TÂY QUẢNG NGÃI – VÙNG TÂY NGUYÊN

Vùng đất Kon Tum thuộc khu vực Cực Bắc của Tây Nguyên, nơi đây có vị trí địa lý đặc biệt khi nằm ở Ngã ba Đông Dương giáp với Lào và Campuchia. Phần lớn Kon Tum nằm ở phía tây dãy Trường Sơn nên nơi đây có nhiều ngọn núi cao, hệ thống thác nước dày đặc và cánh rừng nguyên sinh đại ngàn. Kon Tum nổi tiếng là nơi sở hữu bức tranh thiên nhiên đầy màu sắc cùng với không khí mát mẻ, văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đặc sắc của các dân tộc bản xứ và con người chân chất, thân thiện. 

Giới thiệu vùng đất Tây Quảng Ngãi (Kon Tum)

Tỉnh Quảng Ngãi mới, được thành lập theo Nghị quyết số 202/2025/QH15. Theo đó, toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của hai tỉnh Kon Tum và Quảng Ngãi cũ được hợp nhất thành một đơn vị hành chính mới, mang tên tỉnh Quảng Ngãi. Bộ máy chính quyền địa phương chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01 tháng 7 năm 2025. Sau sáp nhập, tỉnh có diện tích tự nhiên 14.832,55 km², dân số 2.161.755 người. Thành phần dân cư đa dạng với hơn 40 dân tộc anh em cùng sinh sống. Người Kinh chiếm tỷ lệ lớn và tập trung chủ yếu tại các vùng đô thị, đồng bằng, ven biển. Các dân tộc thiểu số như H’rê, Co, Ca Dong, Xơ Đăng, Ba Na, Giẻ Triêng, Brâu, Rơ Măm… sinh sống tập trung ở vùng cao nguyên và trung du phía Tây. Cơ cấu dân tộc đa dạng tạo nên bản sắc văn hóa phong phú, đồng thời đặt ra yêu cầu về chính sách phát triển phù hợp với từng nhóm dân cư, từng khu vực đặc thù.

I. Vùng đất Kon Tum – Tây Quảng Ngãi Ở Đâu

Vị trí địa lý  Vùng đất Tây Quảng Ngãi chính là tỉnh Kon Tum cũ trước sáp nhập, có trung tâm tỉnh lỵ cũ là thành phố Kon Tum, cách TP. Hồ Chí Minh hơn 600km về phía Bắc, cách thành phố Đà Nẵng 320km và thủ đô Hà Nội 1.060km về phía Nam. Nằm ở ngã 3 Đông Dương, phần lớn nằm ở phía Tây dãy Trường Sơn, có vị trí địa lý Phía bắc giáp thành phố Đà Nẵng; Phía nam giáp tỉnh Gia Lai; Phía tây giáp các tỉnh Sekong, Attapeu của  Lào và Ratanakiri của Campuchia; Phía đông là phần đất Đông Quảng Ngãi.

Bản đồ vị trí địa lý du lịch Tây Quảng Ngãi. Ảnh: TTXVN

Địa hình Phần lớn vùng Tây Quảng Ngãi (tỉnh Kon Tum cũ) nằm ở phía tây dãy Trường Sơn, địa hình thấp dần từ bắc xuống nam và từ đông sang tây. Địa hình khá đa dạng đồi núi, cao nguyên và vùng trũng xen kẽ nhau, trong đó.

 Địa hình đồi, núi: chiếm khoảng 2/5 diện tích toàn vùng, bao gồm những đồi núi liền dải. Các núi ở Kon Tum do cấu tạo bởi đá biến chất cổ nên có dạng khối như khối Ngọc Linh (có đỉnh Ngọc Linh cao 2.598 m) – nơi bắt nguồn của nhiều con sông chảy về Đà Nẵng như sông Thu Bồn và sông Vu Gia; chảy về Đông Quảng Ngãi như sông Trà Khúc. Địa hình núi cao liền dải phân bố chủ yếu ở phía bắc – tây bắc chạy sang phía đông. Ngoài ra, Tây Quảng Ngãi (Kon Tum) còn có một số ngọn núi như: ngọn Bon San 1.939m; ngọn Ngọc Kring 2.066m. Mặt địa hình bị phân cắt hiểm trở, tạo thành các thung lũng hẹp, khe, suối. Địa hình đồi tập trung chủ yếu ở khu vực Sa Thầy có dạng nghiêng về phía tây và thấp dần về phía tây nam, xen giữa vùng đồi là dãy núi Chưmomray. 

Địa hình thung lũng: nằm dọc theo sông Pô Kô đi về phía nam, có dạng lòng máng thấp dần về phía nam, theo thung lũng có những đồi lượn sóng như Đăk Uy, Đăk Hà và có nhiều chỗ bề mặt bằng phẳng như vùng thành phố Kon Tum cũ. Thung lũng Sa Thầy được hình thành giữa các dãy núi kéo dài về phía đông chạy dọc biên giới Việt Nam – Campuchia. 

Địa hình cao nguyên: Vùng Tây Quảng Ngãi có cao nguyên Kon Plông nằm giữa dãy An Khê và dãy Ngọc Linh có độ cao 1.100 – 1.300 m, đây là cao nguyên nhỏ, chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam.

Cầu Kon Klor và dòng sông Đăkbla vùng đất Tây Quảng Ngãi.

Khí hậu Khí hậu Tây Quảng Ngãi có nét chung của khí hậu vùng nhiệt đới gió mùa của phía Nam Việt Nam, mang tính chất của khí hậu cao nguyên. Khí hậu Kon Tum chia thành 2 mùa là mùa mưa và mùa khô. Trong đó, mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 11, gió chủ yếu theo hướng tây nam, 3 tháng 7, 8, 9 có lượng mưa cao nhất. Vào mùa mưa,  Nhiệt độ có sự chênh lệch giữa các khu vực trong vùng, khu vực miền núi cao trải dài phía Đông Bắc gồm các huyện Kon Plong, Tu Mơ Rông và Đăk Glei cũ thời tiết mát mẻ và ôn hòa hơn, trong khi đó khu vực đất thấp phía Tây Nam như huyện Ia H’Drai, Sa Thầy và thung lũng thành phố Kon Tum cũ thời tiết nóng và oi ả hơn. Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau, mùa khô gió chủ yếu theo hướng gió mùa đông bắc.

II. Du lịch Tây Quảng Ngãi mùa nào đẹp

Trước khi đến Kon Tum, du khách nên tìm hiểu về khí hậu nơi đây để thuận tiện trong việc lập kế hoạch đi chơi. Nhìn chung, khí hậu Kon Tum rất ôn hoà, mát mẻ, nhiệt độ trung bình năm chỉ khoảng 22- 23 0C. Thời tiết trong ngày có biên độ giao động nhiệt đến 8-9 0C, buổi sáng sớm trời se lạnh, nhiệt độ nóng dần lên vào buổi trưa, đến buổi chiều thì mát mẻ và buổi tối thời tiết lại trở nên lạnh. Người ta thường nói rằng Kon Tum “có 4 mùa trong một ngày” để nói về sự biến đổi nhiệt độ khá lớn này. 

Hoa cà phê Tây Nguyên.

Du lịch Tây Quảng Ngãi nên đi mùa nào?

Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 11: đôi khi du lịch Kon Tum vào mùa mưa cũng sẽ mang đến cho du khách những trải nghiệm thú vị. Tuy mùa mưa đến 8 tháng nhưng không phải là mưa triền miên suốt 8 tháng, mùa mưa ở Kon Tum sẽ được chia làm 3 giai đoạn rõ rệt. Giai đoạn giao mùa từ tháng 4 – 6 với những cơn mưa bất chợt, giai đoạn tháng 7, 8 là vào mùa mưa chính với tần suất mưa nhiều hơn, tháng 9,10, 11 là giai đoạn bão lũ nhiều.

Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau: Đây là thời điểm đẹp nhất để đến thăm Kon Tum, cũng là thời điểm cuối năm với không khí lễ hội khắp cả nước, rất thích hợp để đi du lịch. 

Tháng 12: Là mùa hoa dã quỳ, từng đóa dã quỳ vàng rực như những mặt trời bé xinh phủ khắp trên các con phố, núi đồi. Trong thời tiết đã vào mùa lạnh, du khách sẽ có cơ hội ngắm nhìn khung cảnh xinh đẹp của thành phố và chụp những bức ảnh bên loài hoa này. 

Tháng 1,2: Đây là thời điểm vào xuân, trăm hoa đua nở. Đất trời mang một luồng sinh khí mới từ sự thay da đổi thịt của các loài cây. Tháng 1 còn được biết đến là mùa cao su thay lá.

Tháng 3: Đây là mùa hoa cà phê nở trắng trời, những cụm hoa thơm ngát như những đám mây tí hon nhìn rất đẹp mắt. Tháng 3 cũng là mùa hoa mai anh đào thường nở đẹp nhất. Tuy loài hoa này nở rất thất thường,có khi nở vào tháng 1, có khi là vào tháng 2, tháng 3, nhưng đây chính là thời điểm mà hoa thường nở nhất. Nếu muốn ngắm hoa mai anh đào hồng rực, du khách nên kiểm tra thời gian hoa nở để cập nhật vào kế hoạch cho những chuyến đi.

III. Đi đến Vùng Tây Quảng Ngãi bằng gì

Kon Tum là một vùng đất thú vị mang bản sắc văn hóa vô cùng độc đáo, là điểm du lịch hấp dẫn du khách gần xa. Phương tiện đi đến vùng Kon Tum mà du khách có thể lựa chọn là: máy bay, xe khách, xe cá nhân, xe máy…

Máy bay Ở vùng Tây Quảng Ngãi chưa có sân bay, nên nếu muốn đi máy bay, du khách bay từ Hà Nội hoặc Tp.HCM đến sân bay Pleiku, sau đó đi xe bus hoặc taxi đến trung tâm Tây Quảng Ngãi cách đó khoảng 50km. Hiện nay các hãng máy bay như Vietjet, Vietnam Airline đều có chuyến bay đến sân bay Pleiku nên việc đặt máy bay rất thuận lợi. Phía trước sân bay có rất nhiều xe taxi đậu, nếu đến phường kon Tum, sẽ mất hơn 1 giờ đồng hồ. Nếu không muốn đi taxi thì có thể đi xe buýt đến Kon Tum, thời gian đi sẽ lâu hơn, mất khoảng hơn 2 tiếng là đến được Kon Tum. 

Nếu đi Măng Đen, khoảng cách từ sân bay Pleiku đến Măng Đen là 100km, sẽ mất khoảng hơn 2 giờ đồng hồ. Một cách nữa là chọn xe đưa rước dịch vụ, xe sẽ chở đi từ sân bay đến khách sạn ở Măng Đen, trên đường đi có thể kết hợp tham quan các địa điểm du lịch nổi tiếng tại Gia Lai và Tây Quảng Ngãi. Ngoài ra có thể đi xe buýt 2 chuyến để đến Măng Đen, sẽ mất khoảng hơn 3 tiếng tùy vào việc nhận hàng và trả khách.

Đường bộ là giao thông trọng yếu để đến với vùng đất Tây Quảng Ngãi.

Xe khách Từ thành phố Hồ Chí Minh đi trung tâm Tây Quảng Ngãi (Kon Tum)/ Măng Đen: Thường thì các xe sẽ xuất phát tại bến xe Miền Đông, từ 4-5 giờ chiều và đến nơi vào sáng hôm sau, chỉ cần lên xe ngủ một đêm là sáng hôm sau đã có thể đón bình minh trên mảnh đất Tây Quảng Ngãi. Mỗi điểm đến sẽ có giá khác nhau và thời gian đi cũng khác nhau. Thời gian đi sẽ mất khoảng từ 12 tiếng đến 14 tiếng.

Từ Đà Nẵng đi Tây Quảng Ngãi/Măng Đen: Xuất phát từ bến xe Đà nẵng, lộ trình chuyến đi khoảng 8 tiếng.

Từ Hà Nội hoặc các tỉnh miền Bắc đi Tây Quảng Ngãi/Măng Đen: Đi từ các tỉnh miền Bắc như bến xe Giáp Bát, Hà Nội, Thanh Hóa, Vinh, Nghệ An,… về Tây Quảng Ngãi có thể sẽ hơi tốn thời gian khi chuyến đi cần khoảng 21 – 25 tiếng di chuyển. 

Bên cạnh các phương tiện kể trên, du khách đam mê khám phá cũng có thể chọn phương tiện là xe máy, xe cá nhân nếu như ở những địa điểm không quá xa như vùng Đông Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Gia Lai vv…

Đi du lịch Vùng Tây Quảng ngãi theo Tour du lịch đây là cách đi du lịch phổ biến và an toàn nhất, khách du lịch nên áp dụng, đặc biệt là khi đi theo đoàn. Nếu đi du lịch theo Tour, xuất phát từ Hà Nội hoặc bất cứ đâu, giá Tour sẽ tùy theo điểm xuất phát và số ngày bạn tham quan du lịch.

