẩu đường bộ với Trung Quốc là tiềm năng phát triển du lịch biên giới.
Hoạt động văn hóa du lịch
Nhiều khu, điểm du lịch của vùng Đông Bắc đã nhận được những giải thưởng danh giá của World Travel Awards (giải thưởng danh giá nhất của Tổ chức giải thưởng du lịch thế giới), tiêu biểu như: Hà Giang được nhận giải thưởng “Điểm đến du lịch mới nổi hàng đầu châu Á” năm 2023; cảng Hàng không quốc tế Vân Đồn của Việt Nam là “Sân bay khu vực hàng đầu châu Á 2024” và Premier Village Ha Long Bay Resort, Quảng Ninh là “Khu nghỉ dưỡng cho gia đình hàng đầu châu Á 2024”… Qua đó, khẳng định thương hiệu và vị thế của du lịch Đông Bắc trên trên bản đồ du lịch Việt Nam.
E. DU LỊCH VĂN HÓA VÙNG ĐÔNG BẮC
Đông Bắc là một trong những khu vực có nhiều địa hình đa dạng và phong cảnh thiên nhiên đẹp nhất tại Việt Nam. Vùng này là nơi sinh sống của rất nhiều dân tộc thiểu số, cũng chính vì vậy mà nơi đây có nền văn hóa vô cùng đa dạng và phong phú. Đông Bắc thực sự là một nơi đáng để khám phá và trải nghiệm.
1. Địa danh du lịch Tuyên Quang
Cao nguyên đá Đồng Văn, Từ KM 0 Hà Giang đi theo quốc lộ 4C – Con đường Hạnh Phúc, vượt qua dốc Bắc Sum ta sẽ đến với Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn. Trải rộng trên 4 huyện vùng cao của tỉnh Hà Giang cũ gồm: Quản Bạ, Yên Minh, Mèo Vạc, Đồng Văn, đến với cao nguyên miền đá xám, đến với quê hương sinh sống của 17 dân tộc anh em đã đoàn kết vượt qua thiên nhiên khắc nghiệt, biến những dãy núi đá tai mèo khô cằn phải khơi sinh sự sống, nở hoa.

Người dân nơi đây có câu nói “sống trên đá, chết vùi trong đá”. Cao nguyên đá Đồng Văn với bạt ngàn là đá núi. Đá dựng thành giăng lũy, đá bao phủ khắp núi non hiểm trở, lớp nọ chồng lớp kia đủ các hình thù kỳ dị như cuộc triển lãm các hòn non bộ kỳ vĩ, khổng lồ của đất trời. Đá vốn rắn đanh khắc khổ mà khi quần tụ bên nhau trên Cao nguyên Đồng Văn cũng như biết khoe mình làm dáng với thiên hình vạn trạng làm nên những “vườn đá”, “rừng đá” độc đáo. Ở nơi đây, đá làm nhà, làm bờ rào, đá giữ đất cho nương rẫy, giữ nước cho những mùa khô. Trẻ em sinh ra, núm ruột hồng được vùi vào trong đá. Trai gái yêu nhau, tỏ tình bên bờ rào đá. Những phiên chợ rực rỡ sắc màu, cũng hiện lên từ đá, đá như có số phận, đá như có linh hồn.
Đèo Mã Pì Lèng – Sông Nho Quế Đèo Mã Pì Lèng hay còn gọi là Mả Pí Lèng, Mã Pỉ Lèng (nghĩa là “sống mũi con ngựa”) được mệnh danh là vua của các con đèo ở vùng núi phía Bắc. Đỉnh Mã Pì Lèng nằm ở độ cao 1.200m thuộc Cao nguyên đá Đồng Văn trên con đường mang tên Hạnh Phúc nối liền thành phố Hà Giang với các huyện Đồng Văn và Mèo Vạc (cũ). Từ trên đỉnh Mã Pì Lèng, du khách có thể ngắm nhìn toàn cảnh Cao nguyên đá Đồng Văn. Khung cảnh núi non hùng vĩ với một bên là vách núi dựng đứng, một bên là vực sâu sông Nho Quế nước xanh màu ngọc bích. Hẻm Tu Sản nằm dưới chân đèo Mã Pí Lèng, là một vực sâu thuộc kiểu di sản kiến tạo địa mạo, di sản cổ sinh- địa tầng- cổ môi trường là danh thắng kỳ vĩ độc nhất của vùng cao nguyên đá Đồng Văn, Hà Giang.
Du khách có thể đến với Mã Pì Lèng từ tháng 1 đến tháng 3 vì đây là thời điểm của các những mùa hoa như hoa mận, đào, cải, tháng 4 lại thu hút với phiên chợ tình Khâu Vai, tháng 9 hấp dẫn với mùa lúa chín trên Hoàng Su Phì hay tháng 11 và tháng 12 là mùa của hoa tam giác mạch. Mã Pì Lèng độc đáo, hiểm trở nhưng tuyệt đẹp, đáng để du khách chinh phục trong hành trình đến với mảnh đất Hà Giang xinh đẹp.
Dinh Thự Vua Mèo Với một kiến trúc công trình độc đáo, được xây dựng từ đầu
thế kỷ 20 mô phỏng theo kiết trúc cổ Trung Hoa (đời Mãn Thanh). Đặc biệt là những đường cong, nét lượn, trạm trổ tinh xảo. Hay những viên đá xanh, những cột gỗ sa mộc và ngói đất nung lợp theo lối âm – dương. Trong dinh thự các bộ phận dù bằng đá hay gỗ đều được những bàn tay khéo léo của những người thợ thời kỳ bấy giờ chạm khắc cầu kỳ, khéo léo tượng trưng cho sự trường tồn, hưng thịnh của các dòng họ quyền quý. Dinh thự nhà Vương không chỉ là một công trình kiến trúc độc đáo mà còn là pháo đài phòng thủ giữa Cao nguyên đá Đồng Văn trong thời điểm lịch sử đó . Đồng thời nó cũng phản ánh lên chế độ thổ ty phong kiến của một vùng đất biên giới địa đầu cực Bắc Tổ quốc đã hiện hữu một thời.
