TÂY GIA LAI – VÙNG TÂY NGUYÊN

Vùng đất Tây Gia Lai – Nơi cao nguyên lộng gió, đại ngàn xanh thẳm, là mảnh đất được thiên nhiên ưu ái ban tặng những cảnh sắc tuyệt đẹp và bản sắc văn hóa đậm đà. Tây Gia Lai mang đến những trải nghiệm độc đáo từ khí hậu mát mẻ đến những di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc, những khung cảnh thiên nhiên đa dạng. Tây Gia Lai là quê hương của 2 dân tộc tại chỗ chính, là người Jrai và người Bahnar cùng với các dân tộc thiểu số khác như Xơ Đăng, Giẻ Triêng….trong tổng số 44 dân tộc anh em cùng sinh sống tại đây. Mỗi dân tộc đều có những nét văn hóa riêng biệt, âm thanh cồng chiêng vang vọng, những ngôi nhà rông truyền thống và các lễ hội đặc sắc như Kate, Rija đã tạo nên bản sắc riêng không thể nhầm lẫn của vùng đất này.

Giới thiệu vùng đất Tây Gia Lai 

I. Tỉnh Gia Lai mới

Tỉnh Gia Lai mới là một tỉnh nằm ở khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, miền Trung Việt Nam. Trung tâm hành chính của tỉnh là phường Quy Nhơn. Theo dữ liệu Sáp nhập tỉnh, thành Việt Nam 2025, Gia Lai mới có diện tích: 21.577 km². Nguồn gốc tên gọi Gia Lai bắt nguồn từ chữ Jarai, tên gọi của một dân tộc thiểu số trong tỉnh, cách gọi này vẫn còn giữ trong tiếng của người Ê-đê, Ba Na, Lào, Thái Lan và Campuchia để gọi vùng đất này là Jarai, Charay có nghĩa là vùng đất của người Jarai, có lẽ ám chỉ vùng đất của Thủy Xá và Hỏa Xá xưa.

Gia Lai là một tỉnh nằm ở cả vùng núi và ven biển, có độ cao trung bình vùng núi từ 700 – 800m và 0 – 30m đối với đồng bằng. Trung tâm Gia Lai mới cách Hà Nội 1.054km, cách Đà Nẵng 322km về phía Nam, cách Thành phố Hồ Chí Minh 606km về phía bắc. Phía bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi; phía nam giáp tỉnh Đắk Lắk; phía tây giáp tỉnh Ratanakiri, Campuchia; phía đông giáp Biển Đông qua địa phận Đông Gia Lai (tỉnh Bình Định cũ). Tỉnh Gia Lai hiện nay sở hữu địa hình phức tạp, với hơn 40% diện tích là đồi núi, phần lớn nằm ở phía Bắc, và các vùng đồng bằng trũng ở phía Đông Nam. Cao nguyên Pleiku và các khu vực như huyện K’Bang cũ vẫn giữ được vẻ đẹp hoang sơ với những ngọn núi như Kon Ka Kinh, trong khi các khu vực ven biển từ Bình Định cũ mang lại tiềm năng phát triển du lịch và kinh tế biển.

Với diện tích mở rộng, tỉnh Gia Lai trở thành một địa bàn chiến lược về kinh tế và quốc phòng, với các tuyến giao thông huyết mạch như Quốc lộ 1A, Quốc lộ 1D, Quốc lộ 14 nối các tỉnh Đắk Lắk, Quảng Ngãi thông đến Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt tuyến đường Hồ Chí Minh đã rút ngắn khoảng cách từ Gia Lai đến các trung tâm kinh tế chính trị lớn của cả nước. Các tuyến Quốc lộ 19 kết nối Tây Nguyên xuống khu vực phía đông tỉnh, Quốc lộ 25 đến phường Tuy Hoà, thuộc địa phận tỉnh Đắk Lắk. Ngoài ra, Sân bay Pleiku và Sân bay Phù Cát của Gia Lai, có đường bay nối Pleiku, Phù Cát với các thành phố lớn là Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh,… 

Khí hậu: Sau khi sáp nhập, tỉnh Gia Lai hiện tại bao gồm cả phần đất liền và một phần bờ biển trước đây thuộc Bình Định. Do đó, khí hậu của Gia Lai sẽ có sự kết hợp giữa khí hậu cao nguyên đặc trưng của vùng Tây Nguyên và khí hậu nhiệt đới gió mùa ven biển. Điều này có nghĩa là Gia Lai sẽ có sự đa dạng về thời tiết, với vùng núi có khí hậu mát mẻ, ôn hòa và vùng ven biển có khí hậu nóng ẩm, nhiều nắng. Cụ thể, vùng núi Tây Gia Lai vẫn giữ nguyên khí hậu cao nguyên, với mùa mưa và mùa khô rõ rệt, không có bão, nhiệt độ trung bình năm khoảng 22-250C, mùa khô thường khô hanh và có sương mù, đặc biệt vào buổi sáng. Vùng ven biển Đông Quảng Ngãi có khí hậu nhiệt đới gió mùa, với hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa thường kéo dài từ tháng 9 đến tháng 12, chịu ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới. Mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8, thời tiết nắng nóng, khô hanh. Việc sáp nhập tạo ra sự đa dạng về địa hình và khí hậu, tạo điều kiện để phát triển các loại hình du lịch khác nhau, như du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng ở vùng núi và du lịch biển, tham quan, khám phá ở vùng ven biển. 

II. Vùng đất Tây Gia Lai Ở Đâu

Bản đồ vị trí địa lý – Du lịch Tây Gia Lai. Ảnh: TTXVN

Tây Gia Lai, mảnh đất thuộc phía bắc Tây Nguyên với 44 dân tộc cùng sinh sống là các dân tộc Jrai, Bahnar, Giẻ-triêng, Xơ-đăng, Thái, Mường, Kinh,…với diện tích hơn 15.500 km² trên độ cao trung bình 700 – 800m so với mực nước biển. Tây Gia Lai cách Hà Nội 1.106km, cách Đà Nẵng 375km về phía Nam, cách Thành phố Hồ Chí Minh hơn 500km về phía bắc. Phía bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi mới, phía nam giáp tỉnh Đắk Lắk mới, phía tây giáp Cam-pu-chia với 90km là đường biên giới quốc gia, phía đông giáp vùng Đông Gia Lai (Bình Định cũ). Tây Gia Lai có khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên, một năm có hai mùa: mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Vùng Tây Trường Sơn có lượng mưa trung bình từ 2,2 – 2,5m, vùng Đông Trường Sơn từ 1,2 – 1,75m.

Địa hình tự nhiên: Vùng Tây Gia Lai nằm trên một phần của nền đá cổ rộng lớn, dày trên 4.000m, thuộc Địa khối Kon Tum. Gần vào phía cuối nam của khối núi Trường Sơn Nam. Khối địa khối nâng lên không đều từ cuối kỷ Đệ Tam. Nhưng địa hình được núi lửa và phong hóa nhiều năm trở nên bằng phẳng tạo nên các cao nguyên không hoàn toàn bằng phẳng mà nhấp nhô nhiều đồi xen kẽ các vùng tương đối trũng. Địa hình thấp dần từ bắc xuống nam và nghiêng từ đông sang tây, với các đồi núi, cao nguyên và thung lũng xen kẽ nhau khá phức tạp. Càng gần về phía nam chia nhau một nửa vùng đồng bằng với Đăk Lăk, và vùng thấp phía tây của Campuchia. Địa hình Tây Gia Lai có thể chia thành 3 dạng chính là địa hình đồi núi, cao nguyên và thung lũng. Trong đó, cao nguyên là dạng địa hình phổ biến và quan trọng của Tây Gia Lai, với hai cao nguyên là Cao nguyên Kon Hà Nừng và Cao nguyên Pleiku. Địa hình thứ hai là địa hình đồi núi, chiếm 2/5 diện tích tự nhiên, phần lớn nằm ở phía bắc, địa hình núi phân cách mạnh, bề mặt các dạng địa hình khác của Tây Gia Lai như các cao nguyên, những thung lũng đồng bằng cũng đều rải rác có núi, độ cao trung bình của cả 2 cao nguyên là 800m, với đỉnh Kon Ka Kinh – “nóc nhà” của Gia Lai. Sự dập vỡ kiến tạo đa dạng là cơ sở cho trữ lượng nước ngầm. Các vùng trũng tương đối thường hình thành các con sông khi đi qua vùng đứt gãy đột ngột xuống vùng đồng bằng tạo nên các thác nước nổi tiếng ở đây. Địa hình thứ ba là Các vùng trũng, những vùng này sớm được con người khai thác để sản xuất lương thực. Hầu hết các vùng trũng nằm ở phía nam, các thung lũng ở đông nam.

III. Du lịch Tây Gia Lai mùa nào đẹp

Mang khí hậu nhiệt đới gió mùa dồi dào về độ ẩm, có lượng mưa lớn, không có bão và sương muối, với 2 mùa rõ rệt ngoài ra nhiệt độ còn phụ thuộc vào độ cao các vùng tạo nên những khung cảnh thiên nhiên đa dạng.  Nhiệt độ trung bình năm 22-25°C, vùng Tây Gia Lai nổi bật với vẻ đẹp thiên nhiên và khí hậu mát mẻ quanh năm. Tuy nhiên, mỗi mùa ở Gia Lai sẽ mang lại một vẻ đẹp đặc trưng riêng biệt, tùy thuộc vào thời điểm mà Du khách ghé thăm.

Mùa hoa dã quỳ ở Chư Đăng Ya.

Mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4): Với sự cộng hưởng của khí hậu và cảnh sắc thiên nhiên đầu mùa khô khiến những cung đường xê dịch của cao nguyên luôn tràn ngập cảm xúc. Du lịch Gia Lai cũng rộn ràng đón khách vào mùa đẹp nhất trong năm. Điểm hấp dẫn nhất vào mùa khô Tây Nguyên là mang đến cho du khách đa dạng sự trải nghiệm. Từ những lễ hội mang đậm dấu ấn văn hóa, thiên nhiên đến bức tranh sống động trong đời sống của cư dân Tây Nguyên hay phượt trên những cung đường rừng Trường Sơn… Đây là thời điểm lý tưởng để khám phá núi rừng Trường Sơn, tất cả đều tràn ngập sắc hoa.

Tuần lễ hoa dã quỳ-núi lửa Chư Đang Ya thường diễn ra vào tháng 11, khi hoa dã quỳ nở vàng rực khắp các núi đồi. với chuỗi hoạt động văn hóa, thể thao, giao lưu nghệ thuật… đặc sắc. Ngoài lễ hội hoa dã quỳ-núi lửa Chư Đang Ya làm điểm nhấn, Tây Gia Lai mùa này có rất nhiều sự trải nghiệm. Đi đâu cũng có cảnh đẹp, có nắng và thời tiết rất dễ chịu, với những cánh đồng lúa rẫy vàng óng trên những ngọn đồi hay triền núi, có khi lọt thỏm giữa mảng xanh của rừng cũng bắt đầu vào mùa thu hoạch. Du khách có thể đến khám phá với các làng du lịch cộng đồng, có cơ hội được trải nghiệm các hoạt động chỉ có duy nhất 1 lần trong năm, đó là đi tuốt lúa rẫy hay thu hái cà phê, hòa mình vào nhịp sống bình dị nhưng đầy chất thơ của người Jrai, Bahnar…Vào đầu mùa khô cũng là bắt đầu mùa lễ hội với lễ mừng lúa mới của các đồng bào dân tộc ở Trường Sơn Đông. Đặc biệt, sang dịp Tết Nguyên Đán là mùa hoa đào, hoa mai nở rộ, tạo nên không gian thơ mộng đầy lãng mạn. và (tháng 3) bạn sẽ được chiêm ngưỡng những cánh đồng cà phê bước vào mùa nở rộ hoa trắng xóa khắp đất trời. 

Hoa Dã Quỳ. @Người Gia Lai.

Mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10): Lúc này tuy không phải là mùa cao điểm du lịch, nhưng lại có những nét đặc trưng riêng. Vào mùa này, các thác nước trở nên hùng vĩ hơn, không gian được bao phủ bởi màu xanh mướt của cây cối, thích hợp cho những ai yêu thích săn mây, tận hưởng không khí se lạnh trong lành. Đặc biệt, ẩm thực Tây Nguyên, là một điểm cộng rất lớn cho du lịch. Du khách sẽ rất thích thú khi thưởng thức ẩm thực tại Gia Lai, những món ăn đặc trưng địa phương, chỉ cần du khách có một lần cảm nhận ẩm thực nơi đây thì sẽ khó quên vùng đất này.

IV. Đi đến Vùng Tây Gia Lai bằng gì

Có 3 loại hình phương tiện để bạn đi đến vùng Tây Gia Lai:

Máy bay: Nếu chọn đi máy bay, bạn không chỉ tiết kiệm được tối đa thời gian mà còn giữ được sức khỏe tốt, giúp chuyến du lịch thêm phần trọn vẹn. Bạn có thể đặt vé máy bay đến sân bay Pleiku, sau đó chọn những phương tiện khác để khám phá Tây Gia Lai. Sân bay Pleiku cách trung tâm thành phố khoảng 7 km, thời gian di chuyển bằng ôtô chừng 15 phút. Các hãng hàng không Vietnam Airlines, Vietjet Air,…đều có các chuyến bay từ Hà Nội và TP HCM tới Pleiku. Từ TP Đà Nẵng hay Hải Phòng, tùy thời điểm, đường bay sẽ được mở.

Máy bay, một trong những loại phương tiện tối ưu nhất khi đi du lịch tây Gia Lai.

Xe khách: Tây Gia Lai có hạ tầng giao thông đường bộ khá thuận lợi nên có thể di chuyển từ các thành phố lớn như Đà Nẵng và TP HCM tới Pleiku. Từ TP HCM, du khách đi theo CT02 và QL14. Quãng đường khoảng 500km, thời gian di chuyển trung bình 10 tiếng. Xe khách khởi hành từ Bến xe Miền Đông. Từ Đà Nẵng, du khách có thể đi theo cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi, sau đó là QL24. Quãng đường khoảng 380 km, thời gian di chuyển khoảng 7 tiếng. Quốc lộ 19 và 25 nối Tây Gia Lai với Đông Gia Lai và phường Tuy Hòa, Đăk lăk với con đường di sản.

Đi lại trong vùng, du khách có thể thuê xe ôtô tự lái, nhận ở sân bay hoặc khách sạn. Ngoài ra, du khách có thể chọn xe buýt trong khu vực đô thị Pleiku, có một số tuyến tới những điểm du lịch nổi tiếng như Biển Hồ, đồi chè hoặc đi tới vùng du lịch Kon Tum.

Xe ô tô/xe máy: Nếu bạn muốn trải nghiệm các cung đường núi tuyệt đẹp thì có thể đến Tây Gia Lai bằng cách tự chạy xe ô tô hoặc xe máy.

Đi du lịch Vùng Tây Quảng ngãi theo Tour du lịch đây là cách đi du lịch phổ biến và an toàn nhất, khách du lịch nên áp dụng, đặc biệt là khi đi theo đoàn. Nếu đi du lịch theo Tour, xuất phát từ Hà Nội hoặc bất cứ đâu, giá Tour sẽ tùy theo điểm xuất phát và số ngày bạn tham quan du lịch.

V. Sơ lược lịch sử hình thành vùng đất Tây Gia Lai

Tỉnh Gia Lai ngày nay xưa kia là địa bàn sinh sống lâu đời của các dân tộc Jrai, Ba Na, Chăm H’roi, tập quán sống thành từng làng. Trước khi thực dân Pháp đặt chân đến đây, vùng đất này cũng chịu sự xâm lấn, chiếm đóng của một số dân tộc khác. Khi người Pháp đặt ách đô hộ lên Tây Nguyên, các dân tộc Gia Lai đang ở giai đoạn cuối của xã hội nguyên thủy chuyển sang giai đoạn xã hội có giai cấp. 

Lễ hội của người dân tộc Gia Rai, Tây Nguyên. Ảnh: Tư liệu

Từ những năm đầu của thập niên 40 của thế kỷ 19 (1840), các giáo sĩ người Pháp đã thâm nhập bắt đầu truyền đạo ở khu vực cư trú của người Ba Na thuộc xã Hà Tây huyện Chư Păh và xã Hà Đông thuộc địa phận huyện Đăk Đoa (cũ) ngày nay. Theo chân các giáo sĩ, thực dân Pháp ngày càng tiến sâu vào Bắc Tây Nguyên tạo nên những xáo trộn mới bằng những chính sách chia để trị, dựa vào nhóm này để chống nhóm khác, chia rẽ Kinh – Thượng, chia rẽ các dân tộc trong tỉnh, trong khu vực với nhau.

Từ cuối thế kỷ 19 đến những năm đầu thế kỷ 20, thực dân Pháp đã từng bước thiết lập bộ máy cai trị trên đất Gia Lai và thi hành khai thác thuộc địa. Sau nhiều lần thay đổi, sáp nhập, chia tách để thành lập các đơn vị hành chính trên vùng Tây Nguyên, ngày 24 tháng 5 năm 1932, tỉnh Pleiku được thành lập (gồm đại lý Pleiku và đại lý Cheo Reo) theo Nghị định Toàn quyền Đông Dương. Đến trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, tỉnh Pleiku có thị xã Pleiku (thành lập ngày 3/12/1929 theo Nghị định Khâm sứ Trung Kỳ), huyện An Khê, huyện Plei Kli, huyện Chư Ty và huyện Cheo Reo. Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, tên tỉnh được Chính quyền cách mạng gọi là Gia Lai.

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, mặc dù chưa có tổ chức Đảng song dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngay từ những năm 1930, 1940, những đảng viên, chiến sĩ cách mạng lên hoạt động tại Gia Lai, xây dựng phát triển phong trào cách mạng trong đồn điền và một số địa phương. Với sự ra đời của tổ chức Đoàn Thanh niên ở các địa phương trong tỉnh lúc bấy giờ và là lực lượng nòng cốt cùng với Nhân dân tham gia khởi nghĩa giành chính quyền và góp phần quan trọng vào thành công của Cách mạng tháng Tám năm 1945. Ngay sau đó, Ủy ban Cách mạng lâm thời tỉnh Gia Lai ra đời và đi vào hoạt động.

Anh hùng Núp. Ảnh: Tư liệu

Tháng 6 năm 1946, Pháp chiếm lại vùng đất Gia Lai và gọi tên đây là tỉnh Pleiku. Giai đoạn từ năm 1946 đến năm 1954, tỉnh Pleiku nói riêng, Tây Nguyên nói chung trải qua nhiều lần chủ thể cai quản theo các văn bản của chính quyền thực dân.

Tuy nhiên về phía chính quyền cách mạng, trong những năm kháng chiến chống Pháp, vẫn gọi là tỉnh Gia Lai, nhưng qua từng thời điểm khác nhau, tỉnh Gia Lai lại thuộc sự chỉ đạo trực tiếp của các cơ quan khác nhau trong khu vực, các huyện trong tỉnh cũng nhiều lần thay đổi tên gọi và địa giới hành chính.

Dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa thì tỉnh mang tên Pleiku với ba quận. Năm 1962 tách quận Cheo Reo lập tỉnh Phú Bổn nên Pleiku chỉ còn hai quận: Lệ Trung và Lệ Thanh. trước năm 1958 thì đổi Lệ Thanh thành Thanh An.

Sau năm 1975, tỉnh Pleiku đổi tên thành tỉnh Gia Lai. Ngày 20 tháng 9 năm 1975, thực hiện theo Nghị quyết của Bộ Chính trị, hợp nhất hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum thành tỉnh mới là Gia Lai – Kon Tum.

Ngày 12 tháng 8 năm 1991, theo Nghị quyết kỳ họp thứ 9 của Quốc hội khoá 8, Gia Lai – Kon Tum tách thành 2 tỉnh Gia Lai và Kon Tum. Khi tách ra, tỉnh Gia Lai có tỉnh lị là thị xã Pleiku và 9 huyện: An Khê, Ayun Pa, Chư Păh, Chư Prông, Chư Sê, K’Bang, Kông Chro, Krông Pa, Mang Yang.

Ngày 24 tháng 4 năm 1999, chuyển thị xã Pleiku thành thành phố Pleiku. Trong quá trình phát triển, tỉnh Gia Lai cũ có 1 thành phố, 2 thị xã và 14 huyện trước 12/6/2025.

Ngày 12 tháng 6 năm 2025, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 202/2025/QH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh. Theo đó, sáp nhập tỉnh Bình Định và tỉnh Gia Lai thành tỉnh Gia Lai (mới). Sau khi sáp nhập, tỉnh Gia Lai mới có 21.576,53 km² diện tích tự nhiên và quy mô dân số là 3.583.693 người.

VII. Nét văn hóa vùng đất Tây Gia Lai

Văn hóa truyền thống các dân tộc vùng đất Tây Gia Lai phong phú và đa dạng, góp phần quan trọng trong việc hình thành và phát triển văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam. Trong quá trình phát triển ấy, vùng đất Tây Gia Lai đã tạo nên những sắc thái văn hóa riêng biệt, độc đáo, ít bị pha tạp.

Nghệ thuật tượng gỗ trong văn hóa các dân tộc ở Tây Gia Lai.

Dấu tích văn hóa thời kỳ tiền sử

Những di chỉ khảo cổ học ở Tây Gia Lai với việc phát hiện các di tích thời đại sơ kỳ đá cũ ở An Khê có niên đại khoảng 80 vạn năm cách ngày nay, phần nào khẳng định sự hiện diện của tổ tiên loài người trên vùng đất này. Di tích Làng Gà, Chư Prông với các tổ hợp hiện vật được chế tác từ đá Basalte, các nhà khảo cổ cho rằng trình độ cư dân ở đây có thể thuộc giai đoạn trung kỳ Đá mới ở Tây Nguyên, dự đoán khoảng 5.000 – 6.000 năm cách ngày nay. Đồng thời, trên địa bàn Tây Gia Lai từ trước đến nay đã phát hiện và khai quật nhiều di chỉ, di tích khảo cổ như Biển Hồ, Làng Ngol, Thôn Bảy, Thôn Ba, Ia Mơr,… thuộc hậu kỳ đá mới với niên đại khoảng 2.500 – 4.000 năm cách ngày nay. Đặc biệt việc khai quật di tích công xưởng Làng H’lang ở Kông Chro đã mang đến những luận chứng xác thực về nguồn nguyên liệu, kỹ thuật chế tác của công cụ đá Opal ở Tây Gia Lai nói riêng, Tây Nguyên nói chung trong giai đoạn hậu kỳ đá mới. Như vậy, qua lát cắt khảo cổ học phần nào khẳng định Gia Lai là nơi sinh sống và tồn tại của lớp cư dân cổ xưa kéo dài qua nhiều thời kỳ với đa dạng loại hình di tích cho từng thời đại, qua đó khẳng định tầm quan trọng của Tây Gia Lai về một vùng văn hóa cổ mà ít nơi nào có được.

Là giai đoạn muộn, song có rất ít cứ liệu về lịch sử, văn hóa của cư dân ở thời đại kim khí trên vùng đất Tây Gia Lai. Dù không để lại dấu ấn rõ nét như giai đoạn đầu, nhưng việc phát hiện các hiện vật thuộc thời đại kim khí, đặc biệt là các trống đồng ở Tây Gia Lai trong những năm gần đây cho thấy có sự tồn tại người xưa trên vùng đất này, đồng thời qua đó còn cho thấy mối quan hệ nhất định của cư dân cổ ở Gia Lai nói riêng, Tây Nguyên nói chung với cư dân thuộc nền văn hóa Đông Sơn và ven biển miền Trung thông qua các đặc điểm, họa tiết của các hoa văn trên trống đồng, đồ gốm trang trí….

Công cụ sơ kỳ đá cũ An Khê – niên đại cách nay 800.000 năm – Ảnh: Bảo tàng tỉnh Gia Lai.

Sự ảnh hưởng của văn hóa Champa
Sự ảnh hưởng của văn hóa Champa trên bình diện Tây Nguyên nói chung, Tây Gia Lai nói riêng đã để lại những dấu tích đậm nét và là những minh chứng xác thực trong vùng văn hóa cổ Tây Gia Lai qua các di tích, di vật được phát hiện trong những năm vừa qua. Đến thời điểm hiện tại, những dấu vết của văn hóa Champa được phát hiện sớm nhất trên đất Gia Lai có niên đại khoảng thế kỷ 6 – 8 (tháp Bang Keng và hai bức phù điêu). Đó là những bằng chứng khoa học minh chứng về sự tồn tại, ảnh hưởng của văn hóa Champa trên vùng đất này từ rất sớm, làm cơ sở cho sự phát triển của văn hóa Champa ở khu vực Bắc Tây Nguyên trong các giai đoạn sau này qua nhiều thế kỷ. Điều này được minh chứng qua các di tích, di vật phát hiện tại Gia Lai như Tượng thần Shiva, Bia ký Drang Lai có nguồn gốc từ cụm tháp Chăm ở Ayun Pa, Gia Lai được xác định niên đại khoảng năm 1435; Bia đá Tư Lương, tại thôn Tư Lương, phường An Bình, bia đá Chăm được xác định năm lập bia 1438 (tức năm 1360 – theo niên đại Saka), dưới thời vua Yura Bhadravarman – Deva. Ngoài ra, một số hiện vật được tìm thấy tại di tích Nền nhà hồ nước Ông Nhạc ở làng Hlang, xã Kông Chro như Đầu rắn Naga, các tảng đá ong có rãnh dẫn nước, các mảnh ngói Chăm nằm lẫn với ngói thời Tây Sơn…cho thấy có sự tồn tại và ảnh hưởng của văn hóa Champa trên vùng đất này. Như vậy, có thể nói rằng ngay từ rất sớm, sự ảnh hưởng, tồn tại của văn hóa Champa đã có mặt tại vùng đất Tây Gia Lai.

Dấu ấn văn hóa cư dân Việt xưa

Lễ hội Cầu Huê của người Việt vùng An Khê. Ảnh: Ngọc Phúc

Nếu như văn hóa Champa có mặt và ảnh hưởng sớm trên vùng đất Tây Gia Lai, thì mãi đến thế kỷ 12 – 15 các vương triều người Việt mới bắt đầu đặt tầm ảnh hưởng đến vùng đất này. Đặc biệt đến thế kỷ 17, những cư dân Việt đầu tiên có mặt tại vùng An Khê tạo dựng sự ảnh hưởng và giao lưu văn hóa giữa người Việt với cộng đồng cư dân tại chỗ. Cuối thế kỷ 18, mối quan hệ đoàn kết ấy càng được thể hiện mãnh liệt qua phong trào Tây Sơn Thượng Đạo do anh em nhà Tây Sơn lãnh đạo. Trong buổi đầu lập nghiệp trên vùng đất mới, với tinh thần và sức sống mãnh liệt, tiếp nối truyền thống, giao hòa cái mới, cư dân Việt đã để lại những dấu ấn sâu đậm về truyền thống văn hóa từ xưa đến nay, nhất là trên vùng đất An Khê. Quần thể di tích Tây Sơn Thượng Đạo trải dài khắp 4 huyện, thị là một trong những chứng tích đặc biệt thể hiện rõ nét về một thời oanh liệt, mối đoàn kết giao hòa giữa cộng đồng cư dân tại chỗ với lớp cư dân mới. Nhưng, có lẽ dấu ấn đậm nét hơn cả đó là sức sống tinh thần và truyền thống văn hóa của người Việt vẫn được duy trì, phát triển trên vùng đất mới từ khi khai khẩn đến nay. Những nếp nhà mái lá truyền thống mang đậm phong cách người Việt ở Trung bộ, những mái đình mang dáng dấp cổ truyền, các sinh hoạt tín ngưỡng, lễ hội và đặc biệt là lối sinh hoạt thường ngày của cư dân Việt được gìn giữ và phát huy tạo nên một vùng văn hóa rất riêng, mang tính nguyên hợp trên địa bàn vùng đất Tây Gia Lai.

Sự phong phú và đa dạng về văn hóa các dân tộc tại chỗ

Nếu ảnh hưởng các văn hóa đã nói trên là cơ sở để góp phần tạo nên vùng văn hóa cổ ở Tây Gia Lai thì văn hóa truyền thống của cư dân tại chỗ là cốt lõi để định hình một không gian văn hóa phong phú, đa dạng và mang tính biểu trưng của vùng văn hóa cổ ở vùng đất này.

Lễ đâm trâu nét văn hóa độc đáo ở Gia Lai.