IV. Lịch sửTây Quảng Ngãi (Kon Tum) các thời kỳ

Trước khi thành lập tỉnh

Vùng đất Kon Tum ngày xưa là vùng đất hoang vắng với sự sinh sống của các dân tộc bản địa gồm Xơ Đăng, Bana, Gia Rai, Giẻ Triêng, Brâu, Rơ Măm, Hrê. Đất rộng người thưa, cách biệt với bên ngoài bởi rừng rậm và núi non hiểm trở, các làng bản địa là những xã hội thu nhỏ, chưa có một chính quyền liên minh trong khi chính quyền các quốc gia hùng mạnh xung quanh như Đại Việt, Chân Lạp, Chiêm Thành, Vạn Tượng chưa vươn tầm kiểm soát đến đây.

Đồng bào dân tộc Xơ Đăng – Tây Nguyên xưa đang đánh cá mưu sinh. Ảnh: Jean – marie DUCHANGE.

Năm 1471, sau khi vua Lê Thánh Tông chinh phạt Chiêm Thành, đẩy lùi chính quyền Chiêm Thành về phía Nam (tương ứng vùng từ Khánh Hòa đến Bình Thuận ngày nay), đã cử các sứ thần thu phục các bộ tộc ở Tây Nguyên và sáp nhập vùng đất này vào lãnh thổ của Đại Việt. Thời Tây Sơn, ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ cử nhiều sứ giả đến tăng cường quan hệ hợp tác đồng minh với các bộ tộc vùng này nhằm tạo một hậu cứ vững chắc làm bàn đạp tiến xuống duyên hải, đồng thời mộ quân và tài lực phục vụ cho chiến tranh.

Thời Thiệu Trị, năm 1840, triều đình Huế cho lập Bok Seam, một người Bahnar làm quan cai trị các bộ tộc Tây Nguyên, đồng thời cho phép người Kinh và bộ tộc được phép tự do quan hệ mua bán, trao đổi.

Trong thời gian này, các giáo sĩ Thiên chúa giáo cũng tìm cách mở đường lên cao nguyên để truyền đạo, trong đó có cả Kon Tum. Lịch sử Giáo hội Công giáo tại Việt Nam ghi nhận, sau chuyến mở đường năm 1848, 2 linh mục Pháp và 7 thầy giảng người Việt đã đến Kon Tum và đặt cơ sở tôn giáo tại đây vào năm 1850. Hai trong 4 trung tâm truyền giáo đầu tiên được đặt ở vùng Kon Tum ngày nay.

Sau khi nắm được toàn quyền thực dân ở Đại Nam, người Pháp bắt đầu mở rộng quyền kiểm soát và tiến lên khai thác vùng Tây Nguyên. Năm 1888, một nhà phiêu lưu người Pháp là Mayréna xin phép chính quyền Pháp đi thám hiểm khu vực Tây Nguyên để thỏa thuận với các dân tộc thiểu số ở đây và được Toàn quyền Đông Dương lúc đó là Ernest Constans chấp thuận. Bằng các tiểu xảo, Mayréna đã thu phục được một số bộ tộc thiểu số (cụ thể là hai dân tộc Ba Na và Xơ Đăng) và thành lập ra Vương quốc Sedang với Mayréna làm vua, lấy hiệu là Vua Marie đệ nhất, vua Sedang. Thủ đô của Vương quốc Sedang tại làng Long Răng, hiện nay là làng Kon Gu, xã Ngok Wang, huyện Đăk Hà, Kon Tum cũ. 

Sau đó, Mayréna quay về Quy Nhơn và thuyết phục chính quyền thực dân Pháp mua lại vương quốc Sedang. Pháp từ chối đề nghị này, Mayréna sang Hồng Kông với ý định bán lại vương quốc Sedang cho người Anh. Nhân dịp này, công sứ Quy Nhơn Guiomar đã tìm cách ngăn chặn Mayréna trở về, đồng thời đặt quyền kiểm soát Tây Nguyên, dưới quyền công sứ Quy Nhơn. Năm 1892, chính quyền thực dân Pháp cho đặt tòa đại lý hành chính Kon Tum, do một giáo sĩ người Pháp là Vialleton (tên Việt: Truyền) phụ trách, trực thuộc tòa công sứ Bình Định.

Thời Pháp thuộc

Ngày 4 tháng 7 năm 1904, chính quyền thực dân Pháp thành lập tỉnh Plei Ku Der gồm hai tòa đại lý hành chính mới thành lập là Kon Tum (trước đây thuộc Bình Định) và Cheo Reo (trước đây thuộc Phú Yên). Ngày 25 tháng 4 năm 1907, chính quyền thực dân Pháp lại bãi bỏ tỉnh Plei Ku Der. Toàn bộ đất đai của tỉnh Plei Ku Der được sáp nhập trở lại hai tỉnh Bình Định và Phú Yên như trước đó.

Nhà thờ Gỗ Kon Tum – Nét kiến trúc cổ kính vượt thời gian. Ảnh: Phan Phong Nhật

Ngày 9 tháng 2 năm 1913, chính quyền thực dân Pháp chính thức thành lập tỉnh Kon Tum, bao gồm đại lý hành chính Kon Tum tách ra từ Bình Định, đại lý hành chính Cheo Reo tách ra từ Phú Yên, và đại lý hành chính Buôn Ma Thuột. Ngày nay, lịch sử tỉnh Kon Tum đã chính thức lấy ngày 9 tháng 2 năm 1913 là ngày thành lập tỉnh. Năm 1917, Pháp thành lập tòa đại lý hành chính An Khê, gồm huyện Tân An và khu vực người dân tộc thiểu số đặt dưới quyền cai trị của công sứ Kon Tum. Ngày 2 tháng 7 năm 1923, thành lập tỉnh Đắk Lắk trên cơ sở tách đại lý Buôn Ma Thuột khỏi tỉnh Kon Tum.

Ngày 3 tháng 12 năm 1929, thị xã Kon Tum được thành lập, trên thực tế chỉ là thị trấn, gồm tổng Tân Hương và một số làng dân tộc thiểu số phụ cận. Ngày 25 tháng 5 năm 1932, tách đại lý Pleiku ra khỏi tỉnh Kon Tum để thành lập tỉnh Pleiku. Đến ngày 9 tháng 8 năm 1943, đại lý hành chính An Khê được tách khỏi tỉnh Kon Tum, sáp nhập vào tỉnh Pleiku. Lúc này tỉnh Kon Tum chỉ còn lại tổng Tân Hương và toàn bộ đất đai vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Tổng Tân Hương là tên gọi tiền thân của thành phố Kon Tum cũ ngày nay. Tổng Tân Hương là nơi hội tụ của các làng người Kinh lên lập nghiệp tại Kon Tum. Theo thứ tự, các làng của tổng Tân Hương được thành lập theo thời gian và tên gọi như sau: Tân Hương (năm 1874); Phương Nghĩa (năm 1882); Phương Quý (năm 1887); Phương Hòa (năm 1892); Trung Lương (năm 1914); Phụng Sơn (năm 1924); Ngô Thạnh (năm 1925); Ngô Trang (năm 1925); Phước Cần (năm 1927); Lương Khế (năm1927).

Trong chiến tranh giành độc lập

Sau Cách mạng tháng 8, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tổ chức lại tỉnh Kon Tum thành 4 đơn vị hành chính gồm các huyện Đăk Glei, Đăk Tô, Konplong và thị xã Kon Tum. Ngày 26 tháng 6 năm 1946, người Pháp tái chiếm lại Kon Tum và sau đó trao lại quyền kiểm soát về danh nghĩa cho Quốc gia Việt Nam (thành lập năm 1949) để thành lập Hoàng triều cương thổ. Trên thực tế, bộ máy cai trị tại đây vẫn trên cơ sở hành chính cũ của người Pháp.

Về phía chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tỉnh Kon Tum chịu sự quản lý chỉ đạo về hành chính của Xứ ủy Trung Kỳ và Phân ban vận động quốc dân thiểu số Nam Trung Bộ. Tháng 1 năm 1947, Phân khu 15 thành lập, trong đó nòng cốt là tỉnh Kon Tum và các huyện miền Tây của hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi (cũ). Trên thực tế, tổ chức hành chính của tỉnh Kon Tum vẫn giữ nguyên, nhưng chịu sự quản lý và chi phối của Phân khu 15 về hoạt động quân sự. Tháng 8 năm 1947, Khu 15 Tây Nguyên được thành lập, tỉnh Kon Tum là một trong những đơn vị hành chính trực thuộc Khu 15. Tháng 3 năm 1950, theo chủ trương của Liên Khu ủy V, tỉnh Kon Tum và Gia Lai được sáp nhập thành tỉnh Gia – Kon. Tháng 10 năm 1951, theo quyết định của Liên Khu ủy V, tỉnh Kon Tum và các huyện phía tây Quảng Ngãi hợp nhất thành Mặt trận miền Tây. Tháng 2 năm 1954, Kon Tum là tỉnh đầu tiên và duy nhất ở Tây Nguyên hoàn toàn đặt dưới quyền kiểm soát của Việt Minh. Một thời gian sau, Mặt trận miền Tây cũng được giải thể.

Hệ thống 2 chính quyền trong Chiến tranh Việt Nam

Sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, phía Quốc gia Việt Nam tiếp quản Kon Tum. Năm 1958 dưới thời Việt Nam Cộng hòa, bộ máy hành chính tỉnh Kon Tum được chia thành tòa hành chính Kon Tum – bộ máy hành chính cấp tỉnh, bên dưới gồm các quận Kon Tum, Đăk Tô, Konplong và Đăk Sút.

Năm 1972, sau chiến dịch xuân – hè năm 1972, quân Giải phóng miền Nam Việt Nam giải phóng Đăk Tô – Tân Cảnh và đại bộ phận các vùng nông thôn, vùng kiểm soát của Việt Nam Cộng hòa bị thu hẹp đáng kể. Quận lỵ Đăk Tô phải chuyển về đèo Sao Mai; các chi khu Đăk Pét, Măng Đen, Măng Buk bị cô lập giữa vùng kiểm soát của quân Giải phóng. Lực lượng Việt Nam Cộng hòa chỉ còn tập trung phần lớn tại khu vực thành phố Kon Tum.

Năm 1974, quân Giải phóng tấn công tiêu diệt hoàn toàn các chi khu Đăk Pét, Măng Đen, Măng Buk. Tận dụng thời cơ thắng lớn ở Buôn Ma Thuột, ngày 16 tháng 3 năm 1975, quân giải phóng và dân chúng trong tỉnh đã nổi dậy tấn công vào đầu não của Việt Nam Cộng hòa ở nội thị, chiếm được thị xã và toàn tỉnh Kon Tum.

Đồng bào Kon Tum quây quần bên các chiến sỹ giải phóng trong buôn làng dọc đường 19 trong những ngày Tây Nguyên được giải phóng. Ảnh: Tư liệu/TTXVN

Sau khi Việt Nam thống nhất

Năm 1975, tỉnh Kon Tum sáp nhập với tỉnh Gia Lai thành tỉnh Gia Lai – Kon Tum, trên địa bàn tỉnh có thị xã Kon Tum và 3 huyện: Đăk Glei, Đăk Tô, Kon Plông.

Năm 1991, tỉnh Kon Tum được tái lập trên cơ sở chia tách tỉnh Gia Lai – Kon Tum thành hai tỉnh mới là Gia Lai và Kon Tum. Khi tách ra, tỉnh Kon Tum có 5 đơn vị hành chính gồm thị xã Kon Tum và 4 huyện: Đăk Glei, Đăk Tô, Kon Plông, Sa Thầy. Cùng năm, thành lập huyện Ngọc Hồi và thị trấn Plei Kần thuộc huyện Ngọc Hồi trên cơ sở tách mỗi phần đất của 3 huyện Sa Thầy, Đăk Tô và Đăk Glei.

Năm 1994, thành lập huyện Đăk Hà và thị trấn Đăk Hà thuộc huyện Đăk Hà, trên cơ sở một phần huyện Đăk Tô và một phần thị xã Kon Tum; Năm 2002, thành lập huyện Kon Rẫy và đổi tên thị trấn Kon Plông thành thị trấn Đắk Rve thuộc huyện Kon Rẫy; Năm 2005, thành lập huyện Tu Mơ Rông trên cơ sở một phần huyện Đăk Tô; Năm 2009, thành lập thành phố Kon Tum; Năm 2015, thành lập huyện Ia H’Drai trên cơ sở một phần huyện Sa Thầy; Năm 2019, thành lập thị trấn Măng Đen thuộc huyện Kon Plông trên cơ sở toàn bộ xã Đắk Long.