Hoàng Su Phì là một vùng đất nằm ở phía Tây của tỉnh Hà Giang cũ. Đây là nơi sinh sống của 12 dân tộc khác nhau, trong đó chiếm đa số là dân tộc Nùng, Mông, Tày, Dao và La Chí… Đến nơi đây, Hoàng Su Phì, một không gian mênh mông mở ra trước mắt bạn với những dãy núi trùng điệp thoắt ẩn, thoắt hiện trong màn sương mờ ảo. Những cánh rừng nguyên sinh xen lẫn những thách nước trắng xóa tựa như trong những bức họa kỳ vĩ. Những nương chè shan tuyết cổ thụ xanh ngát, bên cạnh là những thửa ruộng bậc thang xếp tầng, chín vàng một khoảng trời trải dọc các sườn đồi…
Để có bắt trọn khung cảnh đẹp nhất của phong cảnh thiên nhiên này, du khách nên tìm đến các địa điểm: Bản Phùng – một ngôi làng gần biên giới với Trung Quốc. Ruộng bậc thang Bản Luốc – Sán Sả Hồ. Ruộng bậc thang Nậm Ty hoặc Hồ Thầu. Thông Nguyên,… Đây là những điểm ngắm ruộng bậc thang đẹp nhất ở Hoàng Su Phì…
Những địa danh du lịch vùng Hà Giang khác: Đỉnh Tây Côn Lĩnh, núi Chiêu Lầu Thi, Thảo nguyên Suôi Thầu, Km0 – Hà Giang, Phố cổ Đồng Văn, Cột cờ Lũng Cú, Làng văn hóa Lũng Cẩm – Chuyện của Pao, Làng H’Mông Pả Vi, Chợ phiên Mèo Vạc, Chợ tình Khâu Vai, Bãi đá Mặt Trăng, Cổng trời – Núi đôi Quảng Bạ, Dốc chín Khoanh, Dốc Thẩm Mã, Làng Sảo Há (làng địa ngục), Phó Bảng, Phố cáo, Rừng thông Yên Minh, Cây nghiến cô Đơn, Bản Du Già, Lùng Tám, Những cánh đồng tam giác mạch, vv…
Khu du lịch Tân Trào – Tuyên Quang là một chuỗi thắng cảnh thuộc Quần thể Di tích Quốc gia đặc biệt Tân Trào. Đây là một điểm tham quan không chỉ sở hữu cảnh quan đẹp mà còn lưu giữ những dấu tích lịch sử hào hùng của dân tộc.
Tân Trào vinh dự được chọn là “Thủ đô Khu giải phóng”, “Thủ đô kháng chiến”, là một chứng tích của lịch sử Việt Nam, gắn liền với hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng,… đã ở và làm việc. Nơi đây được biết đến với những địa danh nổi tiếng như: Lán Nà Nưa, cây đa Tân Trào, đình Tân Trào, đình Hồng Thái, Lán Hang Bòng… đã đi vào lịch sử, thơ ca, trở thành niềm tự hào của nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang và đồng bào cả nước.

Khu du lịch Tân Trào là một chuỗi thắng cảnh thuộc Quần thể Di tích Quốc gia đặc biệt Tân Trào
Vùng du lịch sinh thái Na Hang Na Hang là một trong những điểm du lịch Tuyên Quang nổi tiếng, được biết đến như một địa điểm lý tưởng để “trốn nóng” vào mùa hè. Cách TT Tuyên Quang 110km và Hà Nội 240km, Na Hang rộng 15.000 ha, trong đó 8.000 ha là diện tích mặt nước. Nằm ở độ cao hơn 1.000 m so với mực nước biển, Na Hang Tuyên Quang là hợp lưu của sông Lô và sông Gâm, được bao quanh bởi rừng nguyên sinh và núi đá vôi hùng vĩ.
Mỗi mùa tại Na Hang đều mang vẻ đẹp riêng khiến du khách say mê, mùa xuân với muôn hoa khoe sắc, mùa thu mát mẻ, còn mùa đông lại huyền ảo trong lớp sương trắng xóa. Tuy nhiên, theo người dân địa phương, thời điểm lý tưởng để đi Na Hang Tuyên Quang là từ tháng 5 đến tháng 9, khi thời tiết mát mẻ, rất thuận lợi để bạn tắm thác, chèo kayak…Trong chuỗi điểm du lịch sinh thái Na Hang có Hồ Na Hang, Thủy điện Na Hang, 99 ngọn núi Ái Au, Cọc Vài, Thác Khuổi Nhi, Thác Nậm Me, Hang Phia Vài, Đền Pác Tạ, Động Song Long, Thác Mơ, Ruộng bậc thang Bản Tâng – Khau Tràng,…
Thác Nặm Me tiếng Tày có nghĩa là Thác Mẹ, Suối Mẹ. Con thác bắt nguồn từ những cách rừng đại ngàn của Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang – Lâm Bình đổ xuống khu vực núi Hát Nghiền tạo thành thác Nặm Me. Ngọn thác từ trên đỉnh núi, chảy xuống đến hạ nguồn rồi nhập vào lòng sông. Là một con thác lớn tiêu biểu trong vùng, có chiều dài khoảng 4 km, với 15 tầng thác lớn, thác có bề mặt rộng và thoáng, nước chảy bốn mùa len lỏi qua những cánh rừng nguyên sinh và dãy núi đá vôi trùng điệp vùng nhiệt đới. Với vẻ đẹp riêng, thác Nặm Me là điểm tham quan kỳ thú với những du khách ưa khám phá mạo hiểm tại Hồ sinh thái Na Hang – Lâm Bình.