Văn hóa truyền thống vùng đất Tây Gia Lai rất phong phú và đa dạng, được biểu hiện qua nhiều loại hình: kho tàng văn học truyền miệng, nhạc cụ, nghệ thuật diễn xướng, nghệ thuật cồng chiêng, hệ thống lễ hội, công trình kiến trúc, tổ chức làng xã, ẩm thực truyền thống,…tất cả mang dấu ấn đặc trưng về một vùng “văn hóa núi” với lối tư duy hiện thực huyền ảo, mọi thứ đều được con người quy về cái tự nhiên và ẩn chứa trong nó cái hồn (Yàng/thần), mang tính nhân văn sâu sắc. Cư dân tại chỗ ở Gia Lai rất dung dị, hòa đồng. Họ khao khát, đắm chìm và lạc quan trong văn hóa cổ truyền của vùng đất mình đang sống, tạo nên dòng chảy xuyên suốt từ quá khứ đến hiện tại và tương lai. Nếu như trước đây có quan điểm cho rằng Tây Nguyên nói chung, Tây Gia Lai nói riêng là khu vực văn hóa “phi Hoa, phi Ấn”. Tuy nhiên không có nghĩa là nó hoàn toàn biệt lập. Bằng những nét rất riêng ấy, vùng văn hóa Tây Gia Lai góp phần làm nên sự đa dạng và phong phú của nền văn hóa Việt Nam.

Xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc

Tây Gia Lai – vùng đất chứa đựng những trầm tích lịch sử, dấu ấn văn hóa dày sâu. Theo tiến trình lịch sử, Tây Gia Lai có nhiều biến đổi, tạo nên sự đa dạng về thành phần, hình thành cộng đồng các dân tộc, trong đó có 2 dân tộc sinh sống lâu đời chiếm số đông là Jrai và Bahnar với đời sống văn hóa phong phú và giàu bản sắc.

Sức sống Tây Nguyên.

Cho đến nay, Tây Gia Lai vẫn là nơi bảo lưu những yếu tố văn hóa cổ truyền độc đáo, thể hiện rõ nét nhất là trong những hoạt động nghệ thuật, âm nhạc, hội họa, múa hát. Vùng đất này là nơi lưu giữ kho tàng văn hóa dân gian với những truyền thuyết đã ăn sâu vào tiềm thức con người như các câu chuyện về Vua Lửa (Pơtaopui), Vua Nước (Pơtaoia),…Với người Jrai, Bahnar, cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng là tài sản vô giá. Âm nhạc cồng chiêng không những là một giá trị nghệ thuật đã từ lâu được khẳng định trong đời sống xã hội mà còn là kết tinh của hồn thiêng sông núi qua bao thế hệ, tạo ra một một không gian văn hóa vừa lãng mạn vừa huyền ảo.

Cùng với bảo tồn và phát huy các giá trị của Không gian văn hóa cồng chiêng, văn hóa nhà rông, nhà dài và các hoạt động khác như hát sử thi, dệt thổ cẩm, đan lát, tạc tượng, và đặc biệt là các lễ hội của đồng bào các DTTS như: Lễ thổi tai truyền thống; Lễ mừng nhà rông mới; Lễ đâm trâu, Pơ thi, Lễ hội cầu mưa,…; hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và sinh hoạt văn hóa tâm linh của nhân dân được quan tâm.

Lễ cầu mưa của Yang Pơtao Apui.

Vùng đất Tây Gia Lai – Nơi hồn thiêng sông núi hội tụ. Từ bao đời nay, văn hóa truyền thống dân tộc vẫn luôn là dòng chảy bất tận và tồn tại song hành cùng với những thay đổi của cuộc sống mới. Cùng với văn hoá phi vật thể, văn hoá vật thể ở Gia Lai tồn tại trong đời sống của đồng bào như hai thực thể gắn bó chặt chẽ và bổ sung cho nhau. Tây Gia Lai hiện có 41 di tích, cụm di tích đã được xếp hạng, gồm: 1 quần thể di tích lịch sử Tây Sơn Thượng đạo với 9 di tích/cụm di tích và di tích khảo cổ Rộc Tưng-Gò Đá được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt; 7 di tích quốc gia và 24 di tích, cụm di tích cấp tỉnh; có 2 hiện vật, bộ hiện vật được công nhận là bảo vật quốc gia, gồm: Phù điêu Phật Chămpa Tây Nguyên và Sưu tập công cụ sơ kỳ đá cũ An Khê. Có 456 hồ sơ di sản văn hoá phi vật thể, trong đó có 2 di sản trong Danh mục di sản văn hoá phi vật thể quốc gia, gồm Sử thi của người Bahnar, Lễ Cầu mưa của Yang Pơtao Apui (Plei Ơi, xã Chư A Thai). Đặc biệt không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Công tác bảo tồn chữ viết, tiếng nói của đồng bào dân tộc thiểu số được quan tâm. Nhiều công trình nghiên cứu, sưu tầm về ngữ văn dân gian, từ điển được cá nhân, tổ chức trong và ngoài tỉnh sưu tầm, nghiên cứu, xuất bản. Khu dự trữ sinh quyển Cao nguyên Kon Hà Nừng đã được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới.

Nghệ nhân đẽo tượng nhà mồ (Ảnh: Hồ Anh Tiến)

Văn hoá là nền tảng tinh thần, là động lực của sự phát triển xã hội “Văn hoá là hồn cốt dân tộc, văn hoá còn thì dân tộc còn”. Văn hóa như dòng chảy không ngừng hội tụ và kết tinh các giá trị cội nguồn của dân tộc Việt Nam. 

VIII. Lễ hội – Du lịch vùng đất Tây Gia Lai

Khám phá văn hóa Gia Lai thông qua những lễ hội truyền thống để tìm hiểu sâu về các giá trị văn hóa, tín ngưỡng và đời sống tâm linh của người dân nơi đây, mang đến những trải nghiệm sâu sắc và khó quên. Từ tiếng Cồng chiêng, tiếng đàn Đá, đàn K’ni, K’lông Pút, đàn Goong, T’rưng, Alal,… vang vọng trong không gian núi rừng mùa ning nơng, các nghi lễ linh thiêng, đến sự gắn kết cộng đồng qua các điệu múa xoang, ẩm thực truyền thống, mỗi lễ hội đều phản ánh nét đẹp riêng biệt và độc đáo của vùng đất Tây Nguyên.

Diễn tấu cồng chiêng và múa xoang của các nghệ nhân. Ảnh: Hồng Vy

1. Những lễ hội đặc sắc ở vùng đất Tây Gia Lai

Festival Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên Mang đậm bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên như Ê Đê, Ba Na, Gia Rai,…là một trong các lễ hội truyền thống ở Tây Gia Lai được tổ chức hoành tráng nhất. Nét độc đáo nhất của lễ hội này là tiếng cồng chiêng vang vọng, thể hiện sự kết nối sâu sắc giữa con người với thiên nhiên và thần linh. Âm nhạc cồng chiêng không chỉ là giai điệu mà còn chứa đựng những giá trị văn hóa, tín ngưỡng sâu sắc, gìn giữ Không gian Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên – di sản phi vật thể đã được UNESCO công nhận. Không chỉ quy tụ nghệ nhân từ khắp các tỉnh Tây Nguyên, lễ hội này còn có sự tham gia của các đoàn nghệ thuật từ Lào, Campuchia hay Thái Lan.

Festival Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, Ảnh Ngọc Thu

Ngoài những màn trình diễn cồng chiêng đặc sắc, festival còn tái hiện lại không gian sinh hoạt cộng đồng, nơi diễn ra các nghi lễ truyền thống như cúng bến nước, lễ mừng lúa mới hay hội đâm trâu. Lễ hội thường diễn ra vào cuối tháng 3, khi Tây Nguyên bước vào thời khắc đẹp nhất trong năm và có nhiều du khách ghé đến.

Lễ Pơ Thi (cuộc chia tay vĩnh viễn giữa người sống và người chết) Là lễ hội lớn nhất và tinh túy nhất trong các lễ hội Tây Nguyên. Khi cây H’lưng đầu buôn, cây Ê-táp giữa làng ra nụ, nở hoa (từ tháng 11 đến hết tháng 4 dương lịch năm sau) đó chính là lúc người Ba Na và Gia Rai ở Tây Gia Lai tổ chức lễ Bỏ Mả. Đây là lễ hội có ý nghĩa tiễn đưa linh hồn người chết về với tổ tiên thường diễn ra trong 3 ngày. Lễ Bỏ Mả trải qua ba bước: Dựng nhà mồ, lễ bỏ và lễ rửa nồi (giải phóng linh hồn). Lễ hội mang tính nhân văn sâu sắc: Tái sinh cho người chết và giải phóng cho người sống khỏi những ràng buộc với người chết.

Sau khi làm lễ cúng, dân làng cùng đánh cồng chiêng, múa xoang rộn ràng quanh khu nhà mồ. Ảnh: Đức Thụy

Một lễ pơ thi vừa được người dân làng Kép, xã Ia Ly tổ chức giữa tháng 2.2025 mở đầu mùa ning nơng ở ngôi làng Jrai trên cung đường du lịch phía Tây tỉnh. Một số đoàn khách quốc tế đã đến đây trải nghiệm không gian lễ hội đặc sắc nhất trong năm của người Jrai vùng này. Qua lễ pơ thi, du khách đã phần nào cảm nhận được màu sắc huyền ảo Tây Nguyên. Có lẽ trong các lễ hội, pơ thi là nơi các giá trị văn hóa, nghệ thuật biểu hiện một cách tập trung, rực rỡ và sôi động nhất. Đó không chỉ là nghệ thuật trình diễn cồng chiêng, kiến trúc nhà mồ, điêu khắc tượng gỗ mà còn nhiều phong tục, tập quán, ẩm thực truyền thống…

Lễ hội Hoa Dã Quỳ – Núi lửa Chư Đang Ya Là một trong các lễ hội văn hóa tại Tây Gia Lai thu hút đông đảo du khách bởi cánh đồng hoa dã quỳ nở rộ phủ vàng khắp triền núi Chư Đang Ya, tạo nên một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp. Màu vàng rực rỡ của hoa dã quỳ kết hợp với địa hình núi lửa tạo ra khung cảnh thơ mộng, lễ hội thường diễn ra vào tháng 11 hàng năng hội tụ nhiều nhiếp ảnh gia và du khách yêu thiên nhiên đến chiêm ngưỡng. Lễ hội không chỉ là nơi ngắm hoa, mà còn là cơ hội để du khách tham gia vào nhiều hoạt động văn hóa của người dân bản địa như giao lưu cồng chiêng, thưởng thức ẩm thực đặc sản như rượu cần, cơm lam, gà nướng,…Tham gia vào các trò chơi dân gian và nhiều hoạt động thể thao như leo núi Chư Đang Ya, đua xe đạp địa hình, các cuộc thi chạy bộ trên những cung đường uốn lượn quanh núi,…mang lại cho du khách những trải nghiệm phong phú, cơ hội chiêm ngưỡng cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ từ nhiều góc độ khác nhau.