Ngày 12 tháng 6 năm 2025, Quốc hội ban hành Nghị quyết về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025, nghị quyết có hiệu lực từ ngày 12 tháng 6 năm 2025. Theo đó, sáp nhập tỉnh Kon Tum và tỉnh Quảng Ngãi thành tỉnh Quảng Ngãi mới, cơ quan hành chính tỉnh đặt ở trung tâm vùng Quảng Ngãi cũ.

V. Văn hóa – Lễ hội – Du lịch vùng đất Kon Tum

Nằm trong khu vực 5 tỉnh Tây Nguyên cũ, vùng đất Tây Quảng Ngãi (Kon Tum) là địa danh quen thuộc trong những tour du lịch Tây Nguyên bởi vùng đất này còn lưu giữ được nhiều di sản văn hóa, ngành nghề truyền thống, các loại ẩm thực độc đáo đậm chất Tây Nguyên. Mảnh đất hiện vẫn còn mang đầy đủ những vẻ đẹp nguyên sơ của núi rừng cao nguyên hùng vĩ và vẻ đẹp vốn có đang hiện hữu tại các buôn làng của đồng bào các dân tộc thiểu số.

Nhà rông Kon Klor – địa điểm sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của đồng bào. Ảnh: H.T.

1. Nét văn hóa Tây Quảng Ngãi – Vùng đất Kon Tum

Từ một làng nhỏ của người Bana cạnh dòng sông Đăk Bla, đồng bào các dân tộc Xơ Đăng, Gia Rai, Giẻ – Triêng, Brâu, Rơ Măm,… đến tụ cư, sinh sống, cho đến vị thế quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội của mảnh đất Tây Nguyên bao la, hùng vĩ,… mảnh đất Kon Tum xưa đã trải qua biết bao biến động và thăng trầm với nhiều lần thay đổi tên gọi và địa giới hành chính. Ngược dòng thời gian, tìm hiểu về những giai đoạn lịch sử mà Kon Tum đã đi qua, càng thấy trân trọng hơn ý chí, nghị lực, lòng quả cảm và sức mạnh nội lực của đất và người nơi đây trong hành trình vươn lên cùng đất nước.  
Tên gọi Kon Tum, theo truyền thuyết của dân tộc Bana, Kon Tum ban đầu chỉ là một làng của người Bana. Thuở ấy, vùng đồng bào dân tộc Bana (ngày nay thuộc TP. Kon Tum cũ) có làng người địa phương ở gần bên dòng sông Đăkbla với tên gọi Kon Trang – OR. Lúc ấy, làng Kon Trang – OR rất thịnh vượng với dân số khá đông. Bấy giờ, giữa các làng luôn gây chiến với nhau để chiếm đoạt của cải và bắt người về làm nô lệ. Hai con trai của Ja Xi – một trong số những người đứng đầu làng Kon Trang – OR tên là Jơ Rông và Uông không thích cảnh chiến tranh đã làm nhà ở riêng gần chỗ có hồ nước, cạnh dòng Đăkbla. Vùng đất này rất thuận lợi cho phương thức sống định cư, nên dần dần có nhiều người đến ở, mỗi ngày một phát triển thêm đông, lập thành làng mới có tên gọi là Kon Tum. Từ đó, Kon Tum trở thành tên gọi chính thức cho một làng mới lập của người Bana, cạnh dòng Đăkbla, nơi có nhiều hồ nước trũng. Theo tiếng Kinh, Kon Tum có nghĩa là Làng Hồ (Kon là làng, Tum là hồ, ao, bàu nước,…).

Làng Kon K’tu.

Do vị trí đặc biệt, Kon Tum là vùng đất bằng, được dòng Đăkbla uốn quanh bồi đắp phù sa màu mỡ. Trải qua những biến động, thăng trầm của lịch sử, vùng đất này có nhiều biến đổi, đồng bào các dân tộc tụ hội về đây ngày một đông. Người Kinh khi đến Tây Nguyên cũng chọn vùng đất Kon Tum làm nơi định cư. Từ đó, Kon Tum trở thành vùng đất cộng cư của nhiều dân tộc.
Phát huy những thuận lợi về điều kiện tự nhiên với sự cần cù lao động của con người, vùng đất Kon Tum ngày càng phát triển thịnh vượng, không chỉ một làng mà nhiều làng, bao quát cả vùng đất đai rộng lớn. Vùng đất này khi thành lập thị xã cũng mang tên gọi chính thức là Kon Tum. Khi đơn vị hành chính cấp tỉnh được thành lập, Kon Tum vẫn chính thức được dùng làm tên gọi của tỉnh. Đây là vùng địa lý hành chính được hình thành sớm nhất ở Tây Nguyên. Hiện nay vùng đất Kon Tum có 43 dân tộc cùng sinh sống, trong đó có 7 dân tộc thiểu số (DTTS) tại chỗ gồm: Ba Na, Xơ Đăng, Gié Triêng, Gia Rai, Brâu, Rơ Măm, Hrê. Cộng đồng các DTTS tại chỗ trên địa bàn đang sở hữu một kho tàng văn hóa dân gian vô cùng phong phú, sinh động, đa sắc màu…

Với 43 dân tộc anh em cùng sinh sống, Quảng Ngãi mới rất phong phú các giá trị văn hóa, ẩm thực, lễ hội,…Ảnh: Hà Nguyễn

Bức tranh di sản văn hóa đa sắc

Hệ thống di sản văn hóa vật thể, phi vật thể của vùng đất Kon Tum được đánh giá rất phong phú, đa dạng. Chúng là sự thể hiện sinh động phong tục, tập quán, tín ngưỡng của các cộng đồng khác nhau, được bảo tồn và lưu truyền từ đời này sang đời khác, thông qua nhiều loại hình, từ luật tục, kiến trúc, lễ hội, đến nhạc cụ, văn học truyền miệng, nghệ thuật dân gian, ẩm thực, trang phục, nghề truyền thống. Đó như là sử thi, truyền thuyết, thần thoại, ngụ ngôn, truyện cổ tích, dân ca, nghệ thuật điêu khắc, dệt vải, trang phục, làm gốm, chế tác nông cụ, trang sức… Thể hiện triết lý nhân sinh, nguồn gốc dân tộc, tình yêu thương con người, tình yêu thiên nhiên, đất nước. Tất cả làm nên một “bức tranh” di sản văn hóa đa sắc màu.

Tiết mục múa Chiêu của các thiếu nữ làng Đăk Đe dân tộc Hà Lăng (một nhóm địa phương của dân tộc Xơ Đăng) trong buổi lễ hội mừng nhà rông mới.

Nổi bật trong kho tàng di sản văn hóa đó là di sản không gian văn hóa cồng chiêng, các DTTS tại chỗ trên địa bàn Vùng đều có hoạt động sinh hoạt văn hóa cồng chiêng, được thực hành gắn liền với các nghi lễ, lễ hội của cộng đồng và thường tổ chức tại nhà rông, nhà sàn, nhà mồ. Mỗi DTTS lại có những bộ chiêng lễ, mang tính đặc trưng riêng. Như dân tộc Xơ đăng- nhóm Xơ Teng có bộ chiêng S’teng, gồm 7 cái chiêng bằng; dân tộc Gié – Triêng có bộ chiêng Nỉ, gồm 3 cái chiêng bằng; dân tộc Brâu có bộ chiêng Tha, gồm 2 cái chiêng bằng; dân tộc Ba Na, Gia Rai có chiêng Hŏnh. Cồng chiêng được xem là vật thiêng gắn với đời sống tâm linh. Với tín ngưỡng dân gian đa thần, vạn vật hữu linh nên những bộ chiêng thiêng đều có Yàng (trời) trú ngụ (được gọi là chiêng lễ), chỉ được đưa ra sử dụng trong phần lễ của những lễ hội lớn, long trọng. 

Ghìn giữ  văn hóa truyền thống của dân tộc Gié Triêng ở làng Đăk Răng, xã Đăk Dục.

Ngoài cồng chiêng, nhạc cụ đặc trưng của núi rừng tây nguyên Kon Tum còn các loại nhạc cụ độc đáo như: đàn đá, đàn Kơ ny, tù và, Đinh Tu-kủa, Klong-pút, T’rưng, chiêng Klong Klai, trống Sơgơr… 

Hay về lễ hội, các DTTS tại chỗ trên địa bàn có hệ thống nghi lễ, lễ hội truyền thống phong phú, độc đáo, từ hệ thống nghi lễ, lễ hội liên quan vòng đời con người như lễ thổi tai, lễ trưởng thành, lễ cưới, tang ma, bỏ mả; hệ thống nghi lễ, lễ hội liên quan vòng đời cây lúa như lễ phát rẫy, lễ trỉa lúa, lễ ăn lá lúa, lễ ăn giống lúa thừa, lễ mừng lúa mới, lễ mở kho lúa. Đến hệ thống nghi lễ, lễ hội liên quan đến cộng đồng như lễ lập làng mới, lễ mừng nhà rông mới, lễ mừng nhà mới, lễ dời làng, lễ cầu mưa, lễ cầu an. Loại hình dân ca, dân vũ, dân nhạc của đồng bào các DTTS trên địa bàn cũng rất phong phú và độc đáo, bao gồm các làn điệu dân ca, múa xoang, các loại nhạc cụ truyền thống của dân tộc. Nổi bật là múa xoang – một hoạt động sinh hoạt văn hóa tinh thần gắn liền với âm nhạc cồng chiêng và được thực hành trong các ngày hội của cộng đồng làng. Kon Tum còn một kho tàng phong phú về chủng loại trang phục cổ truyền của đồng bào các DTTS có nghệ thuật tạo dáng, trang trí thể hiện sự tài hoa, óc thẩm mỹ của đồng bào, góp phần quan trọng tạo nên bản sắc văn hóa tộc người.

Lễ hội Puh Hơ Drih (cầu An) với những hoạt động đặc sắc.

Kon Tum còn rất nhiều các công trình kiến trúc bao gồm hệ thống các kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng, sinh hoạt cộng đồng (đình, đền, chùa, nhà mồ, nhà rông, nhà dài); các công trình khảo cổ (thành quách, di chỉ…); các công trình kiến trúc dân dụng. Ở mỗi tộc người các giá trị kiến trúc đó biểu hiện rất sinh động, gắn bó mật thiết với môi trường sinh thái nhân văn, hài hòa trong nếp sống…

Tòa Giám Mục không chỉ giữ vai trò tôn giáo mà còn trở thành một di sản văn hóa, phản ánh sự giao lưu giữa phương Tây và bản địa trong lịch sử vùng đất Kon Tum.

Trong lịch sử phát triển nền văn hóa của vùng đất Kon Tum luôn gắn với lịch sử phát triển các nghề truyền thống của các DTTS. Mỗi dân tộc, mỗi vùng đất thường có những nghề, sản phẩm truyền thống. Các sản phẩm từ nghề truyền thống của một dân tộc thường mang dấu ấn văn hóa và hồn cốt riêng của dân tộc trên vùng đất đó. Như đối với sản phẩm đan lát của dân tộc Gié Triêng thì có đặc trưng riêng, nhất là hoa văn. Ngày xưa, các cụ làm hoa văn này để trang trí cho sản phẩm đẹp hơn, có giá trị hơn so với cách đan thông thường. Rồi như cùng là sản phẩm thổ cẩm, nhưng thổ cẩm của dân tộc Ba Na luôn có những nét khác biệt so với dân tộc Giẻ Triêng, Xơ Đăng… được thể hiện trên từng sợi thổ cẩm, cách cách điệu trên từng hoa văn trang trí, mang tâm tư, tình cảm và hồn cốt riêng. Nghề và sản phẩm thủ công truyền thống của các dân tộc vùng đất Kon Tum và Tây Nguyên như dệt thổ cẩm, làm rượu cần, rèn, gốm, chế tác nỏ, chế tác các nhạc cụ âm nhạc truyền thống, nghệ thuật điêu khắc tượng gỗ, đẽo thuyền độc mộc, trang trí cột, vật thờ, làm đồ trang sức, đan lát (gùi, bồ)…Những sản phẩm thủ công không chỉ là vật dụng sinh hoạt đời thường, mà còn là những sản phẩm nghệ thuật mang tính biểu trưng cho văn hóa của đồng bào các dân tộc nơi đây, là những giá trị tạo nên một hệ thống sản phẩm du lịch độc đáo, riêng biệt, có sức hút cao.

Bao thế hệ phụ nữ Ba Na lưu truyền nghề dệt, một nét văn hóa đẹp tại làng Kon Kơtu.