Thác Khuổi Nhi là con thác lớn nhất Lâm Bình. Thác ẩn mình giữa rừng già thuộc danh thắng quốc gia Na Hang – Lâm Bình, bao quanh là lòng hồ thủy điện Tuyên Quang. Cách duy nhất đến thác Khuổi Nhi là đi bằng thuyền. Nếu xuất phát tại bến thuyền ở Thượng Lâm, lộ trình khoảng một giờ di chuyển. Thác Khuổi Nhi Với chiều dài khoảng 3 km, đổ từ trên đỉnh núi xuống vách đá với dòng nước trong, mát lạnh. Thác có nhiều tầng, nước chảy mạnh, tung bọt vào vách núi trắng xóa, những giọt nước nhỏ theo gió tạo một vùng không gian tươi mát. Du khách leo lên đỉnh là tầng thác chính, thác dội từ trên cao xuống nhìn như “mái tóc nàng tiên giữa đại ngàn”.
Các điểm du lịch khác của Tuyên Quang Suối khoáng Mỹ Lâm, Thành nhà Mạc, Bảo Tàng, chùa Hang, Đền Hạ – Đền Thượng – Đền Ỷ La, Đài tưởng niệm Tuyên Quang, Quảng Trường, Thiền viện Trúc lâm Chính Pháp, Thắng cảnh Động Tiên, động Khâu Quang…
2. Du lịch Cao Bằng
Thác Bản Giốc Nằm tại Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Trung Quốc gọi là cặp thác Đức Thiên-Bản Ước, là một nhóm thác nước nằm trên sông Quây Sơn tại biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc. Nếu nhìn từ phía dưới chân thác, phần thác bên trái và nửa phía tây của thác bên phải thuộc chủ quyền của Việt Nam; nửa phía đông của thác bên phải thuộc chủ quyền của khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc. Thác nước này cách trung tâm Trùng Khánh khoảng 25 km về phía đông đông bắc, cách thủ phủ Nam Ninh của Quảng Tây khoảng 208 km.

Thác Bản Giốc, vẻ đẹp của non nước Cao Bằng Ảnh: Phương Thanh
Thác Bản Giốc là thắng cảnh nổi tiếng, nổi bật với dòng chảy tự nhiên, trắng xóa với nhiều cung bậc thác. Dòng thác không chỉ mang vẻ đẹp của thiên nhiên hùng vĩ, mà còn mang nét kiêu hùng của miền biên cương.
Thác Bản Giốc là thác nước lớn thứ tư thế giới trong các thác nước nằm trên một đường biên giới giữa các quốc gia, là thác nước tự nhiên lớn nhất khu vực Đông Nam Á. một thắng cảnh du lịch nổi tiếng, đã đi vào nghệ thuật tạo hình với những tác phẩm hội họa và nhiếp ảnh đặc sắc. Được mệnh danh là một trong những thác nước đẹp nhất Việt Nam, thác Bản Giốc – điểm đến vô cùng hấp dẫn, đem lại những trải nghiệm quý báu cho du khách.
Động Ngườm Ngao, cách thác Bản Giốc chừng 5km, với vẻ đẹp hoang sơ hoàn toàn được tự nhiên tạo nên, không có tác động của con người, động Ngườm Ngao càng trở nên cuốn hút, mang vẻ đẹp hùng vĩ, tráng lệ.
Chùa Phật tích Trúc Lâm bản Giốc tọa lạc tại Đàm Thủy, Trùng Khánh (cũ), tỉnh Cao Bằng. Đây là ngôi chùa đầu tiên được xây dựng trên mảnh đất biên cương phía bắc của Tổ quốc. Chùa Phật tích Trúc Lâm Bản Giốc tựa vào núi Phia Nhằm, cách thác Bản Giốc khoảng 500m, có hướng chính nhìn ra toàn cảnh thác Bản Giốc. Ở vị trí chùa tọa lạc có thể nhìn ngắm những cánh đồng lúa, dòng nước trắng xóa của thác Bản Giốc hùng vĩ giữa núi non mây trời trùng điệp.
Đèo Mã Phục kỳ vĩ Khung cảnh xung quanh đèo Mã Phục đẹp hút hồn, một bên là vách núi cheo leo, một bên lại là vực sâu thăm thẳm. Chính độ hiểm trở tạo nên nét kỳ thú có một không hai ở đây. Đến đây, mọi người sẽ được nghe kể về huyền tích thủ lĩnh người dân tộc Nùng Trí Cao và con đèo được đặt tên là Mã Phục (ngựa quỳ).
Hồ Thang Hen Sắc nước xanh như ngọc của hồ Thang Hen.

Không gian mênh mông, bức tranh sơn thủy hữu tình của non nước Cao Bằng (ảnh: Trường Giang).
Giữa không gian mênh mông, bức tranh sơn thủy hữu tình của non nước Cao Bằng, những điệu Then, câu lượn được các thiếu nữ cất lên làm say lòng biết bao du khách thập phương.
Di tích Pác Bó – Suối Lê Nin Cách thành phố Cao Bằng 52 km về phía Bắc, Khu di tích quốc gia đặc biệt Pác Bó thuộc Trường Hà, Hà Quảng (cũ), tỉnh Cao Bằng. Là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn làm căn cứ địa lãnh đạo Cách mạng (giai đoạn 1941-1945) sau hơn 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước. Trải qua gần 80 năm, nơi đây vẫn luôn lưu giữ nguyên vẹn những chứng tích về cuộc đời, sự nghiệp Cách mạng của Người.

Đến tham quan, trải nghiệm nơi đây, du khách còn được dịp chiêm ngưỡng bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp. Ảnh: St
Nơi đây có Suối Lê Nin trong vắt như một dải lụa uốn lượn dưới chân núi Các Mác hùng vĩ. Dòng suối hiền hòa xanh màu ngọc bích tuôn chảy từ đầu nguồn Pác Bó, được người dân bản địa gọi là suối Giàng hay Dòng Trừng. Trong những ngày sống và làm việc tại đây, dấu chân Bác đã in khắp chốn.