Lễ hội hoa dã quỳ đậm nét văn hóa đặc sắc của đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Ảnh: Đinh Dũng

Hội đua thuyền độc mộc trên sông Pô Cô Là lễ hội văn hóa – thể thao đặc sắc, được tổ chức thường niên vào tháng 11 tại bãi bồi làng Dăng, xã Ia O. Lễ hội nhằm tưởng nhớ anh hùng A Sanh – người chèo đò huyền thoại trên sông Pô Cô trong kháng chiến, đồng thời bảo tồn văn hóa độc mộc của dân tộc Jrai, tôn vinh nét đẹp văn hóa truyền thống, và thúc đẩy du lịch vùng biên giới. 

Hội đua thuyền Độc Mộc trên sông Pô Cô.

Về thể lệ, mỗi đội đua sẽ gồm hai tay chèo kỳ cựu phối hợp tranh tài trên những con thuyền độc mộc (làm từ thân cây nguyên khối) để chinh phục chặng đua dài 1.500m trên dòng sông Pô Cô. Giải đấu được chia thành ba vòng tranh tài, 6 đội mạnh nhất trong đó sẽ được bước vào vòng chung kết hạng A, 10 đội còn lại sẽ tiếp tục cạnh tranh ở hạng B. Song song với cuộc đua, lễ hội còn có Liên hoan văn hóa cồng chiêng, thi tạc tượng gỗ dân gian, trình diễn dân vũ, và hội chợ nông sản, ẩm thực đặc trưng. Lễ hội thu hút đông đảo du khách và người dân địa phương tham gia, góp phần làm sôi động văn hóa vùng biên giới Tây Gia Lai.

Lễ cơm mới Mỗi năm một lần, vào tháng 1-2 dương lịch, khi toàn bộ lúa chín ngoài đồng đã được thu hoạch hết cũng là lúc người dân các làng chuẩn bị lễ vật để mừng lúa mới. Lễ cơm mới thực chất là để mừng mùa thu hoạch mới, cầu mong cho ruộng nương được mùa, thu nhiều lúa thóc và quan trọng hơn là tạ ơn thần lúa, tôn vinh hạt thóc được Yàng ban cho nên tập tục cúng Yàng, cúng thần trời, thần sông suối, thần mưa, thần mùa màng được chú trọng. Lễ cơm mới được tổ chức ở nhà rông cho cả buôn làng và nhà riêng là của từng nhà, khi mà chủ nhà sẽ mời họ hàng, bạn bè tới chung vui ăn uống. Việc tổ chức cơm mới tùy thuộc vào khả năng thu hoạch nhiều – ít của gia đình song nhà nào càng đông khách chứng tỏ càng nhận được vinh dự lớn. Lễ mừng lúa mới là lễ hội mang đậm tín ngưỡng vạn vật hữu linh.

Già làng thực hiện nghi lễ cúng Mừng lúa mới để dân làng tạ ơn thần linh.

Lễ kỷ niệm chiến thắng Ngọc Hồi Đống Đa (lễ hội cầu Huê) Mỗi dịp mùng 4 và mùng 5 Tết Âm lịch, người dân vùng An Khê lại náo nức chuẩn bị cho lễ hội Tây Sơn Thượng Đạo. Sự kiện nhằm kỷ niệm chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa và hành trình khởi nghĩa lẫy lừng của phong trào Tây Sơn, đặc biệt là dành lời tri ấn đến vị anh hùng dân tộc Quang Trung – Nguyễn Huệ cùng các nghĩa quân tham gia. Tâm điểm của lễ hội nằm ở các nghi thức rước kiệu, dâng hương tại khu di tích Tây Sơn Thượng Đạo. Bầu không khí thiêng liêng cùng tiếng trống trận rền vang khắp không gian đã khiến nhiều người nhớ về thời khắc hào hùng khi nghĩa quân Tây Sơn ra trận, đồng thời giúp đây trở thành một trong các lễ hội Gia Lai mang tính sử thi nhất.

Các cô gái trong trang phục truyền thống, bưng mâm lễ vật kinh dâng lên Hoàng đế Quang Trung và các tướng sĩ nhà Tây Sơn. Ảnh: Ngọc Minh

Lễ cầu mưa của Yang Pơtao Apui Một trong các lễ hội truyền thống ở Tây Gia Lai đó là lễ cầu mưa của Yang Pơtao Apui. Đây là một nghi lễ linh thiêng mang đậm ý nghĩa tâm linh, thể hiện khát vọng của người dân về một năm mưa thuận gió hòa, cây cối tốt tươi và cuộc sống đủ đầy. Điều đặc biệt là nghi thức này chỉ được chủ trì bởi Pơtao Apui – những vị thủ lĩnh tinh thần có khả năng chuyển lời của người dân với thần linh. Khi mùa khô đạt đến đỉnh điểm, các Pơtao Apui cùng dân làng sẽ tề tựu lại nhà Rông và đốt lửa suốt đêm. Tại đây, họ sẽ dâng lên thần linh những lễ vật quý giá nhất như: Rượu cần, heo, gà,… và cất lên những bài khấn bằng ngôn ngữ cổ xưa để cầu mong trời đất ban cho những cơn mưa mát lành. Với sự hòa quyện này Lễ hội Cầu Mưa đã trở thành một sự kiện văn hóa đặc biệt, đậm đà bản sắc độc đáo.

Lễ cúng cầu mưa nhằm cầu mong trời đất ban cho mưa thuận gió hòa. Ảnh: Ngọc Thu

Lễ đâm trâu Lễ Đâm Trâu thường diễn ra trong khoảng đầu tháng chạp năm trước đến tháng 3 âm lịch năm sau, lễ hội do người Gia Rai và Ba Na tổ chức tại nhà rông với sự đóng góp của cả buôn làng. Người Ba Na tổ chức trong 3 ngày, còn người Gia Rai tổ chức trong một ngày rưỡi. Con Trâu được đem cột quanh cây nêu, một thanh niên lực lưỡng được cử ra để lãnh trách nhiệm đâm Trâu, sau đó dùng máu hòa rượu để cúng Giàng (thần). Lễ hội Tây Gia Lai này được tổ chức vào dịp mừng chiến thắng, mừng thắng lợi của cộng đồng, khánh thành nhà rông, lễ cầu an, lễ xoá điềm xấu, điềm gở cho cả buôn làng hoặc tạ ơn thần linh.

Lễ cúng bến nước Giọt nước đối với đồng bào dân tộc Ba Na, Gia Rai ở Tây Nguyên là một biểu tượng văn hóa hết sức độc đáo, nó gắn liền với đời sống văn hóa, tinh thần, tâm linh của bà con. Họ tổ chức lễ cúng bến nước hàng năm sau mùa thu hoạch để cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu và cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Bắt đầu lễ hội bằng lễ cúng ông bà tổ tiên, tiếp đó là cúng Giàng cầu mưa. Kết thúc buổi lễ những cô gái trong trang phục truyền thống cùng mọi người theo bước chân thầy cúng tới bến nước đầu làng để gùi về những bầu nước mát ngọt trong niềm vui hân hoan. Sau đó mọi người quây quần bên nhau uống rượu cần trong âm hưởng rộn ràng của cồng chiêng Tây Nguyên. Đây là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng mang ý nghĩa tích cực trong đời sống tâm linh, tinh thần của đồng bào dân tộc.

Hội đồng già làng thực hiện nghi thức cúng trong Lễ cúng Bến Nước. Ảnh: Ngọc Thu

Những lễ hội khác Một số làng xã thuộc các huyện Kbang, Phú Thiện, Ia Grai (cũ)… có đông đồng bào dân tộc thiểu số phía Bắc sinh sống thì Tết Nguyên đán là dịp để họ tổ chức các hoạt động lễ hội của dân tộc mình. Ngoài ẩm thực đặc trưng, họ còn diễn xướng các trò chơi tung còn, nhảy sạp, múa khèn; đắm say với điệu múa dân gian mềm mại của những thiếu nữ trong bộ váy áo rực rỡ sắc màu. Với cộng đồng người Kinh thì lễ hội truyền thống theo tín ngưỡng dân gian cũng được gìn giữ, phát huy giá trị.