Toàn Vùng hiện có khoảng 479 nhà rông; hơn 2.500 bộ cồng chiêng được lưu giữ và hơn 500 làng đồng bào DTTS có cồng chiêng, có đội cồng chiêng và múa xoang; sưu tầm, phục dựng được thêm nhiều lễ hội truyền thống của các DTTS. Hiện nay, nhiều thôn, làng trên địa bàn Vùng Đất đã phát triển du lịch như: Làng Kon Kơ Tu, xã Ðăk Rơ Wa; làng Bar Gốc, xã Sa Thầy; làng Vi Rơ Ngheo, xã Măng Đen; làng Ðăk Răng, xã Dục Nông (mới),… Lưu giữ còn có những phương tiện đi lại của con người mang tính thuần nông của nền văn minh nương rẫy, văn minh núi rừng gắn liền với sông suối, như voi lội sông, thuyền độc mộc, bè gỗ, nứa… trên các vùng núi, vùng hồ, cao nguyên cũng là những phương tiện gợi nhớ hấp dẫn sự hứng thú, nhu cầu thích thú để khám phá, trải nghiệm của du khách giúp cho hoạt động du lịch Kon Tum ngày càng thêm phong phú, sôi động, hấp dẫn. Khẳng định vị trí, vai trò của văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là sức mạnh nội sinh cho sự phát triển.

Khách du lịch chuẩn bị trải nghiệm thuyền độc mộc trên sông Đăkbla Ảnh: Phạm Huy Bằng

2. Những lễ hội đặc sắc ở vùng đất Kon Tum

Với những lễ hội đặc sắc của đồng bào các dân tộc bản địa tại chỗ. Đến nay, vùng Tây Quảng Ngãi có khoảng 33 lễ hội được bảo tồn, nghiên cứu, phục dựng. Trong đó phải kể tới những lễ hội văn hóa đặc trưng đó là:

Lễ hội mừng lúa mới Lễ hội mừng lúa mới là một trong những lễ hội vùng Kon Tum được yêu thích và mong đợi nhất của các dân tộc Ba Na, Xơ Đăng, Giẻ Triêng. Lễ hội được tổ chức sau vụ thu hoạch, vào khoảng tháng 11 đến tháng 1 hằng năm, đánh dấu mùa màng bội thu, thể hiện lòng biết ơn đến thần linh. Khi thời điểm lúa bắt đầu chín rộ, già làng sẽ chọn ngày đẹp để tổ chức lễ hội mừng lúa mới. Vào những ngày diễn ra lễ hội, tất cả các gia đình cùng nhau dọn dẹp nhà cửa tươm tất với ý nghĩa thần lúa sẽ dễ dàng trở về nhà mà không cảm thấy lạ.

Lễ hội mừng lúa mới của đồng bào Xơ Đăng.

Lễ hội diễn ra với những nghi lễ linh thiêng và nhiều hoạt động văn hóa. Vào những ngày diễn ra lễ hội, phụ nữ là người chuẩn bị các vật dụng như dây chỉ, nồi nấu cơm cúng và gùi thiêng… Lễ hội được chia thành hai giai đoạn. Giai đoạn 1 ăn lúa mới tại gia đình: chủ nhà sẽ lên rẫy lúa đánh dấu vị trí, thực hiện tín ngưỡng trước khi tuốt lúa. Sau đó, sẽ mang về cất giữ và cúng lúa mới, trên đường di chuyển từ rẫy về nhà họ sẽ dùng một cành cây để chắn những lối phụ khác và chỉ để lại lối đi cho kho lúa của nhà mình. Giai đoạn 2 mừng lúa mới tại nhà Rông: Già làng là người đứng đầu tổ chức lễ hội cho cả làng để bày tỏ lòng thành kính với tổ tiên đã ban cho một vụ mùa bội thu. Mỗi nhà góp vào một con gà, một khau cốm, một ghè rượu,…bày biện dọc theo 2 hàng của nhà rông. Khi chuẩn bị xong thì mỗi nhà sẽ cử ra một đại diện ngồi tại mâm lễ của mình trong khi đám trai làng nổi cồng chiêng, già làng làm lễ cầu mong bình yên và ấm no cho dân làng, từng đại diện của các gia đình cũng có ước mơ cho riêng mình. Sau đó già làng, các bậc lão niên của làng cùng dân làng ăn uống. Không khí lễ hội mừng lúa mới rất vui, tràn ngập tiếng nói cười kéo dài thâu đêm trong tiếng cồng chiêng và bầu không khí đầm ấm.

Già làng Brôl Vẻ cùng các già làng có uy tín tiến hành làm Lễ mừng lúa mới của người Giẻ Triêng, xã Dục Nông Ảnh: Ngọc Hòa/BVH.

Lễ cúng đất làng Mang trong mình hơi thở tâm linh ngàn đời, lễ cúng đất làng là một trong những lễ hội đặc sắc vùng đất Kon Tum, gắn liền với đời sống Ba Na, Xơ Đăng. Tổ chức hàng năm vào tháng 3 âm lịch, bắt đầu vụ mùa sản xuất hoặc dọn tới một vùng đất mới. Người dân Ba Na, Xơ Đăng quan niệm, con người khi sinh ra cho tới khi xuống dưới mồ đều có những mối quan hệ ứng xử trong cuộc sống. Để sinh tồn, các dân tộc phải trải qua nhiều khó khăn như thú dữ, bệnh tật, nghèo đói, sự khắc nghiệt của thiên nhiên… lễ hội nhằm tạ ơn thần đất đã che chở, ban phước lành và cầu mong mùa màng bội thu, dân làng bình an, khỏe mạnh. Đây là một lễ hội Kon Tum nổi tiếng thể hiện sự đoàn kết, khi mọi người cùng chuẩn bị lễ vật và tham gia nghi thức trang trọng. Các già làng chủ trì, cầu khấn linh thiêng, sau đó là phần hội với cồng chiêng, múa hát và ăn uống chung. Lễ cúng đất làng củng cố niềm tin, gắn kết cộng đồng và giữ gìn bản sắc văn hóa độc đáo của người dân  vùng Kon Tum.

Lễ hội mừng nhà Rông mới của người Giẻ Triêng Lễ hội đặc sắc này được bắt đầu bằng những công việc rất nhỏ. Chị em phụ nữ xuống suối bắt cá, đi hái rau rừng…, các chàng trai vào rừng săn bắn lấy thực phẩm về làm lễ. Không gian lễ hội mừng nhà Rông mới của người Giẻ Triêng bao giờ cũng phải có cây nêu, rồi đến con trâu. Những chàng trai có bàn tay khéo léo tài hoa sẽ được chọn vào rừng chặt cây nêu cúng Giàng. Trước khi đi, phải lên nhà Rông ngủ chay 3 ngày đêm, sau đó họ xuống suối tắm rửa sạch sẽ rồi mới được vào rừng chặt cây về làm cây nêu.

Nghi thức trước khi diễn ra Lễ đâm trâu, lễ hội mừng nhà rông mới.

Đồng bào Giẻ Triêng theo chủ nghĩa đa thần, con trâu là vật thiêng liêng, hy sinh cúng Giàng, là vật thế mạng họ để cầu xin thần linh cho buôn làng khỏe mạnh. Chính vì vậy, trong lễ mừng nhà Rông mới không thể thiếu lễ đâm trâu. Một nghi lễ hết sức đặc biệt trước ngày diễn ra lễ đâm trâu là lễ “khóc trâu”. Đến trước khi tiến hành nghi lễ đâm trâu, già làng sẽ thực hiện nghi lễ để con trâu trở thành con trâu thiêng, trở thành vật hiến sinh cúng Giàng của người Giẻ Triêng, họ cắm vào sừng trâu những chùm hoa sặc sỡ… Người dân trong làng hò reo, các chàng trai vừa nhảy vừa đánh cồng chiêng vòng quanh cây nêu và con trâu. Những phụ nữ cùng nhau múa những điệu múa mộc mạc đơn giản nhưng vô cùng sinh động thể hiện những động tác trong lao động sản xuất của người Giẻ Triêng, từ làm cỏ lúa, gieo hạt, xua đuổi sâu bọ phá hại mùa màng đến những động tác thể hiện việc chào mời khách vào cùng chơi, cùng vui hội với họ… Khi những người tham gia lễ hội như được thông linh với thần, họ trở nên thăng hoa, nhịp chiêng của các chàng trai ngày càng náo nức, nhộn nhịp, các cô gái cũng chuyển từ điệu múa xoang sang điệu Bông rốk vô cùng mạnh mẽ…cũng là lúc tiến hành nghi thức đâm trâu. Lễ hội đâm trâu kết thúc, mọi người được mời vào nhà Rông, cùng đánh cồng chiêng, cùng múa điệu Bông rốk, cùng uống rượu thiêng… để mừng làng mới, mừng nhà mới.

Lễ hội Puh Hơ Drih (Lễ cầu an) Thường được tổ chức vào tháng 11 – 12 hàng năm của người Ba Na, xã Sa Bình mới. Puh Hơ Drih là một trong những lễ hội ở Kon Tum đặc sắc được tổ chức sau khi thu hoạch mùa màng. Khi đó người đứng đầu buôn làng sẽ tổ chức cho mọi người cùng nhau sửa sang lại nhà rông và các máng nước để đón lễ hội.

Lễ hội Puh Hơ Drih vùng Tây Quảng Ngãi hấp dẫn du khách.

Người Rơ Ngao quan niệm, lễ hội được tổ chức với ý nghĩa cầu mong cho dân làng tránh xa dịch bệnh và các thế lực xấu, luôn được an lành, ấm no. Lễ hội được tổ chức tại nhà Rông với phần cúng lễ và hiến tế bò, gà, heo… Tất cả mọi người dân trong buôn làng cùng nhau mặc trang phục truyền thống, đánh cồng chiêng, liên hoan và ca hát… Hiện nay, lễ hội Puh Hơ Drih không chỉ là hoạt động tâm linh truyền thống với ý nghĩa cảm ơn đất trời ban cho mùa màng bội thu, mà còn là dịp để tất cả mọi người dân cùng nhau vui chơi, uống rượu cần và đánh cồng chiêng. Lễ hội được tổ chức cũng là dịp để người dân thể hiện tinh thần đoàn kết và bảo tồn những nét đẹp văn hóa cho thế hệ mai sau. 

Lễ hội đâm trâu ( X’trǎng) Lễ hội đâm trâu đứng vững vị thế là một trong những lễ hội đặc sắc vùng Kon Tum, ghi dấu ấn bởi tính thiêng liêng với các dân tộc Ba Na, Xơ Đăng,… Dù tên gọi gây tranh cãi, nghi thức mỗi dân tộc có đôi chút khác nhau, nhưng bản chất đây là nghi thức cúng tế thần linh, cầu mong bình an và may mắn. Con trâu được chọn kỹ lưỡng làm vật hiến tế linh thiêng. Trong ngày diễn ra lễ hội đâm trâu thì người dân sẽ cột trâu lễ vào chiếc cột nêu (người bản địa gọi là cây sakapô bằng dây mây). Già làng sẽ tiến hành làm lễ, nghi lễ này đi kèm cồng chiêng sôi động, lời khấn thành kính, và sự tham gia của cộng đồng. Phần quan trọng nhất của lễ hội này là đâm trâu, những thanh niên thật khoẻ mạnh cường tráng, trình diễn võ thuật, thị uy sức mạnh quanh trâu lễ, trong khi dân làng cổ vũ hò reo. Khi trâu đã thấm mệt họ sẽ lựa thời cơ để đâm trâu. Trâu sau khi xẻ thịt sẽ được chia chỏ cho tất cả dân làng và xem đó là một điềm may mắn. Đây là lễ hội nổi tiếng không chỉ thể hiện tín ngưỡng sâu sắc mà còn củng cố đoàn kết, truyền dạy giá trị văn hóa truyền thống.

Lễ bỏ mả (Mơt bơxát hoặc Mơt brưh bơxát) Lễ bỏ mả có từ lâu đời, gắn liền với đời sống tâm linh của các dân tộc bản địa Tây Nguyên như Ba Na, Gia Rai, Ê Đê, và Mơ Nông. Lễ hội người Ba Na ở vùng Kon Tum sẽ kéo dài trong 5 ngày, trong quan niệm của đồng bào Ba Na thì người chết sẽ mất đi thể xác nhưng phần hồn của họ sẽ vẫn tồn tại trong nhà mồ và hồn sinh hoạt bình thường như những người sống trên trần gian. Phải qua từ 3 năm, 5 năm đến 7 năm mới làm lễ bỏ mả để linh hồn người chết đi qua thế giới mới. 