Ngoài các điểm di tích ngoài trời, du khách có thể dâng hương tại đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh; tham quan nhà trưng bày để hiểu rõ hơn về phong trào cách mạng của Cao Bằng, cũng như quá trình lãnh đạo cách mạng của Bác sau khi trở về nước thông qua lời thuyết minh của hướng dẫn viên tại Khu di tích.
Những điểm du lịch Cao Bằng khác Vườn quốc gia Phja Oắc – Phja Đén, Đỉnh Phja Oắc, Đồi cỏ Phan Thanh, Khu di tích Kim Đồng, Núi Mắt Thần,Thác Nặm Trá, Đèo Khau Cốc Chà, Làng đá cổ Khuổi Ky, Làng rèn Phúc Sen, Chợ phiên Cao Bằng,…
3. Du lịch Lạng Sơn
Khu du lịch Quốc gia Mẫu Sơn Nằm cách thành phố Lạng Sơn khoảng 30km về phía đông bắc, những năm 30 của thế kỷ trước, người Pháp đã tìm ra Mẫu Sơn và giống như Đà Lạt, Sapa, Tam Đảo, Bà Nà nơi này đã được dùng làm mảnh đất để xây dựng biệt thự cho các quan chức Pháp nghỉ dưỡng.
Với độ cao 1.200m – 1.541m so với mực nước biển khí hậu ở khu vực này mang tính chất nhiệt đới và ôn đới nên mát mẻ về mùa hè nhưng vào mùa đông sẽ cực kì lạnh giá. Đặc biệt, khu vực đỉnh Mẫu còn thường xuất hiện băng giá và tuyết rơi vào mùa Đông.
Do đặc điểm khí hậu độc đáo mà bạn có nhiều hoạt động để có thể trải nghiệm ở đỉnh Mẫu Sơn như trekking trong rừng ngắm hoa đỗ quyên và những cây cổ thụ, ghé thăm khu Linh Địa Mẫu Sơn để chiêm ngưỡng những dấu tích của một trung tâm tín ngưỡng từng tồn tại.
Trekking đỉnh Phia Pò Được mệnh danh là “Nóc nhà xứ Lạng”, đỉnh Phia Pò (còn có tên gọi là đỉnh núi Cha) cao 1.541m là nơi được cộng đồng trekking khá yêu thích. Đỉnh núi này mang đặc trưng là những cánh đồng cỏ xanh bát ngát vào mùa hè và vào mùa đông, cỏ chuyển sang màu vàng cháy. Với hệ thực động vật phong phú, hoang sơ cùng với cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp thì đỉnh Phia Pò chính xác là nơi dành cho những người đam mê trekking.
Chùa – động Tam Thanh Quần thể chùa Tam Thanh nổi tiếng là địa điểm du lịch Lạng Sơn hấp dẫn và kì bí với hệ thống 3 hang động lớn. Trong đó, hang động Tam Thanh là lớn nhất và đẹp nhất. Bên trong hang động là những lớp thạch nhũ với hình thù đa dạng, sinh động như cây Ngô Đồng, Tiên Ông… cùng vòm động cao, thoáng đãng.
Chùa Tam Thanh là một ngôi chùa rất đặc biệt, lưu trữ nhiều văn bia phong phú, có giá trị cùng hệ thống tượng thờ đồ sộ. Giá trị nhất về mặt nghệ thuật phải kể đến bức phù điêu A Di Đà được tạc vào vách đá theo thế đứng trong hình lá bồ đề, có niên đại vào thế kỷ 17.
Địa điểm du lịch Lạng Sơn hấp dẫn khác Đền Mẫu Đồng Đăng, Đền Bắc Lệ, Thảo nguyên Đồng Lâm, Núi Nà Lay, Thung lũng hoa Bắc Sơn, Vườn hoa tam giác mạch, Thác Thủy Tiên, Ga Đồng Đăng, Cửa khẩu Quốc tế Hữu Nghị, Thành cổ Lạng Sơn, Thành Nhà Mạc, Núi Tô Thị, Chùa Thành, Đền Tả Phủ, Đền Kỳ Cùng, Phố đi bộ Kỳ Lừa, Lạng Sơn còn nổi tiếng với bốn khu chợ gồm: Đông Kinh, Kỳ Lừa, Đồng Đăng và chợ cửa khẩu Tân Thanh…..
4. Địa điểm du lịch văn hoá Thái Nguyên
Hồ Ba Bể (Nay thuộc tỉnh Thái Nguyên): Vùng hồ Ba Bể cách Hà Nội chừng 200 km, nằm khá sâu trong núi rừng Việt Bắc (Cao Bằng). Khi bước chân từ con đường vào Ba Bể đã rất đẹp, cảnh sắc thay đổi không ngừng. Trong Ba Bể không khí trong lành, cảnh sắc hoang sơ và cảm nhận rõ rệt linh khí hội tụ từ đất trời nơi đây. Hồ Ba Bể mang nét đẹp “có một không hai” với giá trị địa chất, địa mạo độc đáo, gắn liền với chiều sâu văn hóa, lịch sử và những huyền tích dân gian.

Trải nghiệm du lịch hồ Ba Bể. Ảnh: Sưu tầm
Hồ Ba Bể được công nhận là một trong 20 hồ nước ngọt đặc biệt của thế giới tại Mỹ. Nơi đây trở thành Vườn di sản ASEAN và tiếp tục được công nhận là Khu Ramsar – vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế. Hồ Ba Bể không chỉ là một thắng cảnh thiên nhiên mà còn là nguồn cảm hứng bất tận trong thi ca, hội họa. Đây là nơi mang đến cảm giác bình yên, thơ mộng cho du khách.