2. Du lịch– Điểm đến hấp dẫn ở Tây Gia Lai

Với điều kiện tự nhiên, địa hình đa dạng, khí hậu ôn hoà đã tạo cho Tây Gia Lai có những thắng cảnh thiên nhiên hùng vỹ giữa đại ngàn như: Biển Hồ, hồ Ia Ly, hồ Ayun Hạ, thác Phú Cường, thác 50, núi lửa Chư Đang Ya, di tích quốc gia đặc biệt Quần thể di tích Tây Sơn Thượng đạo, di tích khảo cổ thời đại Đá cũ Rộc Tưng-Gò Đá nơi có dấu vết con người đầu tiên trên lãnh thổ Việt Nam niên đại khoảng 80 vạn năm,… và hệ sinh thái động thực vật phong phú mang đặc điểm chuyên biệt của rừng Tây Nguyên. Tất cả dường như còn được tô điểm thêm bởi những cánh rừng cao su, đồi chè, cà phê bạt ngàn và những công trình thuỷ điện quốc gia vĩ đại được mệnh danh là kỳ tích trên Cao Nguyên đất đỏ. Cùng văn hóa nhà rông, nhà sàn, nhà mồ độc đáo, kết hợp chuỗi di tích lịch sử và các địa điểm tâm linh tôn giáo đặc sắc đã tạo nên những thế mạnh riêng có để Tây Gia Lai phát triển các loại hình du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch văn hóa-lịch sử và du lịch cộng đồng hấp dẫn du khách trong và ngoài nước. Dưới đây, Khám Phá Việt Nam xin giới thiệu một số điểm du lịch tiêu biểu của vùng đất Tây Gia Lai:

Biển hồ T’Nưng được ví như “đôi mắt” Pleiku. Ảnh: Phan Nguyên

Biển hồ T’ Nưng – viên ngọc bích giữa mênh mông đất đỏ Tây Nguyên. Nhắc đến phố núi Pleiku, du khách thường nhắc đến vẻ đẹp của Biển Hồ. Biển hồ T’Nưng rộng lớn nằm ở phía bắc thành phố Pleiku. Đây vốn là một hồ nước tự nhiên được hình thành nhờ vào 3 miệng núi lửa cổ thông với nhau từ ngày xưa, tạo thành 3 phễu trũng. Miệng hồ vốn là miệng núi lửa nhô cao nên dù đứng từ xa cũng có thể nhìn thấy rất rõ. Đường dẫn vào hồ là một con đường cực đẹp và thơ mộng, hai bên đường là hàng cây thông già lâu năm tỏa bóng mát. Sáng sớm khi sương chưa tan hết, du khách sẽ có cảm giác lạc vào cõi tiên mơ mộng, huyền ảo. Khi hoàng hôn dần buông, ráng chiều nhuộm đỏ lòng hồ, cảnh tượng vô cùng bình yên, thanh bình. Muốn trải nghiệm biển hồ T’Nưng một cách trọn vẹn nhất, hãy ngồi trên con thuyền độc mộc và lướt trên mặt hồ. Thuyền sẽ đưa bạn vào sâu hơn, len lỏi vào trong rừng già để thấy được sự độc đáo, kỳ vĩ của cảnh quan hồ giữa núi.

Núi lửa Chư Đăng Ya “Củ gừng dại”, ngọn núi lửa mang tên Chư Đăng Ya là một địa điểm vô cùng độc đáo và ẩn chứa nhiều nét thơ mộng đầy quyến rũ. Thời điểm cuối tháng 10,11 cả ngọn núi sẽ hóa màu vàng rực bởi những thảm dã quỳ khổng lồ, núi lửa Chư Đăng Ya mang đến bạn khung cảnh yên bình của những cánh đồng bát ngát và thảm hoa dã quỳ rực rỡ. Đến đây, ngoài ngắm cảnh bạn còn được trải nghiệm leo núi, hòa mình cùng nhịp điệu cồng chiêng thú vị.

Núi lửa Chư Đang Ya chuyển mùa từ màu xanh sang sắc vàng dã quỳ. Ảnh: Doãn Vinh

Khu di tích Tây Sơn Thượng Đạo Tây Sơn Thượng Đạo là tên gọi chung của miền đất nằm ở phía trên khu vực đèo An khê Cùng với Bình Định xưa thì Gia Lai xưa cũng là một trong những vùng đất khởi nghiệp của 3 anh em nhà Tây Sơn thời kỳ những năm 1771 và nơi đây hiện tại vẫn còn lưu giữ những di tích lịch sử gắn liền với cuộc khởi nghĩa Tây Sơn nổi tiếng trong lịch sử dân tộc, Là một trong những căn cứ của nghĩa binh Tây Sơn, đến nay khu di tích Tây Sơn thượng đạo đã trở thành điểm di tích mang ý nghĩa đặc biệt, là điểm đến hấp dẫn để du khách tìm về, gợi nhớ lại sự kiện lịch sử nổi tiếng cũng như hiểu thêm về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn một thời.

Nét kiến trúc cổ kính còn trường tồn theo thời gian. @nanaphuong

Biển Hồ C Huyền ảo trong màn sương trắng, nằm trên bờ bắc của Biển Hồ. Biển Hồ Chè là tên gọi người dân Pleiku đặt tên cho nơi đây, là sự kết hợp giữa hồ nước biếc và nương chè bạt ngàn. Đây cũng chính là đồn điền chè đầu tiên của người Pháp ở Gia Lai, hình thành từ những năm 20 thế kỷ trước. Mang một vẻ tuyệt mỹ của những cánh đồng, những nét bình yên đến kinh ngạc hay các khung cảnh hùng vĩ của Biển Hồ Chè sẽ làm cho rất nhiều người cảm thấy thật sự ấn tượng.

Gia Lai – Tuyệt cảnh giữa đại ngàn Tây Nguyên hùng vĩ.

Ngôi Bửu Minh Cổ Tự Đây là một trong những ngôi chùa nổi tiếng ở Tây Nguyên do sự yên bình từ khung cảnh. Tháp chùa trang nghiêm, quanh năm đứng giữa bốn bề là những đồi chè xanh hút mắt. Mặt chùa hướng Tây nhìn về phía nam hồ T’Nưng, “gối đầu” vào núi Tiên Sơn, xa xa phía sau chùa là núi lửa Chư Đăng Ya. Đây chính là vị trí địa lý và phong thủy tốt để cho mạch đạo của ngôi chùa được tuôn chảy, luân lưu. Dẫn lối vào chùa chính là hàng thông trăm tuổi quanh năm u tịch, thơ mộng nghiêng mình bên mái chùa thiêng.

Hàng thông cổ thụ hơn trăm tuổi, khung cảnh đẹp như tranh ở phố núi Gia Lai Giữa Biển Hồ Chè có khung cảnh thơ mộng, đẹp như tranh vẽ. Con đường quê kéo dài gần 1km với hàng thông cổ thụ đứng sừng sững dọc hai bên trở thành địa điểm check-in yêu thích của các bạn trẻ, từng được nhắc đến trong bài hát “Đôi mắt Pleiku” của nhạc sĩ Nguyễn Cường và cũng được nhiều bạn trẻ ưu ái gọi tên là “con đường Hàn Quốc”, “con đường tình yêu”. 

Checkin tại Hàng thông trăm tuổi Gia Lai. Ảnh: Huyền Tỷ Review

Đập Tân Sơn là điểm đến mang âm hưởng lãng mạn, nhẹ nhàng nhưng vẫn giữ được phong vị mộc mạc của vùng đất cao nguyên. Hình ảnh hồ nước mênh mông, xanh biếc cùng hàng thông trải dài tít tắp đã ghi dấu ấn khó phai trong tâm trí các tín đồ du lịch.

Cảnh đẹp đập Tân Sơn hài hòa giữa thiên nhiên. Ảnh: Chu Thế Dũng

Quảng Trường Đại Đoàn Kết Là nơi giao lưu, gặp gỡ của người dân, địa điểm tham quan của khách du lịch còn là trung tâm văn hóa, nghệ thuật, thu hút vô vàn người tham gia. Vào những dịp lễ, Tết, nơi đây lại diễn ra nhiều hoạt động, lễ hội đặc sắc, mang đến cho du khách cơ hội hòa mình vào không khí sôi động, nhộn nhịp, đồng thời trải nghiệm những nét văn hóa độc đáo của vùng đất, người dân Tây Nguyên.

Chùa Minh Thành Với kiến trúc phảng phất hơi thở của xứ Phù Tang, mang những mái chóp uốn cong điển hình là một địa điểm du lịch không nên bỏ qua nếu bạn đến Pleiku. Tọa lạc ở số 348 đường Nguyễn Viết Xuân, chùa Minh Thành ngôi chùa chịu ảnh hưởng từ phong cách kiến trúc Trung Quốc và Nhật Bản. Lối kiến trúc đó đã làm bức tranh ngôi chùa thêm phần lộng lẫy, kiêu sa nhìn từ xa giống như một cung điện thu nhỏ nơi phố núi mù sương Pleiku. 

Chùa Minh Thành có lối kiến trúc mang phong cách Nhật Bản.

Nhà Tù Pleiku Địa điểm du lịch Gia Lai hot nhất dành cho những ai muốn tìm hiểu lịch sử – văn hóa. 

Khu bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng -Gia Lai Nơi đây tọa lạc trên hai vùng phía Đông và Tây của dãy Trường Sơn hùng vĩ cùng với sự sở hữu hệ sinh thái vô cùng đa dạng và rừng rậm bao phủ bao quanh hoàn toàn. Khu bảo tồn thiên nhiên chứa đựng khoảng hơn 800 loài thực vật bậc cao với 18 loài khác nhau thuộc trong sách đỏ của Việt Nam và 7 loài thuộc trong sách đỏ của thế giới. Ngoài ra, hệ động vật tại nơi đây cũng đa dạng không kém với 392 loài khác nhau với nhiều loài động vật có tên trong sách đỏ như voọc chà vá chân xám, vượn má hung hay mang Trường Sơn.

Thác K50 ngọn thác kỳ vĩ giữa đại ngàn Tây Nguyên.