Hình ảnh chuẩn bị cho một lễ bỏ mả ở Tây Nguyên.

Trong lễ bỏ mả các gia đình sẽ chọn ngày cuốc dọn, thực hiện nghi lễ cầu xin hồn ma của người chết cho dựng nhà mồ mới, dọn dẹp nhà mả cũ. Trong những ngày đầu họ sẽ tập trung lại để xây nhà mồ mới và mang rượu, thịt đến để ăn uống, cúng cho người chết và thực hiện khóc lần cuối để vĩnh biệt người chết. Đến ngày thứ 4 khi đã xây nhà mồ mới xong sẽ dắt trâu ra nhà rông của làng và làm lễ tế thần linh. Nghi thức bỏ mả cúng xong thì trâu được mang làm thịt để cả dân làng ăn uống ngay trong đêm đó. Khi lễ bỏ mả đã hoàn thành thì những ràng buộc của người sống và người chết sẽ cắt đứt, người chết sẽ bước sang thế giới mới không còn quấy rầy trần gian và người sống cũng sẽ không cần cúng hay kiêng kị điều gì nữa.    

Lễ hội mở cửa kho lúa của người Rơ Măm Rơ Măm là 1 trong 5 dân tộc có dân số ít nhất cả nước sinh sống chủ yếu tại làng Le, xã biên giới Mô Rai, tây Quảng Ngãi. Mặc dù là dân tộc ít người nhất nhưng Rơ Măm lại có một nền văn hóa đặc sắc với những nét nổi bật về tri thức dân gian, truyện cổ, bài ca, điệu múa, biểu diễn cồng chiêng, đặc biệt là hệ thống lễ hội xoay quanh vòng đời người và cây trồng. Trong các lễ hội lớn của người Rơ Măm như: Lễ cưới, lễ bỏ mả, lễ mừng nhà rông mới và các nghi lễ gắn liền với hoạt động sản xuất nông nghiệp thì lễ mở cửa kho lúa là lễ hội lớn nhất. 

Lễ Mở cửa kho lúa người Rơ Măm làng Le, xã Mô Rai 2024  Ảnh: Quang Vinh

Hằng năm, vào tháng 11-12 dương lịch, khi công việc thu hoạch lúa rẫy đã xong, người Rơ Măm sẽ tổ chức lễ mở cửa kho lúa để tạ ơn các thần linh đã ban cho dân làng một vụ mùa bội thu. Lễ hội này thường được tổ chức trong 3 ngày, nhưng cả làng phải chuẩn bị cả tháng trước đó. Đàn ông thì chỉnh lại chiêng, sửa lại đàn, vào rừng chọn lấy cây tre già nhất, thẳng ngọn nhất để làm cây nêu. Đàn bà, con gái thì khẩn trương dệt nốt những bộ váy áo đẹp cho mình và người thân trong gia đình để kịp mặc trong ngày hội. Sau khi các công việc chuẩn bị hoàn tất, người Rơ Măm bắt đầu làm lễ Mở cửa kho. Đầu tiên, người dân cúng mở cửa kho lúa của gia đình, sau đó đến nhà rông để tham gia lễ hội của cả làng. Lễ hội diễn ra với các nghi thức cúng Giàng (trời), thần linh và các hoạt động văn hóa đặc sắc như: Lễ hội đâm trâu, đánh cồng chiêng, múa xoang…Đây là hình thức sinh hoạt tín ngưỡng đặc sắc, thể hiện nét văn hóa riêng, độc đáo của người Rơ Măm ở vùng đất Kon Tum.

Độc đáo Lễ cúng trỉa lúa của người Brâu Làng Đắk Mế, xã Bờ Y, là nơi sinh sống tập trung của dân tộc Brâu, một trong những dân tộc thiểu số ít người hiện nay. Xuất phát từ yếu tố mùa vụ và tín ngưỡng đa thần, vạn vật hữu linh, cộng đồng người Brâu đã hình thành và lưu giữ một kho tàng văn hóa truyền thống độc đáo. Trong đó, Lễ cúng trỉa lúa là một hoạt động dân gian tiêu biểu, phản ánh những ước mong, hy vọng của người Brâu về một vụ mùa thu hoạch được nhiều lúa, nhà nhà ấm no, hạnh phúc.

Làm thủ tục cúng chiêng Tha của Người Brâu, chiêng Tha không chỉ là nhạc khí mà còn là thần linh, là tổ tiên của họ.

Trước đây, với hình thức canh tác du canh du cư, nên trước mỗi mùa rẫy, người Brâu tiến hành tìm khu rẫy mới. Sau mùa đốt rẫy khoảng 1 đến 2 tháng, người Brâu làm Lễ cúng trỉa lúa. Đây là lễ hội đầu tiên trong năm của người Brâu. Là phần lễ khởi đầu cho một vụ mùa, nên việc tổ chức lễ và cúng tế phải thể hiện được sự linh thiêng và trang trọng. Người tham gia lễ mặc các trang phục truyền thống, đối với đàn ông thì mặc khố, đàn bà mặc Ktu. Sau khi các công đoạn đã chuẩn bị xong, vật hiến sinh được lần lượt đưa vào cây nêu. Thầy cúng thường là già làng uy tín tiến hành nghi thức cúng. Trong Lễ cúng trỉa lúa cũng như các lễ hội khác, thủ tục cúng chiêng Tha và mời Tha ăn là quan trọng nhất, vì người Brâu cho rằng, chiêng Tha không chỉ là nhạc khí mà còn là thần linh, là tổ tiên của họ. Vì vậy, để mời Tha nói trước tiên phải làm lễ mời Tha ăn, mời Tha uống… Khi các nghi thức cúng hồn lúa đã hoàn tất thầy cúng uống cang rượu đầu tiên, sau đó dân làng cùng đến uống ché rượu thiêng để mong thần linh chứng giám, phù hộ cho gia đình mình. Những người tham dự cũng được mời uống để sẻ chia sự khẩn cầu và niềm vui vào mùa vụ gieo trồng mới. Sau phần lễ là phần hội diễn ra tưng bừng, vui vẻ với sự tham gia của cả cộng đồng. Không gian lễ cúng trỉa lúa rộn rã trong nhịp trống, tiếng cồng chiêng, tiếng đàn đing put, dân ca, dân vũ…, những cô gái Brâu trong trang phục truyền thống uyển chuyển trong các điệu múa, cùng các chàng trai bên ché rượu cần. Tất cả hòa quyện, tạo nên một lễ hội đậm bản sắc văn hóa.

Ngoài những lễ hội độc đáo kể trên thì vùng đất Tây Quảng Ngãi (kon Tum) còn có nhiều lễ hội tiêu biểu khác như lễ hội con dúi; lễ hội nhà rông mới của người Xơ Đăng, J’Rai; Lễ hội bắc máng nước của tộc người Xơ Đăng; Lễ hội mừng nước giọt của tộc người Bah Nar (Rơ ngao); Lễ bỏ mả của dân tộc J’Rai, Rơ Măm… Mỗi lễ hội sẽ có những nét độc đáo và lễ nghi riêng gắn liền với đời sống mỗi đồng bào dân tộc, thể hiện nét văn hoá độc đáo và đời sống tinh thần phong phú của đồng bào bản địa, Khám Phá Việt Nam hy vọng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn những nét văn hóa đặc sắc của những lễ hội này và có chuyến đi khám phá đáng nhớ.

3. Du lịch – Điểm đến hấp dẫn ở Tây Quảng Ngãi

Hằng năm, thường vào tháng 1 dương lịch, Tây Quảng Ngãi vào mùa du lịch với những tour du lịch hấp dẫn. Tour du lịch thành phố Kon Tum (cũ) với Bảo tàng tỉnh Kon Tum, Nhà ngục Kon Tum, Nhà thờ gỗ Kon Tum, Nhà rông – cầu treo Kon Klor, làng văn hóa Kon Kơ Tu… Tour du lịch về nguồn với những địa danh huyền thoại như: Đắk Tô – Tân Cảnh – Sa Thầy, đường Hồ Chí Minh… Tour du lịch sinh thái gồm: cao nguyên Kon-Plong, hồ Yaly, Đỉnh Ngọc Linh, Vườn Quốc gia Chư Mom Ray, rừng đặc dụng Đắk Uy, du lịch dòng Đắk Bla, Pôkô, du xuân chốn đại ngàn thông, hồ và thác Măng Đen… Khám Phá Việt Nam xin giới thiệu những điểm đến hấp dẫn trong hành trình du lịch vùng đất Kon Tum.

Nhà Rông Kon Klor một biểu tượng văn hóa Tây Nguyên.

Nhà rông Kon Klor Nhà rông Kon Klor ở vùng đất Kon Tum được biết đến là ngôi nhà cộng đồng hay được sử dụng để làm nơi tụ họp của dân làng trong những buôn làng Tây Nguyên và cũng là ngôi nhà lớn nhất Tây Nguyên. Nhà rông Kon Klor được xây dựng theo kiểu truyền thống với chất liệu hoàn tằng bằng gỗ, tre, nứa, tranh, lá và có những họa tiết, hoa văn trang trí rất công phu. Các nghệ nhân và người dân làng Kon Klor đã phối hợp vô cùng ăn ý để gìn giữ những nét đặc trưng của mình trên nhà rông. Với mái nhà cao vút, nhà rông Kon Klor sừng sững, vững chãi được coi là điểm tựa cho hồn làng, cũng là niềm tự hào của các nghệ nhân và người dân Ba Na.

Làng Kon Klor Nằm bên dòng sông Đăk Bla hiền hòa, thơ mộng là ngôi làng Kon Klor xinh xắn, tràn ngập sắc màu văn hóa, thấp thoáng những ngôi nhà sàn còn giữ nguyên vẹn kiến trúc Ba Na độc đáo với màu gỗ nâu trầm và những chi tiết trang trí đầy ấn tượng Làng du lịch cộng đồng Kon Klor thuộc địa phận phường Kon Tum, Kon Klor có nghĩa là “gòn rừng” bởi trước đây quanh làng có rất nhiều cây gòn rừng mọc hoang. Ấn tượng của du khách khi đến với làng Kon Klor là sắc xanh bao phủ ngút ngàn và sắc nâu từ những ngôi nhà truyền thống. Nơi đây được biết đến là một trong những ngôi làng của người Ba Na vẫn còn lưu giữ kiến trúc độc đáo và nghề thủ công truyền thống. Trong làng có rất nhiều ngôi nhà sàn mang dáng dấp kiến trúc Ba Na cột bằng gỗ chắc chắn, gầm cao, trang trí hoa văn tỉ mỉ. Điểm nhấn đặc biệt ở làng Kon Klor chính là nhà rông Kon Klor, là nhà cộng đồng, đồng thời là nơi sinh hoạt chung của cộng đồng cư dân nơi đây, là địa điểm thường xuyên tổ chức các lễ hội lớn của địa phương. Bên cạnh Nhà rông là cầu treo Kon Klor – chiếc cầu nối đôi bờ sông Đăk Bla huyền thoại. Một trong những nét văn hóa đặc trưng của làng Kon Klor là những mặt hàng thổ cẩm thủ công với các trang phục truyền thống, váy áo, túi xách, tấm đắp, tấm choàng…có hoa văn tinh tế, đường nét mềm mại, màu sắc hài hòa. Du khách đến với làng còn có thể tìm thấy những đồ lưu niệm nhỏ xinh như mô hình nhà rông, đàn t’rưng, gùi… Dù vật dụng bé nhỏ nhưng đã được những nghệ nhân Ba Na thổi hồn, tuy mộc mạc nhưng chứa đựng cả không gian sống của người làng Kon Klor hiền hòa, dễ mến.

Cầu treo Kon Klor – cây cầu nối liền hai bờ sông Đăk Bla huyền thoại là một trong những địa điểm không thể bỏ qua trong danh sách các địa điểm du lịch Kon Tum. Thời khắc đẹp nhất của chiếc cầu này là những buổi chiều hoàng hôn buông xuống, biến nơi đây vừa mờ ảo, vừa huyền bí, lãng mạn. Từ trên cầu, phóng tầm mắt ngắm nhìn không gian làng mạc, đồng lúa, ruộng ngô, bãi mía xung quanh cùng với dòng sông mải miết chảy ngay dưới chân cầu, thưởng ngoạn không khí trong lành, du khách sẽ cảm thấy tâm hồn mình trở nên thoải mái hơn.

Làng Kon K’Tu Thuộc xã Đắk Rơ Wa, là ngôi làng cổ của người Ba Na, nằm bên sông Đăk Bla. Với những ngôi nhà sàn truyền thống, nhà rông và khung cảnh yên bình, nơi đây mang lại trải nghiệm văn hóa độc đáo. Du khách có thể tham gia các hoạt động như dệt thổ cẩm, làm gốm hoặc thưởng thức rượu cần. Làng còn nổi tiếng với cảnh quan sông nước thơ mộng, đặc biệt vào mùa lúa chín.