Những địa danh du lịch nổi tiếng khác vùng Bắc Cạn: Đảo Bà Góa, thác Đầu Đẳng, động Puông, bản Pác Ngòi, động Hua Mạ, hang Thẳm Phầy, thác Tát Mạ thuộc Vườn quốc gia Ba Bể; thảo nguyên Slam Chiêm; chùa Thạch Long; đèo Gió Ngân Sơn; di tích lịch sử đồn Phủ Thông; di tích chiến thắng Đèo Giàng; Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ; động Nàng Tiên; Hang Lũng Zeng; Đỉnh Mù Là; Chợ bò Nghiên Loan…
Hồ Núi Cốc Thái Nguyên là địa điểm du lịch hấp dẫn tại tỉnh Thái Nguyên, nơi đây sở hữu một hồ nước nhân tạo siêu rộng lên đến 25km², gồm đến 89 hòn đảo lớn nhỏ kết hợp với nhiên nhiên non nước hữu tình đã tạo nên một khu nghỉ dưỡng cực kỳ tuyệt vời. Khu du lịch hồ Núi Cốc còn gắn liền với truyền thuyết Chàng Cốc nàng Công nổi tiếng.
Hồ Núi Cốc được chia ra làm 2 phần là Hồ Nam và Hồ Bắc. Hồ Bắc là khu vui chơi giải trí đa dạng, hiện đại. Với một hệ thống hang động nhân tạo cực kỳ quy mô cho bạn khám phá, quần thể Chùa Thiêng Thác Vàng, khu vực vui chơi Công viên nước, khu trưng bày hiện đang có hơn 1000 đồ cổ vật quý hiếm tại nhiều làng nghề nghệ thuật rất độc đáo. Hồ Nam lại là nơi còn nguyên nét hoang sơ và cũng là địa điểm được du khách ưa chuộng chọn là nơi tụ tập bạn bè nghỉ ngơi, thư giãn cuối tuần.
Những điểm du lịch nổi tiếng khác ở Thái Nguyên: Đồi chè Tân Cương; hang Phượng Hoàng – suối Mỏ Gà; ATK Định Hóa; thác Khuôn Tát; động Linh Sơn; hồ Ghềnh Chè; thác Mưa Rơi, thác 7 Tầng, Mái đá Gườm, hang Phiêng Tung thuộc Khu dự trữ thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng; ruộng bậc thang – hoa tam giác mạch Bản Tèn; trại ngựa Bá Vân; suối Đát Đắng; hồ Vai Miếu; chùa Hang; hồ Suối Lạnh, khu bảo tồn nhà sàn dân tộc Thái Hải….
5. Điểm Du lịch vùng Vĩnh Phú (Vĩnh Phúc – Phú Thọ)
Khám phá Đền Hùng Phú Thọ – Cội nguồn lịch sử dân tộc
Đền Hùng được dựng trên núi Nghĩa Lĩnh, giữa đất Phong Châu, ngày nay là xã Hy Cương, tỉnh Phú Thọ. Phong Châu là đế đô của nước Văn Lang, từ 4000 năm trước. Đấy là đất Tổ của dân tộc Việt Nam. Khu di tích lịch sử Đền Hùng là điểm đến tâm linh có ý nghĩa đặc biệt trong tín ngưỡng của người dân Việt. Đây là nơi thờ 18 đời Vua Hùng có công dựng nước và giữ nước. Có diện tích 845 ha với 4 đền, 1 chùa và 1 lăng, nơi đây có địa thế cao, hùng vĩ, nằm trong lòng cảnh đẹp tự nhiên, đất trời hòa quyện tạo nên một không gian thiêng liêng đầy uy nghiêm.

Lễ hội đền Hùng vào ngày 10 tháng 3 hàng năm. Ảnh: Sưu tầm
Với giá trị về lịch sử, văn hóa, khoa học đặc biệt, Đền Hùng đã được xếp hạng là khu di tích quốc gia đặc biệt. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương chính thức được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể nhờ những giá trị độc đáo và riêng biệt. Đây là dấu mốc quan trọng và là vinh dự to lớn không chỉ của người dân Phú Thọ mà còn đối với cả dân tộc. Vào mỗi dịp đầu xuân năm mới hoặc Giỗ Tổ 10/03 Âm lịch, hàng triệu người sẽ về đây để lễ bái, dâng hương, tri ân các vị Tổ tiên của dân tộc.
Vườn quốc gia Tam Đảo – Vĩnh Phúc Vườn quốc gia này nằm trọn trên dãy núi Tam Đảo, trải dài 80 km và thuộc địa phận của 3 tỉnh (Vĩnh Phúc-Phú Thọ, Thái Nguyên và Tuyên Quang). Hiện nay, khu du lịch trong khuôn viên vườn quốc gia được khai thác tại Vĩnh Phúc-Phú Thọ, cho phép du khách ghé qua tham quan và nghỉ dưỡng. Sở hữu diện tích lên đến 34.995 ha, đây là khu rừng sinh thái lớn nhất miền Bắc. Đặc biệt, hệ sinh thái ở đây chủ yếu là rừng tự nhiên mưa ẩm thường xanh với độ che phủ lên tới 70%.
Nơi đây nằm trong khu vực núi nên khí hậu có sự phân chia rõ ràng theo độ cao, nhiệt độ mát mẻ vào ban ngày và trở lạnh khi đêm xuống. Ngoài ra, dãy núi Tam Đảo được chia thành sườn Đông và sườn Tây với đặc điểm khí hậu khác nhau. Nhờ đó, hệ sinh thái ở nơi này vô cùng đa dạng với nhiều tầng và nhiều loài.