Thác K50 Kỳ vĩ, đầy mê hoặc là những gì ngọn thác K50 (hay còn gọi là thác Hang Én) đem lại cho những phượt thủ sau quãng đường trekking đi tìm “nàng tiên của rừng thiêng” trong chốn hoang sơ, kỳ bí ở nơi “rừng thiêng nước độc” thuộc khu bảo tồn Thiên nhiên Kon Chư Răng, Gia Lai.

Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh là viên ngọc xanh của Tây Nguyên, điểm đến lý tưởng cho những ai yêu thiên nhiên và khám phá rừng nhiệt đới. Nơi đây sở hữu hệ sinh thái đa dạng với hàng trăm loài động, thực vật quý hiếm cùng những cánh rừng nguyên sinh bạt ngàn. Đặc biệt, đỉnh Kon Ka Kinh được ví như “nóc nhà Gia Lai”, thu hút những tín đồ đam mê trekking chinh phục.

Các loài động vật đa dạng ở vườn Quốc gia Kon Ka Kinh.

Thác Phú Cường – Gia Lai Chảy trên nền nham thạch của một ngọn núi lửa đã ngưng hoạt động. Dòng thác cao khoảng 45m, tung bọt trắng xóa vắt qua nền trời xanh quyến rũ lòng người. Làn hơi nước bốc lên từ dòng thác hòa cùng những tia nắng mặt trời chiếu qua vách đá tạo nên những dải cầu vồng bảy sắc huyền ảo mê hoặc.

Hồ thủy điện Yaly Đây là công trình thủy điện ngầm lớn nhất Việt Nam nằm bên dòng sông Sê San, thuộc xã Yaly. Đến đây, bạn không chỉ khám phá hệ thống công trình hiện đại mà còn được đi thuyền trên sông Sê San và ngắm cảnh rừng núi Tây Nguyên hùng vĩ.

Làng du lịch cộng đồng Tây Gia Lai có rất nhiều ngôi làng để du khách khám phá du lịch văn hóa cộng đồng. Tiêu biểu như Làng Kép 1 và Kép 2, xã Ia Ly, là nơi sinh sống lâu đời của đồng bào Jrai, nơi vẫn gìn giữ nhiều nét văn hóa đặc sắc mang đậm dấu ấn núi rừng Tây Nguyên thu hút hàng nghìn lượt du khách trong và ngoài nước đến tham quan, trải nghiệm và khám phá bản sắc văn hóa địa phương. Nơi đây có hơn 95% nhà sàn được bảo tồn, vừa là không gian sinh hoạt của người dân, vừa là điểm đón khách du lịch tìm hiểu đời sống văn hóa bản địa. Các nghề truyền thống như dệt thổ cẩm, đan mây tre, làm rượu ghè…Mỗi tấm thổ cẩm là cả tâm huyết và linh hồn của người phụ nữ Jrai. Du khách đến làng Kép có thể trực tiếp trải nghiệm quy trình làm thổ cẩm, từ chọn sợi, nhuộm màu đến dệt vải – một hoạt động hấp dẫn, mang đậm nét văn hóa bản địa. Một điểm đến độc đáo khác tại làng Kép là khu nhà mồ, nơi thể hiện sinh động quan niệm về thế giới và con người của người Jrai. Những tượng gỗ với hình dáng phong phú, từ cảnh sinh hoạt đời thường đến biểu tượng phồn thực, mẫu tử, thú vật phản ánh đời sống tinh thần phong phú, giàu tính nhân văn của đồng bào. Đặc biệt, nghi lễ “ma bùn” được người dân tái hiện phục vụ du khách, mang đến trải nghiệm chân thực về tín ngưỡng và văn hóa Jrai giữa không gian cồng chiêng và nhà rông truyền thống.

Dệt thổ cẩm.

Tây Nguyên Gia Lai còn nhiều địa điểm du lịch nổi tiếng khác như Làng kháng chiến Stor — quê hương Anh Hùng Núp, Di tích Đền tưởng niệm liệt sỹ và Tượng đài Chiến thắng Đăk Pơ tại xã Đăk Pơ – nơi tưởng niệm các liệt sỹ hi sinh trong trận đánh Đăk Pơ và các địa danh chiến trường xưa ác liệt như An Khê, núi Hàm Rồng, PleiMe, thung lũng Iadrăng với ngọn Chưpong đã đi vào lịch sử. nhà thờ Pleichuet, núi Chư Nâm, Các Thác nước, Làng du lịch cộng đồng và hồ Ia Mơ Nông, Làng chài sông Sê San, cổng trời Mang Yang, Hố trời An Khê. Các cảnh quan nhân tạo có các rừng cao su, đồi chè, cà phê bạt ngàn. Kết hợp với tuyến đường rừng, có các tuyến dã ngoại bằng thuyền trên sông, cưỡi voi xuyên rừng, v.v… 

IX. Ẩm thực ở vùng đất Tây Gia Lai 

Nhắc đến ẩm thực Tây Nguyên, người ta vẫn luôn nghĩ đến gà nướng, cơm lam, rượu cần. Nhưng với ẩm thực Tây Gia Lai không chỉ dừng lại ở đó mà sẽ mang lại nhiều hấp dẫn bởi sự phong phú, đặc sắc của những món ăn từ nhà hàng sang trọng cho đến ẩm thực đường phố tạo nên nét riêng của vùng đất bazan đầy nắng và gió này.

Những món ăn truyền thống cơm lam, gà nướng, thịt heo nướng, lá mì, cà đắng, rượu cần đang trở thành đặc sản và luôn có mặt tại các sự kiện văn hóa, du lịch, thương mại và hệ thống nhà hàng mang phong cách Tây Nguyên chuyên phục vụ những món ngon đặc sản thể hiện đặc trưng riêng trong chế biến món ăn và cả trong phong cách phục vụ. luôn kết hợp chương trình văn nghệ cồng chiêng vào buổi tối để du khách cùng thưởng thức.

Ẩm thực đặc trưng của Tây Nguyên.

Nếu Du khách muốn khám phá, trải nghiệm ẩm thực truyền thống của dân tộc thiểu số thì các buôn làng sẽ là điểm đến của du khách. Đến các buôn làng này, du khách cùng trải nghiệm những món ăn của núi rừng như: đọt mây chấm muối ớt, hoa nghệ xào, thịt heo gác bếp, cá suối nướng, tép đùm lá chuối, canh ốc với ngọn ting ting, bánh củ mì… và đặc biệt là hoà mình trong âm vang của cồng chiêng bên bếp lửa bập bùng, cùng múa xoang với dân làng.

Món đọt mây rừng sẽ ngon hơn khi ăn kèm cơm lam. Ảnh: Đinh Yến

Sông Sê San bắt nguồn từ phía Nam dãy Ngọc Linh, đã sản sinh ra những loại cá da trơn quý hiếm như cá anh vũ, cá lăng, cá chình. Qua bàn tay chế biến của đầu bếp đã trở thành món ngon hấp dẫn luôn được ưu tiên trong sự lựa chọn của du khách như cá anh vũ hấp, cá chình nướng nghệ, lẩu cá lăng… Bên cạnh đó, những cái tên đã trở thành thương hiệu cho ẩm thực Gia Lai: Bò một nắng – muối kiến Krông Pa, rau rừng Gia Lai, gỏi tép Biển Hồ, heo sọc dưa 7 món, gà đi bộ lên mâm… Du khách có thể thưởng thức những đặc sản này tại bất kỳ nhà hàng nào của phố núi Pleiku.

Ẩm thực đường phố của Gia Lai cũng không thể thiếu trong hành trình khám phá điểm đến của du khách. Bắt đầu từ buổi sáng thức dậy, theo các con phố của Pleiku là những món ngon của 3 miền như: mì quảng, bún bò Huế, phở Hà Nội… và đặc biệt vẫn là “Phở khô Gia Lai”, du khách phương xa vẫn hay gọi là phở 2 tô, là món ăn gắn bó như hương vị quê hương của người dân phố núi, dù đi bất cứ đâu người Tây Gia Lai không bao giờ quên món phở này.

Phở 2 tô.

Tầm buổi xế chiều, các món ăn vặt đã có mặt trên khắp những con phố, như: bánh canh, bánh bột lọc, bánh bèo, bánh mì, lụi thịt nướng, lụi bánh tráng, bánh xèo, bánh cuốn, bún thịt nướng… Và thú vị, hấp dẫn là món bún mắm cua, với một mùi nồng rất đặc biệt nhưng đã tạo sự tò mò cho du khách nhất định phải thử một lần. Đã đến Tây Gia Lai thì không thể nào không thử món chuối bọc nếp nướng với vị béo cốt dừa, quyện cùng vị ngọt thơm của chuối chín, là một món ăn vô cùng dân dã nhưng cũng rất hấp dẫn đối với du khách.

Tây Gia Lai cũng là thiên đường của các loại trái cây như: Sầu riêng, bơ, mít, xoài, nhãn, na (mãng cầu), thanh long, chôm chôm, cam, bưởi da xanh, chanh dây, dứa, chuối… Đặc biệt, bơ Gia Lai rất dẻo, thơm và béo, vỏ mỏng hạt nhỏ và quả rất to, là một đặc sản làm quà cho khách phương xa. Các loại nước ép, sinh tố, chè trái cây được chế biến từ các loại hoa quả của Gia Lai cũng đã có mặt trong thực đơn ăn vặt và luôn hiện hữu trong các quán cà phê, giải khát của phố núi.

Sự đa dạng, phong phú của ẩm thực Tây Gia Lai sẽ mang lại nhiều trải nghiệm thú vị cho du khách trong hành trình khám phá. Tây Gia Lai hội tụ các yếu tố về đặc trưng vùng miền, văn hoá truyền thống và nét độc đáo trong ẩm thực cùng với những thương hiệu món ăn đã tồn tại và có điều kiện để phát triển thành du lịch ẩm thực.