Dệt thổ cẩm ở Kon K’Tu.

Nhà thờ gỗ Nhà thờ tọa lạc trên đường Nguyễn Huệ, thành phố Kon Tum cũ, được xây dựng vào năm 1913 đến 1918 và còn tồn tại đến ngày nay. Kiến trúc của nhà thờ được thiết kế hài hòa giữa kiểu kiến trúc Roman và nhà sàn gỗ của người Ba Na. Một sự kết hợp đặc sắc giữa văn hóa Tây phương và văn hóa mạng đậm bản sắc dân tộc của vùng Tây Nguyên. Nhà thờ gỗ là một công trình khép kín bao gồm: giáo đường, nhà trưng bày các sản phẩm dân tộc và tôn giáo, nhà rông cùng với nhà tiếp khách. Ngoài ra, còn có cơ sở mộc, dệt thổ cẩm, cơ sở may và cả cô nhi viện.

Di tích Lịch sử Quốc gia Ngục Kon Tum Với mục đích giam giữ các chiến sĩ cách mạng của ta, thực dân Pháp đã tiến hành khởi công xây dựng nhà ngục Kon Tum vào năm 1905 hoàn thành năm 1917. Khi đến đây, du khách sẽ được tham quan một quần thể gồm nhà truyền thống, nhà tưởng niệm, nhà đón tiếp cùng tượng đài bất khuất và 2 ngôi mộ tập thể nằm bên bờ sông Đắk Bla lộng gió. Khu di tích ngục Kon Tum đã trở thành địa điểm viếng thăm quen thuộc của nhiều đoàn khách cả trong nước và quốc tế mỗi khi ghé thăm Kon Tum.

Ngục Kon Tum – nơi từng là “địa ngục trần gian” giữa đại ngàn Tây Nguyên.

Tòa giám mục Kon Tum Tòa giám mục được xây dựng năm 1935, là sự kết hợp giữa kiến trúc truyền thống bản địa cùng lối kiến trúc phương Tây. Ngoại trừ hàng trụ dưới sàn được xây bằng xi măng cốt thép, còn lại toàn bộ công trình được tạo nên từ các loại gỗ quý, có độ bền cao. Đặc biệt, tại đây có căn nhà truyền thống được coi như một bảo tàng nhỏ về vật dụng sinh hoạt, nông cụ, vật thể văn hóa các dân tộc đang sinh sống trên địa bàn. Tòa Giám mục Kon Tum đóng cửa vào thứ 3, các ngày còn lại trong tuần đều mở cửa đón khách tham quan.

Chùa Bác Ái Chùa Bác Ái là một trong những ngôi chùa lâu đời của Kon Tum, được xây dựng theo hướng Bắc Nam. Tổng thể kiến trúc ngôi chùa hình chữ Môn, bước vào đầu tiên bạn sẽ thấy cổng Tam quan án ngự, đi thẳng là đến nhà Chánh điện ở giữa trung tâm cùng hai bên tả hữu là Đông Lang và Tây Lang. Chánh điện của chùa tổ đình Bác Ái bao gồm 3 gian 2 chái. Cổ lầu được chia làm 3 gian là tiền đường, trung điện và thượng điện. Ở gian này thì thờ Di Đà Tam Tôn, Tam Thế Phật, Hoa Nghiêm Tam Thánh,… Ngày nay, chùa còn lưu giữ được một số hiện vật có giá trị nghệ thuật như tượng Quan Âm, tượng Tam Toà Thánh Mẫu được làm bằng gốm men rạn, hoành phi, câu đối, hộp sắc phong, bửu ấn,… được trưng bày. 

Chùa Bác Ái một trong những ngôi chùa lâu đời của Kon Tum.

Sông Đăk Bla Bắt nguồn từ Ngọc Linh, chảy ngang thành phố, khi tới địa phận Gia Lai, hợp lưu với sông Ia Grai thành dòng Sê San nổi tiếng ở Tây Nguyên. Đến phố núi Kon Tum, du khách hẳn ngỡ ngàng với hình ảnh dòng sông Đăk Bla như một dải lụa mềm uốn lượn điệu đà ôm gọn vào mình những phố phường. Là một dòng sông “chảy ngược” ở Tây Nguyên, sông Đắk Bla khác hẳn so với những dòng sông khác ở Việt Nam. Vì thế Đắk Bla không chỉ là dòng sông mang nét độc đáo khác biệt mà nó đã trở thành biểu tượng của người dân nơi đây. Ngược lên phía thượng nguồn, 2 bên bờ sông Đăk Bla nổi lên những vách đá được dựng đứng tạo lên một bức tranh hùng tráng, kỳ vĩ và đánh thức sự mạo hiểm với những du khách thích chinh phục bản thân. Trải qua bao nhiêu thăng trầm lịch sử vun đắp cho cuộc sống của con người nơi đây, dòng Đắk Bla vẫn hiền hòa, mơn mởn khi ôm trọn phố núi bé nhỏ giữa núi rừng xa xăm.

Núi Ngọc Linh Là một phần của dãy Trường Sơn Nam. Với độ cao 2.600m, đây là địa điểm phù hợp cho người yêu thích bộ môn leo núi và những chuyến phiêu lưu mạo hiểm. Đặc biệt, trong dãy Ngọc Linh có loài nhân sâm nổi tiếng Việt Nam mang tên sâm Ngọc Linh mọc tập trung ở các xã miền núi Ngọc Linh thuộc Tây Quảng ngãi và Đà nẵng ở độ cao 1.500m đến 2.100m.

Khu du lịch sinh thái Măng Đen Măng Đen là thị trấn nhỏ, diện tích gần 150 km2 trên cao nguyên Kon Plong, nay thuộc xã Măng Đen, là thiên đường sinh thái với khí hậu mát mẻ quanh năm cùng với nhiều suối đá, hồ thác cùng các cảnh quan hấp dẫn. Đến với Măng Đen bạn sẽ đi trên con đường quanh co với những khúc cua uốn lượn, phóng tầm mắt xuống những thung lũng và khoảng trời mây đổ sương che mờ đỉnh núi, những mái nhà tranh sát vách núi mập mờ với những cột khói bếp bốc lên. Khung cảnh nơi đây hoang sơ, địa hình và thảm thực vật đa dạng. Những thung lũng nơi bà con các dân tộc thiểu số dựng bản sinh sống, những ngọn núi cao với những cánh rừng xanh thẫm, những con dốc với những rừng thông ngập tràn, những ruộng nương hay những ngọn thác đổ tại nơi này đều mang một nét đẹp nhẹ nhàng mà khó cưỡng. 

Đường vào thị trấn Măng Đen, một điểm chụp ảnh yêu thích của khách du lịch. Ảnh: Mangdentrongtoi

Thời điểm đông khách ở Măng Đen từ tháng 10 đến 12 hằng năm, trời se lạnh, khô ráo, mai anh đào nở rộ. Còn nếu đến đây vào tháng 2, bạn sẽ thấy hoa mimosa và hoa ban, tháng 3 hoặc 4 là mùa phượng tím. Măng Đen còn nổi tiếng với văn hóa bản địa, nơi bạn có thể trải nghiệm cuộc sống của các dân tộc qua các lễ hội, ẩm thực và làng nghề truyền thống. Các homestay và resort tại đây được thiết kế hài hòa với thiên nhiên, mang lại trải nghiệm nghỉ dưỡng tuyệt vời. Đừng quên thưởng thức cà phê Măng Đen – đặc sản nổi tiếng với hương vị đậm đà.

Thác Pa Sỹ Khu du lịch sinh thái thác Pa Sỹ nằm trên địa phận làng Kon Tu Rằng của người Rơ Mâm, xã Măng Đen (mới). Nằm ở trung tâm khu du lịch là thác Pa Sỹ, ở độ cao khoảng 1.500m so với mực nước biển. Thác được hình thành từ 3 ngọn suối lớn nhất ở Măng Đen, nên được gọi là Pau Suh, theo tiếng dân tộc Rơ Mâm có nghĩa là “3 nguồn suối chụm lại thành một dòng”. Sau này tên thác được đọc chệch đi thành Pa Sỹ. Mang một vẻ đẹp hoang sơ với những cánh rừng thông nguyên sinh và hệ thống thác, hồ. Khí hậu nơi đây trong lành, mát mẻ quanh năm.

Cảnh đẹp thác Pa Sỹ,  vùng đất Tây Quảng Ngãi.

Hồ Đam Bri Nằm trong khu du lịch sinh thái Măng Đen, được ví như “viên ngọc” của Kon Tum. Bao quanh hồ là rừng thông xanh mướt và những con đường mòn thơ mộng, tạo nên khung cảnh yên bình, lý tưởng để thư giãn. Hồ không chỉ đẹp bởi mặt nước trong veo phản chiếu trời xanh mà còn bởi không khí mát mẻ, dễ chịu quanh năm. Du khách có thể tham gia các hoạt động như chèo thuyền, câu cá hoặc đơn giản là đi dạo quanh hồ để tận hưởng thiên nhiên. Những quán nhỏ ven hồ phục vụ các món đặc sản Tây Nguyên mang đến trải nghiệm ẩm thực khó quên. Hồ Đam Bri đặc biệt đẹp vào mùa xuân khi hoa rừng nở rộ, tạo nên bức tranh thiên nhiên sống động.

Hoa đào nở rộ bên hồ Đam Bri.

Làng Văn Hóa Du Lịch Cộng Đồng Kon Bring Thuộc xã Đăk Pxi là điểm đến lý tưởng để trải nghiệm văn hóa dân tộc Xơ Đăng. Với những ngôi nhà sàn truyền thống, lễ hội cồng chiêng và các hoạt động như dệt thổ cẩm, làm rượu cần, nơi đây mang lại cái nhìn sâu sắc về đời sống bản địa. Du khách có thể ở lại homestay để hòa mình vào cuộc sống của người dân, thưởng thức ẩm thực địa phương và tham gia các lễ hội đặc sắc.

Giữa trung tâm làng du lịch Kon Bring, nhà rông sừng sững như một biểu tượng văn hóa của người M’nâm.

Ngã ba Đông Dương Là điểm tiếp giáp giữa 3 nước Việt Nam, Lào và Campuchia. Đây là nơi mà dân phượt vẫn truyền tai nhau về câu chuyện “một con gà gáy, cả 3 nước cùng nghe”. Để có thể tới được ngã ba Đông Dương, du khách sẽ phải vượt qua một hành trình khá khó khăn với những con đường ngoằn ngoèo, quanh co dưới cái nắng của Tây Nguyên. Vượt qua những khó khăn, du khách sẽ thấy một niềm tự hào dâng trào, được thỏa mãn với không gian núi đồi trùng điệp vô cùng đẹp mắt tại ngã ba Đông Dương.

Cửa khẩu quốc tế Bờ Y  Cửa khẩu quốc tế trọng yếu tại ngã ba biên giới Việt Nam – Lào – Campuchia, thuộc xã Bờ Y. Đây là điểm cuối Quốc lộ 40, nối liền với cửa khẩu Phoukeua (Lào), thuận lợi giao thương, phát triển kinh tế, du lịch và là điểm check-in “một bước qua ba nước” nổi tiếng. Đây cũng là điểm tham quan của nhiều du khách. Thời gian mở cửa khẩu từ 7h đến 19h30 hằng ngày (bao gồm cả thứ bảy, chủ nhật và các ngày lễ, Tết). Cửa khẩu được phân thành nhiều khu với chức năng riêng biệt như làng văn hoá, khu dân cư, nơi tham quan. Du khách có thể tới đây check in, tham quan miễn phí.

Cửa khẩu quốc tế Bờ Y. Ảnh: Cổng Thông tin Điện tử Kon Tum

Làng Văn hoá – Du lịch Đăk răng Đến làng Đắk Răng, du khách sẽ được xem điệu múa cồng chiêng – múa xoang của người Giẻ-Triêng. Đây là một trong những nét đẹp truyền thống và cũng là niềm tự hào của đồng bào dân tộc tại vùng Bắc Tây Nguyên. Đội cồng chiêng tổ chức dưới sự chỉ huy của già BRôi Vẻ – nghệ nhân đa tài và là già làng tâm huyết. Cái độc đáo trong điệu múa cồng chiêng là được hoà tấu với các nhạc cụ dân tộc và những bài dân ca Giẻ – Triêng. Các nhạc cụ này đều được chế tác bởi đôi tay tài hoa và điêu luyện của nghệ nhân bản địa. Trong trang phục màu đỏ với sắc phối hoa văn sặc sỡ cùng chiếc khăn đội đầu điệu múa cồng chiêng hòa cùng các nhạc cụ trở nên ma quái và bí ẩn khiến bao lữ khách bị mê hoặc và đắm say bởi sức hút lạ kỳ.