Địa điểm du lịch này thu hút sự quan tâm của đông đảo du khách bởi những hoạt động trải nghiệm đa dạng như: tận hưởng bầu không khí trong lành với những con đường mòn, tham gia những cung trekking, cắm trại, camping, câu cá, chèo thuyền, tắm thác,… xuyên rừng già tham quan tháp truyền hình ở độ cao 1.250m so với mực nước biển, du khách sẽ được chiêm ngưỡng toàn cảnh thành phố Vĩnh Yên và hồ Núi Cốc mộng mơ. Khu vực này mới đi vào khai thác chưa lâu nên vẫn giữ được nét hoang sơ và mang vẻ đẹp vô cùng độc đáo.
Khu du lịch quốc gia Tam Đảo – Vĩnh Phúc Tam Đảo còn được gọi là Ba Gò vìnếu quan sát từ phía nam sẽ thấy dãy núi có ba khối nhỏ nổi bật vượt lên hẳn so với những phần còn lại nằm ở phần giữa. Ba đỉnh núi này được dân gian gọi là Thạch Bàn, Thiên Thị và Phù Nghĩa. Tuy không phải là đỉnh cao nhất của dãy núi, nhưng ba đỉnh núi này lại nổi bật nhất, có thể nhìn thấy rõ từ nội thành Hà Nội vào những ngày trời trong.

Vẻ đẹp Tam Đảo, thị trấn trong sương. Ảnh: Sưu tầm
Tam Đảo là một địa điểm du lịch vô cùng nổi tiếng ngay gần Hà Nội, nơi đây được mệnh danh là “Đà Lạt của Miền Bắc” với thời tiết mát mẻ, dễ chịu cùng khung cảnh yên bình của vùng rừng núi. Những điểm checkin ở Tam Đảo như Nhà thờ đá 1906 mang nét cổ kính châu âu; Cầu Mây, nơi có phong cảnh vô cùng thơ mộng; Checkin Cổng Trời, Thác Bạc, Lâu Đài Tam Đảo; Hồ Xạ Hương với cảnh sắc thiên nhiên hoang sơ, trong lành; Dạo chơi buổi tối ở Công viên Quảng Trường Tam Đảo; Thăm Đền bà Chúa Thượng Ngàn; Thăm Chùa Vàng; Khám phá Vườn quốc gia Tam Đảo; Chiêm bái Thiền Viện Trúc Lâm Tây Thiên, một trong 3 thiền viện lớn nhất Việt Nam;…
Khu di tích danh thắng Tây Thiên Được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt, Tây Thiên là một trong những trung tâm Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu lớn của Việt Nam. Nơi đây được bao trọn bởi cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ và không gian tâm linh thanh tịnh. Các công trình nổi bật thuộc quần thể di tích này có thể kể đến Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên, Đại Bảo Tháp Mandala, Đền Thượng Quốc Mẫu, Đền Cô Chín, Đền Mẫu Địa, Đền Thõng.
Ngoài ra, lễ hội Tây Thiên diễn ra vào tháng 02 âm lịch hàng năm với nhiều nghi thức trang trọng cùng các hoạt động văn hóa, trò chơi dân gian đặc sắc, thu hút hàng nghìn Phật tử và du khách từ khắp nơi.

Lễ hội Tây Thiên hoành tráng được tổ chức hàng năm, thu hút đông đảo du khách (Ảnh: Internet)
Các điểm du lịch khác: Đền Quốc tổ Lạc Long Quân; Đền Mẫu Âu Cơ; Làng cổ Hùng Lô; Đền Tam Giang khu du lịch Bạch Hạc – Bến Gót; Quảng trường Hùng Vương; Công viên Văn Lang; Chùa Cát Tường; Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Sơn; Đồi chè Thanh Sơn; Đồi chè Long Cốc; Thác Mây; Thác Mơ; Hang Lạng; Đèo Khế; Ao Giời – Suối Tiên; Đầm Ao Châu; Làng gốm Hương Canh, Hồ Đại Lải Vĩnh Phúc, Chùa Hà Tiên, Đầm Vạc…
(Các địa điểm Danh lam, thắng cảnh du lịch ở vùng đất Quảng Ninh và Bắc Giang xin được đề cập tại Vùng văn hóa du lịch Đồng Bằng Sông Hồng. Do Quảng Ninh cũng thuộc Vùng văn hóa Duyên hải Bắc Bộ, Bắc Giang sáp nhập hành chính cùng Bắc Ninh thành vùng đất có phần lớn diện tích thuộc Đồng bằng Sông Hồng. Các tour du lịch Quảng Ninh, Bắc Giang (cũ) cũng thường bố trí thuận tuyến với các tour Vùng đồng bằng Sông Hồng hơn).
F. ẨM THỰC VÙNG NÚI ĐÔNG BẮC BỘ
– Lợn quay, Vịt Quay Lạng SơnĐã trở thành thương hiệu ẩm thực nổi tiếng, mang hương vị đặc trưng riêng do được chế biến cùng lá măc mật và nhiều gia vị. Bạn sẽ cảm nhận được vị ngọt của thịt được tẩm ướp đậm đà, ăn một lần ai cũng nhớ mãi.
– Vịt quay7 vị Cao Bằng Đây là một món ăn truyền thống của người Tày, được chế biến từ thịt vịt tươi ngon và 7 loại gia vị khác nhau. Vịt được tẩm ướp kỹ càng để thấm đều các loại gia vị, sau đó được quay trên than hoa cho đến khi chín vàng. Món vịt quay 7 vị có lớp da giòn rụm, lớp mỡ bóng bẩy, thịt thơm ngon và mềm mại. Mùi vị của món ăn rất hấp dẫn và độc đáo.
– Thắng cố một món ăn truyền thống của đồng bào dân tộc H’Mông, có lịch sử lâu đời khoảng 200 năm.Sở dĩ món thắng cố của người H’Mông đặc biệt bởi cách chế biến của nó. Món ăn truyền thống này được người Mông chế biến từ thịt ngựa và đã trở thành món ăn đặc sản ngon nhất của bà con dân tộc H’Mông.