Bún mắm cua (bún cua thối) là một trong những đặc sản Gia Lai gây tò mò nhất với du khách. Với nguyên liệu chính là mắm cua đồng, ăn kèm bì heo chiên giòn, bánh phồng tôm, chả nem, thịt ba chỉ, bún mắm cua mang đến cho thực khách hương vị độc lạ, khó tìm được ở nơi khác.

Bún cua thối dân dã, đậm đà phố núi.

Phở khô Gia Lai, còn được gọi là “phở hai tô,” là món ăn đặc sản nổi tiếng không chỉ của Gia Lai mà còn lan rộng khắp cả nước. Đây là một phiên bản phở độc đáo, khác biệt với phở nước truyền thống của Hà Nội hay Nam Định. Khi ăn phở khô Gia Lai, thực khách sẽ trộn đều các loại gia vị như tương, chanh, ớt vào sợi phở khô trong tô đầu tiên. Sau đó, mỗi gắp phở sẽ được kết hợp với nước dùng từ tô thứ hai để làm đậm đà hơn hương vị, mang lại trải nghiệm mới lạ và độc đáo.

Gỏi lá rừng phố Núi Gỏi lá rừng được biết đến là một trong những món ăn nằm trong top những món ăn ngon khó cưỡng của Tây Gia Lai. Phần gỏi được phối trộn từ những loại lá mang phong vị của phố núi Gia Lai và các nguyên liệu như thịt ba chỉ, tôm,…được dùng kèm với phần nước chấm làm từ nếp bản địa nên có một hương vị đặc trưng khó tả.

Gỏi lá rừng phố núi.

Bún mắm nêm Gia Lai là một biến thể của món bún mắm nêm quen thuộc tại miền Trung Việt Nam, nhưng với một số nét đặc trưng riêng biệt. Bún có sợi mềm mại nhưng vẫn giữ được độ dai vừa phải. Điểm nhấn của món ăn nằm ở mắm nêm, một loại mắm cá lên men đặc biệt, được pha chế tỉ mỉ để tạo nên hương vị đặc trưng, không quá nặng mùi nhưng lại đậm đà, có chút vị mặn, ngọt, chua và cay.

Bún mắm nêm Gia Lai.

Gà nướng sa lửa là món ăn truyền thống của người dân tộc Gia Lai. Gà được tẩm ướp với lá é, ớt, sả và các gia vị rừng, sau đó nướng trên bếp than cho đến khi lớp da vàng giòn, bên trong thịt vẫn giữ được độ ngọt và dai. Món ăn này thường được thưởng thức cùng với cơm lam hoặc muối ớt xanh.

Gà nướng sa lửa.

Thịt bò nướng ống tre Đây là món ngon mà bạn không nên bỏ lỡ khi đến Tây Gia Lai du lịch. Khi thưởng thức món ăn này, bạn sẽ cảm nhận được hương vị tươi ngon, ngọt mềm của thịt bò, kết hợp với hương thơm quyến rũ của các loại rau rừng khiến món ăn càng trở nên hấp dẫn.

Lẩu lá rừng Gia Lai là món dân dã, tương tự các món lẩu thông thường nhưng điểm đặc biệt ở đây chính là các loại lá rừng thay vì các loại rau củ thường thấy. Món ăn này thường bao gồm 10 loại rau khác nhau của người dân bản địa. Tất cả các loại rau đều không có độc, không kỵ nhau và đặc biệt chứa rất nhiều chất dinh dưỡng cho sức khỏe. Khi ăn món đặc sản này, bạn sẽ cảm nhận được vị đắng, vị nồng cùng vị ngọt tự nhiên của các loại rau rừng vô cùng cuốn hút. 

Lẩu lá rau rừng.

Bò một nắng là một trong những món đặc sản tiêu biểu của vùng đất Tây Gia Lai, mang đậm dấu ấn của ẩm thực Tây Nguyên. Tên gọi “bò một nắng” bắt nguồn từ quá trình chế biến thịt bò: thịt được phơi một nắng vừa đủ để se lại, nhưng không quá khô, giữ được độ ngọt và mềm của thớ thịt. Sau đó, thịt được tẩm ướp các gia vị đặc trưng của vùng Tây Nguyên.

Đặc sản bò một nắng chấm muối kiến vàng.

Heo mẹt Heo mẹt là món ăn dân dã nhưng vô cùng phong phú với nhiều cách chế biến từ thịt heo như heo nướng, luộc, lòng, dồi… Món này thường được phục vụ trên mẹt lớn, kèm rau sống và nước chấm.

Muối kiến vàng Là một trong những đặc sản nổi tiếng và độc đáo của vùng đất Gia Lai. Được chế biến từ loài kiến vàng sống trên cây, kết hợp với nhiều loại gia vị tự nhiên, muối kiến vàng không chỉ mang lại hương vị lạ miệng mà còn được xem như một món quà quý giá, mang đậm nét đặc trưng văn hóa ẩm thực Tây Nguyên. Muối kiến vàng có thể dùng để chấm với nhiều món ăn khác nhau, tạo nên một hương vị độc đáo mà chỉ vùng đất Tây Nguyên mới có.

Muối kiến vàng.

Măng rừng là đặc sản chỉ có vào tháng 5 âm lịch ở Gia Lai. Vào thời điểm này là lúc măng rừng được thu hoạch, sơ chế theo nhiều cách khác nhau như sấy khô hoặc để tươi. Đây là món quà vừa dân dã vừa vô cùng đặc biệt, nếu có dịp ghé Gia Lai vào thời điểm này nhé!

Măng rừng tây nguyên.

Rượu cần Gia Lai là thức uống truyền thống nổi tiếng không chỉ bởi hương vị độc đáo mà còn bởi cách thưởng thức đầy bản sắc văn hóa của người dân vùng cao nguyên. Đây là loại rượu lên men tự nhiên, được uống qua các cần tre, thường có mặt trong các dịp lễ hội lớn, sinh hoạt cộng đồng và sự kiện quan trọng của người dân tộc. Trong những lễ hội này, rượu cần không chỉ là thức uống mà còn biểu tượng cho tinh thần đoàn kết, lòng hiếu khách và sự giao lưu văn hóa.

Hình ảnh thưởng thức rượu cần trong lễ hội.

Bánh khô mè Một trong những món ăn truyền thống, mang trong mình hương vị bình dị nhưng đậm chất quê hương. Món bánh này không chỉ nổi tiếng ở vùng đất Tây Nguyên mà còn được nhiều người yêu thích trên khắp cả nước. Khi thưởng thức bánh khô mè Gia Lai, bạn sẽ cảm nhận được độ giòn tan của lớp vỏ bánh, hòa quyện với vị ngọt thanh của mật mía và mùi thơm bùi của mè rang. Bánh khô mè mang lại cảm giác dễ chịu, không quá ngọt, không béo, rất phù hợp để nhâm nhi cùng trà nóng.

Cà phê Pleiku Tây Gia Lai nói riêng cũng như Tây Nguyên nói chung là nơi được thiên nhiên ưu ái, ban tặng đất đai màu mỡ, thích hợp trồng cà phê và các loại cây công nghiệp giá trị cao. Cà phê Pleiku là một trong những đặc sản thường được du khách mua về làm quà tặng. Cà phê có mùi vị đặc trưng, có vị đắng thanh lắng đọng ở đầu lưỡi.

Cà phê Pleiku.

Mật ong rừng Mật ong rừng Gia Lai là sản phẩm nguyên chất, cao cấp, nổi tiếng với hương vị thơm ngon đặc trưng từ hoa rừng Tây Nguyên (như hoa cà phê, hoa rừng tự nhiên) và không pha trộn. Mật có màu vàng nâu hổ phách, sánh đặc, giàu dưỡng chất, thường được khai thác từ ong khoái, ong ruồi tại các khu rừng nguyên sinh. Mật ong rừng mang lại nhiều tác dụng tốt cho sức khỏe, Là một trong những món quà vô cùng đặc biệt dành cho người thân và bạn bè.  Du khách sẽ rất thích thú khi thưởng thức ẩm thực tại Gia Lai, những món ăn đặc trưng địa phương, chỉ cần du khách có một lần cảm nhận ẩm thực nơi đây thì sẽ khó quên vùng đất này.

Tây Gia Lai có thế mạnh về di sản văn hóa, thiên nhiên, văn hóa Tây Gia Lai đậm đà bản sắc Tây Nguyên, là sự hòa quyện giữa nét hoang sơ, hùng vĩ của đại ngàn và bản sắc văn hóa lâu đời của các dân tộc bản địa, do đó càng có sức hút riêng. Cộng với sự kết nối những điểm du lịch như phố núi Pleiku, vùng Chư Păh, Ia Grai với Kon Tum  Măng Đen, Tây Quảng Ngãi để Du khách có thể trải nghiệm vùng đất Bắc Tây Nguyên với vẻ đẹp đặc trưng nhất.

khamphavietnam.com.vn Tổng Hợp

 

 

 

 

Những Tour Du Lịch Hot Ở Ninh Thuận

-7%
Thời gian: 1 ngày
Ngày khởi hành: Hàng ngày
Giá gốc là: 1.500.000 ₫.Giá hiện tại là: 1.400.000 ₫.
-7%
Thời gian: 1 ngày
Ngày khởi hành: Hàng ngày
Giá gốc là: 1.500.000 ₫.Giá hiện tại là: 1.400.000 ₫.
Thời gian: 1 ngày
Ngày khởi hành: Hàng ngày
Thời gian: 1 ngày
Ngày khởi hành: Hàng ngày

Những Tour Du Lịch Hot Ở Ninh Thuận