Người dân làng Đắk Răng chụp ảnh với Du khách.

Du lịch Đắk Tô – Tân Cảnh (Kon Tum) Nổi bật với các di tích lịch sử quốc gia đặc biệt, ghi dấu chiến thắng vang dội năm 1972, như Di tích điểm cao 1015 và 1049. Du khách có thể thăm Quảng trường 24/4, tượng đài chiến thắng, và các điểm chiến trường xưa, tìm hiểu về “Mùa hè đỏ lửa”. Đây là điểm đến tâm linh, lịch sử ý nghĩa tại Tây Nguyên.

Hiện vật chiến tranh tại khuôn viên Tượng đài Chiến thắng Đắk Tô – Tân Cảnh . Ảnh: Khoa Chương – TTXVN

Đồi Charlie (Đồi Sạc Ly) Nằm ở giao điểm ba huyện Sa Thầy, Đắk Tô và Ngọc Hồi (cũ), là một địa danh mang đậm dấu ấn lịch sử. Với độ cao 1.015m, nơi đây từng là căn cứ quân sự quan trọng trong kháng chiến. Ngày nay, Đồi Charlie thu hút du khách bởi khung cảnh núi rừng bạt ngàn, không khí trong lành và tầm nhìn bao quát. Đứng trên đỉnh đồi, bạn có thể chiêm ngưỡng thung lũng xanh mướt, hòa quyện cùng mây trời Tây Nguyên. Đường lên đồi khá dốc, phù hợp với những ai yêu thích khám phá và chinh phục. Ngoài ra, đây cũng là nơi lý tưởng để tìm hiểu về lịch sử Kon Tum qua các câu chuyện được người dân địa phương truyền tai. Thời điểm lý tưởng để ghé thăm là sáng sớm hoặc hoàng hôn để tận hưởng không khí mát mẻ và cảnh sắc hùng vĩ.

Vườn quốc gia Chư Mom Ray Đây được xem là khu bảo tồn sinh học xuyên quốc gia vì tiếp giáp với cả Lào và Campuchia. Diện tích của toàn bộ khu vực này ước tính lên đến 700.000ha. Với hệ thống sinh học đa dạng trù phú nên vườn Quốc gia Chư Mom Ray đã được Hiệp hội các nước Đông Nam Á công nhận là di sản ASEAN. Bên cạnh đó, vườn quốc gia này cũng là khu vực sinh sống của các dân tộc như Rờ Mâm, K’Dong, Gia Rai, H’Lăng và đặc biệt là Bơ Râu – một trong số các dân tộc ít người nhất Việt Nam. Đến thăm Chư Mom Ray, du khách còn được đến thăm các buôn làng dân tộc thiểu số này. Du khách sẽ được nghỉ ngơi trong nhà rông hoặc nhà cộng đồng thoáng mát, thưởng thức các món ăn Tây Nguyên như cơm lam, rượu cần, muối giã với rau thơm đặc sản của đồng bào nơi đây.

Vườn quốc gia Chư Mom Ray. Ảnh: Huy Đằng

Thác Yaly, nằm gần nhà máy thủy điện Yaly, là một trong những thác nước hùng vĩ nhất Kon Tum. Dòng nước trắng xóa đổ từ độ cao hàng chục mét tạo nên khung cảnh ấn tượng, đặc biệt vào mùa mưa khi thác đạt lưu lượng lớn. Xung quanh thác là rừng nguyên sinh, mang lại không khí trong lành và cảnh sắc hoang sơ. Du khách có thể đứng trên các điểm quan sát để chiêm ngưỡng toàn cảnh thác hoặc tham gia các tour khám phá thiên nhiên. Thác Yaly cũng là nơi lý tưởng để chụp ảnh và tận hưởng sự hùng vĩ của thiên nhiên Tây Nguyên.

Vùng Tây Quảng Ngãi còn rất nhiều những điểm du lịch khác nữa như ngục Tố Hữu, ngục Đak Lei, sân bay Phượng Hoàng.Các buôn làng của người Bahnar (Rơ Hai, Kon Chri), J’Rai (Lung, Rắc), Xơ đăng (Dakripeng, Đakrijob). Du lịch từ các địa danh nổi tiếng như Poko, đỉnh Ngọc Phan. Du lịch sinh thái Đắk Uy, Sa Thầy,vv… 

VI. Ẩm thực ở Tây Quảng ngãi – Vùng đất Kon Tum

Văn hóa ẩm thực Kon Tum với những món ăn, đồ uống nổi tiếng của đồng bào phản ánh nghệ thuật ẩm thực trong mối quan hệ ứng xử của con người với môi trường tự nhiên và xã hội. Nguồn ẩm thực phong phú cùng với các đặc sản vùng núi rừng, nương rẫy mang đặc trưng rất Tây Nguyên có sức hấp dẫn, cuốn hút rất lớn đối với khách du lịch. Đến Kon Tum, bạn không thể bỏ qua những món đặc sản ngon, thích hợp mua làm quà cũng như thưởng thức tại chỗ như Rượu vang ngọt sim rừng Măng Đen, bún đỏ cao nguyên, rượu ghè, gỏi lá Kon Tum, cơm lam, thịt gà nướng chấm muối lá é, cà đắng, tiêu rừng; thịt heo làng nướng xiên; bò một nắng, cá gỏi kiến vàng, muối kiến vàng; măng le, cà phê, cùng những đặc sản như mật ong, hạt điều, măng khô, sâm Ngọc Linh…

Bún đỏ cao nguyên Những tô bún có màu đỏ của hạt điều, cà chua, màu nâu của chả cá, của riêu cua, màu trắng của trứng cút luộc. Bún đỏ cao nguyên có vị rất ngon. Vị của các nguyên liệu hòa quyện tạo thành món ăn đặc trưng cho vùng này. Khi đi du lịch bạn nhớ ăn thử món này, rất hợp để ăn sáng và nhâm nhi cà phê.

Gỏi lá Quả đúng như tên gọi, món gỏi lá này toàn… lá. Chỉ một món ăn mà bày kín mâm, bởi gỏi lá “đúng chất” có tới 30-50 loại, từ các loại rau quen thuộc như: tía tô, đinh lăng, lá sung, lá mơ,… đến các loại lá ít xuất hiện trong bữa ăn như: lá xoài, ổi, lá chua, chùm ruột, ngũ gia bì…và rất nhiều loại lá là riêng biệt của Tây Nguyên mà nhiều người chưa biết hết tên. Giữa “mâm lá” là đĩa thức ăn ăn kèm. Thịt ba chỉ luộc, thái mỏng, vài lát cá chép, tôm luộc, bì lợn. Đặc biệt có thêm đĩa tiêu nguyên hạt, muối hạt. Thứ đặc biệt và kỳ công nhất của món gỏi lá này là nước chấm được là từ gạo nếp, tôm khô, thịt ba chỉ, mẻ, sa tế. Thưởng thức món này cũng cần có kiểu cách, không vội vã. Trước tiên cuốn lá thành cái phễu nhỏ, bỏ miếng thịt ba chỉ, tôm, bì lợn… vào trong “phễu”, nhất định phải cho thêm hạt tiêu và hạt muối, một chút nước chấm. Mỗi lần cuốn lá là những loại lá khác nhau, tạo nên những hương vị khác nhau, khi thì chua chua lá xoài, khi thì bùi bùi lá sung, chan chát lá ổi.

Gỏi lá đặc sản độc đáo của Kon Tum, Tây Nguyên.

Rượu ghè Là thức uống đặc biệt của những đồng bào dân tộc miền núi, chất men cay tự nhiên này trở thành hương vị không thể thiếu trong những lễ hội của họ và trở thành “đặc sản” của những du khách miền xuôi khi ngược lên nơi này du ngoạn. Nguyên liệu chính của rượu ghè được làm từ gạo nếp hoặc sắn, và một loại men đặc biệt được làm từ nhiều lá cây rừng, được ủ kín trong một thời gian dài để lúc mang ra cho từng vị ngọt lịm. Rượu ghè có một hương vị rất riêng mà không loại rượu nào có được, bởi loại men ủ rượu được làm từ nhiều loại rễ cây, lá cây mà người dân tộc nơi đây tìm trong rừng sâu. Loại men đặc biệt khi ủ tạo nên hương vị rất riêng, hương vị của đại ngàn. Với đồng bào dân tộc nơi đây, để làm nên một hũ rượu ghè đặc trưng thì phải đủ trên 20 loại lá, rễ cây rừng. Rượu ghè trở thành một đặc sản Kon Tum làm quà nói riêng và đặc sản của Tây Nguyên nói chung. Qua hương vị ẩn giấu phía sau loại rượu này là cả một nét văn hóa đặc trưng lâu đời của đồng bào dân tộc vùng Tây Nguyên gió lộng.

Thưởng thức rượu ghè Kon Tum.

Cá chua Cá chua là một món ăn để dự trữ của người dân vùng núi ở Kon Tum. Cách chế biến món ăn dân dã này khá dễ dàng, đầu tiên người dân sẽ chọn loại cá niệng đặc trưng, đây là một loại cá giống cá trôi có rất nhiều ở sông suối Tây Nguyên. Những con cá niệng sau khi đánh hết vẩy, bỏ ruột, rửa sạch, cắt thành từng khúc nhỏ chừng 2 – 3cm, để cho ráo nước. Sau đó cá được trộn cùng muối, lá bép, ớt, thính ngô. Tiếp tục đưa cá vào từng ống lồ ô khô, sạch rồi nút hai đầu thật kín, để lên gác bếp, đợi vài ngày là có món cá chua độc đáo.

Heo Măng Đen quay Giống heo Măng Đen (heo rẫy) của dân tộc bản địa. Được nuôi bằng thức ăn tự nhiên của núi rừng nên thịt săn chắc, thơm ngọt và rất bổ dưỡng. Con to nhất lúc trưởng thành cũng chưa đầy 20kg. Heo được làm sạch, mổ nguyên con. Sau đó tẩm ướp gia vị là các loại nguyên liệu từ núi rừng Măng Đen như ủ nén, ngò gai, gốc mùi, sả, ớt. Heo quay bằng lửa than cho đến khi căng da vàng giòn rộm, tỏa mùi thơm phưng phức.

Đặc sản Heo rẫy Măng Đen quay.

Cá gỏi kiến vàng Là món ăn truyền thống đã có từ ngàn đời xưa của người Rơ Măm ở vùng Sa Thầy. Đây là món ăn vô cùng bổ dưỡng được tổ tiên người Rơ Măm truyền lại cho thế hệ sau. Ngày xưa, người dân Rơ Măm chủ yếu ở trong rừng, đời sống vô cùng cực khổ, khó khăn. Để có thức ăn sống qua ngày, người Rơ Măm thường lội xuống suối bắt cá và trèo lên cây lấy tổ kiến vàng rồi chế biến thành món ăn, dùng chung với các loại rau rừng. Qua bao thế hệ, món cá gỏi kiến vàng dần trở thành đặc sản của đồng bào dân tộc Rơ Măm. Cá được đánh bắt từ những con suối, tươi ngon, thịt cá chắc, ngọt, để có thể kết hợp tốt nhất với nguyên liệu còn lại là kiến vàng. Chọn những tổ kiến to, có số lượng trứng lớn, khi chế biến sẽ thơm hơn, ăn lại bùi và béo ngậy. Tuy sở hữu cái tên khiến nhiều người e ngại nhưng món cá gỏi kiến vàng hấp dẫn thực khách bởi hương vị thơm ngon, lạ miệng. Mùi thơm phưng phức cùng vị ngọt thanh của cá suối hòa quyện với vị béo ngậy của trứng kiến, vị chua của kiến và mùi thơm của các loại rau rừng tạo nên món cá gỏi kiến vàng cực kỳ độc đáo.

Món cá gỏi kiến vàng vô cùng độc và lạ.

Rượu vang sim rừng Măng Đen Do vị trí địa lý và khí hậu của vùng miền núi Măng Đen luôn ở nhiệt độ 10-15 0C mỗi ngày, đã cho ra những quả sim hoang dã khắp núi đồi luôn tươi mát. Nguồn nguyên liệu dùng để sản xuất rượu vang sim đặc sản đất Măng Đen. Cứ vào khoảng tháng 6 Dương lịch các đồng bào người dân tộc Cơ – Tu, Xê Đăng ở các vùng cao của Măng Đen lại rủ nhau vào rừng hái sim. Để đạt được chất lượng tốt buộc người hái sim phải hái vào thời điểm sáng sớm tinh sương. Từ nguồn nguyên liệu quý giá này kết hợp với công nghệ sản xuất vang của Bordeaux (Pháp) và nguồn men chuyên sản xuất vang của Pháp, tất cả tạo nên cho rượu vang sim Măng Đen một hương vị mộc mạc tự nhiên của núi rừng nhưng không kém phần sang trọng cũng như đặc trưng của rượu vang chính hiệu.