– Khâu Nhục Khâu nhục Lạng Sơn không chỉ là đặc sản mà còn là niềm tự hào của đồng bào miền núi nơi đây. Món ăn này thường xuất hiện trong những bữa tiệc đặc biệt như lễ cưới, hỏi, đãi khách… Hương thơm của mắc mật hòa quyện với các gia vị của núi rừng khác tạo nên món ăn trứ danh làm nên tinh hoa ẩm thực Đông Bắc.
– Gỏi cá Bỗng sông Lô một món ẩm thực truyền thống nổi tiếng tại vùng sông Lô, nằm ở khu vực Bắc Bộ của Việt Nam. Đặc trưng của món ăn này chính là sự tinh tế trong việc lựa chọn và xử lý nguyên liệu chính – cá Bỗng.Đây không chỉ là một món ăn ngon mà còn là một biểu tượng văn hóa ẩm thực của địa phương, mang đến cho thực khách trải nghiệm ẩm thực đầy thú vị và đặc sắc của vùng sông Lô tươi đẹp.
– Thịt lợn Mán một món ăn mang hương vị truyền thống đặc biệt của người dân tộc vùng Đông Bắc, đã trở thành một phần quan trọng trong nền văn hóa ẩm thực của nơi đây.Thịt lợn mán được chế biến thành nhiều món ngon, từ thịt lợn mẹt, lợn quay cả con đến lợn nướng ướp hạt mắc khén và lá móc mật. Mỗi món đều mang một hương vị đặc trưng và phong cách riêng, tạo nên sự đa dạng và phong phú cho ẩm thực truyền thống của vùng Đông Bắc.
– Nậm Pịa: Món ăn của người dân tộc Thái, được làm từ nội tạng và cac loại gia vị, rất ngon và có mùi vị vô cùng đặc trưng.
– Thịt gác bếp: Thịt gác bếp là món ăn đặc sản của các dân tộc vùng núi phía Bắc Việt Nam dùng để thiết đãi khách quý. Được chế biến từ bắp của trâu, bò, lợn thả rông. phần ngon nhất được dùng là thịt bắp, khi làm, người ta lóc các thớ thịt ra thành từng miếng thịt kiểu con chì và thái dọc thớ dài khoảng 20 cm, dày 5 cm, tẩm ướp các gia vị rồi hun bằng khói của than củi từ các núi đá. Với miếng thịt trâu thành phẩm, mùi khói gần như vẫn còn nguyên, song lại không gây khó chịu.
– Thịt chua: Trong kho tàng món ăn phong phú, bạn không thể không kể đến thịt lợn muối chua – món ăn đặc sản của người dân tộc Dao Tiền. Ngoài ra, người Dao Tiền có rất nhiều món ăn nổi tiếng khác như mắm cá, mắm tép, thịt lợn gác bếp, thịt lợn nướng, lợn muối…
– Nem nướng Hữu LũngNem nướng Hữu Lũng có kích thước lớn, to bằng cổ tay người trưởng thành. Nem có màu vàng óng, thơm lừng và chua nhẹ do quá trình lên men của thịt.Để làm nem nướng Hữu Lũng, người ta sử dụng thịt heo, bì heo, thính và các loại gia vị khác trộn đều rồi gói trong lá chuối. Khi ăn nem được nướng trên than hoa cho đến khi lá chuối chín vàng, ăn kèm với rau sống và nước chấm cay cay.
– Cá nướng Bắc Kạn: Một đặc sản của tỉnh Bắc Kạn mà bạn không thể bỏ qua khi đến du lịch hồ Ba Bể chính là món cá nướng. Cá được người dân địa phương bắt từ hồ, giữ nguyên vẹn sự tươi ngon và chế biến theo cách truyền thống. Cá được nướng trên than hoa cho đến khi chín vàng, thơm phức, thịt cá mềm ngọt, không bị khô. Điểm nhấn của món ăn này là nước chấm đặc biệt, được pha chế từ muối, ớt, tương ớt và các gia vị khác.
– Phở chua Phở chua là món ăn rất phổ biến ở Đông Bắc. Đến nơi nào bạn cũng có thể thưởng thức món ăn lạ miệng này.Một bát phở chua bao gồm rất nhiều loại nguyên liệu khác nhau như: bánh phở, thịt xá xíu, khoai lang chao, lạc rang, dưa chuột, rau thơm… Bánh phở để làm phở chua thường là loại bánh phở được tráng bằng tay mới đảm bảo thơm ngon và độ dẻo. Thịt để làm xá xíu là thịt lợn nạc ngon, được chế biến kỹ từ khâu chọn thịt và tẩm ướp gia vị.
Phở chua ăn với nước sốt được làm theo công thức gia truyền. Nước sốt được trộn với hành, tỏi phi thơm cùng với giấm, đường, nước mắm, gừng, bột năng… rưới lên bát phở có đầy đủ nguyên liệu, ăn cùng rau thơm, món ăn có vị chua ngọt vô cùng ngon miệng.
– Mèn mén: Cơm được làm từ ngô, một món ăn hàng ngày của người dân vùng cao Hà Giang – Tuyên Quang, đặc biệt là người H’Mông.
– Cháo Ấu Tẩu: Món cháo được nấu từ củ ấu tẩu, một loại củ có độc tính, nhưng khi được chế biến đúng cách sẽ mang lại hương vị đặc biệt và có tác dụng giữ ấm cơ thể.
– Bánh Ngải Đồng bào miền núi phía Bắc thường dùng lá ngải cứu để làm bánh. Bánh ngải được làm từ lá ngải non đun với nước tro sạch cho nhừ, rồi rửa sạch, bỏ xơ, cho vào cối giã nhuyễn. Sau đó đổ xôi đã đồ chín vào cùng và giã đều cùng với lá ngải cho đến khi tạo thành thứ bột mịn và dẻo. Khi bột đã nhuyễn dẻo, bánh được tra nhân vừng với đường giã nhỏ mịn rồi hấp cách thủy trong vòng 10-15 phút. Khi chín, bánh sẽ có màu xanh sẫm với mùi thơm rất đặc trưng.