Dế chiên Kon Tum Là món ăn vặt thú vị dành cho những ai thích trải nghiệm ẩm thực địa phương độc đáo. Thực khách sẽ cảm nhận trọn vẹn độ béo, độ giòn của dế với hương vị riêng biệt. Ngoài ra, thực khách sẽ được chiêu đãi bữa tiệc với rất nhiều món dế đa dạng khác nhau với hương vị khác nhau, từ dế than cho đến dế cơm, dế lửa.

Món ăn vặt thú vị dành cho những ai thích trải nghiệm ẩm thực địa phương độc đáo.

Thịt nhím Dân tộc Brâu có nhiều các món ăn được chế biến từ rau rừng, thịt thú rừng như: heo rừng, thịt dúi, chuột đồng…. trong đó phải kể đến các món từ con nhím vừa bổ, vừa ngon mà còn phong phú cách chế biến. Thịt nhím với vị ngọt, tính lạnh có tác dụng bổ dưỡng, nhuận tràng, có thể chế biến thành nhiều món ăn hấp dẫn. Nhím nướng than hồng, thịt nhím nhồi ống lồ ô, canh xương nhím nấu bột bắp, nhím gói lá dong,… Món nào cũng độc đáo, thơm ngon bởi thịt nhím chắc, thơm, hầu như không có mỡ, lớp bì dày nhưng giòn.

Thịt chuột đồng Người Jẻ Triêng ở vùng Đăk Glei còn có món đặc sản là thịt chuột đồng, được chế biến chủ yếu thành hai món là Thịt chuột nướng và Chuột khô gác bếp. Mùa lúa nương chín vàng cũng là mùa chuột đồng béo ngậy, ngon nhất, người dân vào mùa săn bắt chuột. Cuộn nhanh một đống rơm khô, nổi lửa lên thui trụi lông, bằng cách này thịt chuột dậy mùi thơm và giữ nguyên vị ngọt. Sau khi làm sạch, nhanh chóng rửa qua nước, xát chút muối lên khắp mình chuột rồi lấy que tre xiên thẳng, đem ra nướng trên bếp than cho vàng, dậy mùi thơm lên. Ăn kèm với ít xoài rừng chua, làm chén muối tiêu rừng cay nồng, rất thích hợp. Kiếm thêm ít rau dớn rừng, bỏ vào ống le, đổ chút nước, đem nướng trên bếp rơm, chỉ một chút là đã có món ăn ngon lành.

Món thịt chuột đồng nướng, ẩm thực của Người Jẻ Triêng.

Cà đắng Cà đắng là món ăn dân dã của người dân tộc thiểu số Kon Tum. Cà đắng mọc thành vạt ven những ngọn đồi, bờ suối, quả nhỏ như cà pháo hoặc quả hình thuôn dài, to hơn đốt tay, màu xanh sậm, sọc trắng dọc quả. Trước đây, cà đắng là cây mọc hoang nay được bà con dân tộc mang về trồng trong vườn nhà, trái to hơn, màu xanh nhạt, vị đắng giảm đi chút ít, dễ ăn hơn và phù hợp với khẩu vị nhiều người. Cà đắng nướng có vị thơm ngon đặc biệt, cà đắng thành từng lát mỏng, xiên qua từng que đặt lên nướng, khi cà dậy mùi thơm lan tỏa và vừa chín tới, vẫn còn giữ chút nước đắng, hơi dai dai, mềm mềm, chấm với muối tiêu rừng hoặc ăn kèm với thịt rừng nướng rất ngon. Ngoài ra cà đắng còn nấu thành nhiều món kho với tôm, tép bắt được dưới sông hay cà đắng um lươn, ếch, món nào cũng ngon, cũng dậy lên hương thơm quyến rũ. Những ai ăn cà đắng lần đầu đều có cảm giác không thoải mái với vị đắng nhân nhẫn của loại trái hoang dại, nhưng vài lần sẽ nghiền và khó quên hương vị độc đáo của nó.

Món cơm trong ống lồ ô (Cơm lam) Cơm lam là cái tên rất quen thuộc với nhiều người. Đây là một trong những món ăn rất đặc biệt và được lòng mọi người. Món này được nấu từ loại gạo nếp rẫy và nướng trên than hồng. Khi chín cơm lam rất dẻo, mùi thơm, quyện theo vị ngọt ngọt của ống lồ ô. Có thể nói, khó có món cơm nào nấu từ nồi hoặc chõ lại ngon được như vậy. Cơm lam thông thường hay được ăn kèm với muối vừng hoặc các loại thịt. Đây là một đặc sản rất dân dã và độc đáo của đồng bào dân tộc nơi đây.

Đặc sản Cơm Lam Tây Nguyên.

Xôi măng Chỉ là món xôi nấu từ gạo nếp quen thuộc, kết hợp khéo léo với măng rừng nhưng đã trở thành món điểm tâm sáng thân thuộc với mỗi người dân tại Kon Tum. Cách làm xôi măng khá đơn giản và chẳng mấy cầu kỳ. Nhưng mang nét đặc trưng riêng trong vẻ quyến rũ của màu sắc vàng tươi của măng rừng, đặt trên bát xôi nếp màu nghệ, xôi măng hấp dẫn người qua lại bằng cả mùi thơm đặc biệt. Vô tình món ngon ấy trở thành thứ để níu chân người một lần qua phố núi Tây Nguyên.

Cá tầm nấu măng Tại cao nguyên Măng Đen, là vùng có nhiều hồ, nước mát lạnh quanh năm. Vì vậy, cá hồi, cá tầm được nuôi và sinh trưởng thuận lợi ở đây. Cá tầm là loại cá xương sụn, toàn bộ hệ thống xương của cá cũng như đầu cá đều cấu tạo từ sụn, thịt cá tầm trắng, dai, có vị béo ngậy, thành phần dinh dưỡng cao, dễ hấp thụ. Đến đây du khách được thưởng thức món cá tầm mới được bắt lên từ hồ tươi roi rói. Cá tầm được làm sạch, tẩm ướp gia vị từ các loại cây dược liệu của núi rừng Măng Đen, sau đó được hấp, um hoặc nướng, sấy… bằng than hồng, hoặc nấu với măng le rừng chua món nào cũng ngon tuyệt.

Các món nướng trong ống lồ ô Với những nguyên liệu vốn có từ núi rừng, người dân tộc Ba Na chế biến thành những món ăn nướng trong ống lồ ô rất độc và lạ. Sau khi rửa sạch các loại rau, cá sông, cá suối và các loại thịt gia súc, gia cầm băm nhỏ hoặc xắt thành sợi. Cà đắng, cà tím được xắt thành miếng. Cá mổ bỏ ruột, cắt thịt ra trộn rau rừng, măng rừng, sả, tiêu giã nhỏ cho vào ống lồ ô. Còn thịt gia súc (trâu, bò, heo, dê) và gia cầm (gà, vịt) được thui trên bếp lửa rồi mới cạo hay vặt lông. Sau đó xẻ thịt, chặt từng khúc nhỏ, trộn gia vị cho vào ống lô ô để lên lửa than cây rừng nướng cho đến chín thơm phức hương vị độc đáo mà không có nơi nào có được.

Các món nướng trong ống lồ ô rất hấp dẫn và thơm ngon đặc biệt.

Lá mì (lá sắn) Người dân tộc Brâu ở làng Đăk Mế, xã Bờ Y thường sử dụng lá mì vào những món ăn. Cách chế biến đơn giản nhất và ít tốn kém nhất chính là lá mì muối chua, mà phải chọn lá mì ta, chứ không phải loại mì lai, mì nhật lá to nhưng ăn độc và không có vị ngon. Món này dùng như người Kinh ăn dưa muối, cà muối. Từ lá mì chua, người Brâu chế biến ra nhiều món như: Gà rừng trộn lá mì chua, lá mì nấu cá khô, canh chua lá mì,…Món ngon nhất phải kể đến là gà rừng trộn mì chua. Món gà rừng trộn lá mì hiện diện trong mâm cơm thật dễ khiến người ta xuýt xoa không cưỡng lại được. Vị chua gắt của lá mì muối, quyện với vị ngọt tự nhiên của thịt gà rừng tạo thành một hương vị đậm đà một cách hòa hợp và ngon miệng. Những khi mùa mưa đến, không có thịt tươi, người Brâu lại chế biến lá mì với thịt khô (khô nai, khô cheo, khô bò…), giản dị nhất là lá mì nấu cá khô. 

Đọt mây ngon đúng điệu được chọn từ những cây non tơ, bụ bẫm rồi tước bỏ phần vỏ gai cứng bên ngoài. Từ những lõi đọt mây trắng ngần có vị ngọt và đăng đắng, người ta biến tấu thành nhiều món ăn đơn giản nhưng không kém phần hấp dẫn. Trong đó có món đọt mây nấu ống, đọt mây nướng than hồng, nấu canh hay xào…

Phụ nữ  Brâu bóc vỏ cây mây đắng để chế biến phục vụ cho Lễ cúng trỉa lúa.

Đọt mây nướng dưới than củi hồng có hương vị rất thơm, bùi và không dai. Mặc dù món ăn có vị hơi đăng đắng nhưng lẫn trong đó, thực khách vẫn có thể cảm nhận được phảng phất độ ngọt, hương thơm cứ quyến luyến mãi đầu lưỡi. Sau khi chín, người ta xé đọt mây ra từng sợi chấm với muối giã nhuyễn cùng ớt xiêm trái bé xíu. Vị đắng, ngọt, thơm của món ăn hòa quyện cùng vị mằn mặn của muối, vị cay nồng của ớt mang đến cho người ăn một cảm giác thú vị và lạ miệng.

Canh thụt Hương vị của món canh thụt được làm nên nhờ các loại rau rừng. Đây không phải món ăn quen thuộc, có mặt thường xuyên trên mâm cơm của người Tây Nguyên mà chỉ được chế biến để thết đãi khách quý. Ít nhất có mười loại nguyên liệu được dùng để chế biến món canh này, trong đó phải kể đến các loại tôm, cá, chim tươi hoặc khô, nấu cùng với các loại rau rừng đặc trưng như củ nén, lá bép (còn gọi là lá nhíp), ớt và các loại gia vị. Tuy nhiên, cách chế biến độc đáo có một không hai chính là nét riêng của món canh này. Món ăn được nấu chín trong ống lồ ô.

Canh thụt được nấu trong ống lồ ô. (Ảnh: amthuccuoituan)

Kon Tum còn rất nhiều những đặc sản, những món ăn địa phương gắn liền với đời sống, tạo thành một nét văn hóa ẩm thực riêng của con người nơi đây chờ chúng ta cùng khám phá.

Tây Quảng Ngãi – Vùng đất Kon Tum, một vùng đất đầy nắng gió và văn hóa đặc sắc. Nằm giữa lòng Tây Nguyên hùng vĩ, Kon Tum không chỉ sở hữu vẻ đẹp thiên nhiên hoang sơ mà còn ẩn chứa những công trình kiến trúc cổ kính, những nét văn hóa bản địa đậm đà, tạo nên một bức tranh đa sắc màu trong văn hoá đồng bào dân tộc. Văn hóa cồng chiêng và cảnh sắc được thiên nhiên ban tặng, Tây Quảng Ngãi đang dần bộc lộ vẻ đẹp tiềm ẩn và trở thành điểm du lịch mới lạ, hấp dẫn đối với du khách trong nước và thế giới. Nếu có chuyến du lịch đến đây, bạn hãy tìm hiểu và trải nghiệm cuộc sống của các dân tộc địa phương để hiểu thêm về văn hóa của đồng bào dân tộc vùng Tây Nguyên này nhé!

khamphavietnam.com.vn Tổng Hợp

 

 

Những Tour Du Lịch Hot Ở Ninh Thuận

-7%
Thời gian: 1 ngày
Ngày khởi hành: Hàng ngày
Giá gốc là: 1.500.000 ₫.Giá hiện tại là: 1.400.000 ₫.
-7%
Thời gian: 1 ngày
Ngày khởi hành: Hàng ngày
Giá gốc là: 1.500.000 ₫.Giá hiện tại là: 1.400.000 ₫.
Thời gian: 1 ngày
Ngày khởi hành: Hàng ngày
Thời gian: 1 ngày
Ngày khởi hành: Hàng ngày

Những Tour Du Lịch Hot Ở Ninh Thuận