– Bánh chưng đenđược biết đến là một món bánh độc đáo của người dân tộc Tày. Sở dĩ món bánh này được nhiều người yêu thích bởi nó có màu đen của tro rơm nếp, có vị thơm, mềm và ăn mát hơn so với bánh chưng truyền thống.
– Bánh trứng kiếnKhoảng tháng 4 – tháng 5 hàng năm, khi mùa xuân đang khoe sắc tươi mới, người dân xứ Cao Bằng lại rộn ràng kéo nhau vào rừng tìm ổ trứng kiến đen để làm món bánh trứng kiến đặc trưng. Đây là một món đặc sản độc đáo, mang hương vị đặc trưng của núi rừng vùng Đông Bắc.
– Bánh Coóc Mò là một đặc sản của vùng Đông Bắc mà ai cũng nên thử ít nhất một lần. Đây là món bánh truyền thống của người Tày, có tên gọi xuất phát từ hình dáng giống như sừng bò. Bánh được làm từ gạo nếp nương và lạc đỏ, gói trong lá chuối và hấp chín. Bánh coóc mò có vẻ ngoài khá giống bánh gio, nhưng có hương vị riêng biệt và đậm đà hơn.
– Xôi ngũ sắc: Xôi ngũ sắc được tạo bởi từ 5 loại xôi, với 5 màu khác nhau tượng trưng cho ngũ hành: trắng, xanh,đen, đỏ, vàng tương ứng với kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Để tạo ra món xôi độc đáo này này cho món xôi, người Tày sử dụng các nguyên liệu từ tự nhiên để tạo màu: lá gừng, vỏ bưởi, vỏ măng đắng, lá cơm,…
– Bánh tam giác mạch: Bánh được làm từ hạt tam giác mạch, một loài cây đặc trưng của vùng cao nguyên Hà Giang, bánh có vị ngọt nhẹ và thơm đặc trưng.
– Bánh Phẻng Phạ: Một loại bánh đặc biệt thường được làm vào các dịp lễ hội của người Tày, có hình tròn dẹt, được làm từ bột gạo và nhân đậu xanh, có vị ngọt thanh.
-Tôm chua Ba Bể: Món ăn được làm từ tôm tươi đánh bắt ở hồ Ba Bể, kết hợp với các loại gia vị tạo lên hương vị chua ngọt đặc trưng.
– Cá thính lập Thạch: Món ăn này được làm từ cá tươi, sau đó được tẩm ướp gia vị và muối, rồi đem phơi khô. Cá thính có vị chua chua, ngọt ngọt, là món ăn rất được ưa thích.
– Rượu ngô: Nghe tên thôi các bạn cũng đoán được rượu được làm từ gì rồi đúng không? Ngô là nguyên liệu chính để nấu rượu. Nhờ kỹ thuật ủ cái rượu và chưng cất rượu qua nhiều thế hệ mà người H’Mông đã cho ra một loại rượu có hương vị thơm ngon của riêng của mình. Rượu là thức uống được người H’Mông sử dụng hàng ngày và không thể thiếu trong các dịp lễ Tết để cúng tổ tiên hay dùng để nhâm nhi hàn huyên tâm sự.
-Trám Đen Từ tháng 7 đến tháng 9 âm lịch, trám đen xứ Lạng lại xuất hiện trong những phiên chợ để làm nên những món ăn ngon miệng, thơm, bùi. Trám đen là món ăn nổi tiếng của Lạng Sơn, trước khi ăn phải om trám cho mềm rồi tách hạt sau đó làm những món như xôi trám, thịt kho trám, trám ngâm tương… ăn bùi, thơm.
– Quýt Bắc Sơn là loại cây bản địa, được bà con trồng trên dọc chân núi đá, thậm chí có những vườn quýt trồng ở lưng chừng núi cao, càng cao thì quýt lại có hương vị thơm, ngọt đậm đà. Nhờ có hương vị rất đặc trưng mà không vùng nào có được nên cây Quýt vàng Bắc Sơn ngày càngnổi tiếng.
– Na Chi Lăng Không phải tự nhiên mà Na Chi Lăng lại trở thành sản phẩm nổi tiếng, đặc biệt. Hầu như Na Chi Lăng đều được trồng trên những vách núi đá vôi cao chót vót. Đi qua Chi Lăng vào mùa thu hoạch Na, du khách dễ dàng bắt gặp hình ảnh người nông dân cheo leo trên những ngọn núi để thu hoạch trái chín.
– Rau Bò Khai Rau bò khai là một loại rau rừng có mùi vị hơi đặc biệt đó là mùi khai. Chính vì vậy mà dân gian gọi nó bằng cái tên là rau bò khai. Loại rau này còn được biết tới với nhiều tên gọi khác như: dây hương, rau dạ hiến, khau hương, rau ngót leo, rau nghiến…Hương vị của rau bò khai rất đặc biệt. Nó không hề bị lẫn với các loại rau rừng khác, là sự hoà quyện của hương đất, hương rừng và sự tinh khiết của khí trời vùng núi cao.
Bài viết trên đây đã mang đến cho bạn với những nét văn hóa, nghi lễ, tục lệ hay ẩm thực đặc trưng ở các tỉnh vùng núi Đông Bắc. Đi dạo một lượt về những văn hoá vùng Đông Bắc, một khu vực chứa đầy những kho báu khổng lồ mang cả giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể quốc gia. Nếu bạn muốn tìm hiểu, khám phá những điều thú vị về văn hoá của các dân tộc nơi đây này hãy cùng Khám Phá Việt Nam thực hiện một tour du lịch Đông Bắc lần này nhé!
KPVN Tổng hợp
Khám Phá Các Tỉnh Vùng Đông Bắc
