Giới thiệu chung

VÙNG TÂY NGUYÊN

Tây Nguyên một vùng đất với những cao nguyên xếp tầng đầy nắng và gió, những cánh rừng già xanh thẫm, nơi những con người mộc mạc chất phác cùng nhau sinh sống tạo nên một cộng đồng với nhiều nét văn hóa đặc sắc. Vùng đất Tây Nguyên với nhiều dân tộc anh em cùng nhau sinh sống như Bana, Ê đê, Gia Rai, K’ho, M’Nông,…mỗi dân tộc có những nét văn hóa riêng nhưng tổng thể vẫn có một sự thống nhất và hòa hợp với nhau. Các dân tộc ở Tây Nguyên sinh sống bằng nghề săn bắt, trồng trọt nương rẫy khác với nền văn minh lúa nước của các dân tộc sinh sống ở vùng đồng bằng.

A. Vùng Tây Nguyên ở đâu

Tây Nguyên khi xưa gồm 5 tỉnh, xếp theo thứ tự vị trí địa lý từ bắc xuống nam gồm Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng nay do sáp nhập địa giới hành chính Tây Nguyên gồm phần đất phía Tây các tỉnh Quảng Ngãi, Tây Gia Lai, Tây Đăk Lăk và Tây Bắc Lâm Đồng, với 47 dân tộc anh em cùng cư trú…

Bản đồ Vùng văn hóa Tây Nguyên

Tây Nguyên là vùng cao nguyên, nằm ở khu vực ngã ba biên giới Việt Nam – Lào – Campuchia, giáp Lào và Campuchia ở phía Tây, giáp với TP. Đà nẵng ở phía Bắc, chung các tỉnh vùng Duyên hải Nam Trung Bộ phía Đông, Đông Nam và giáp Đông Nam Bộ phía Nam. Tây Nguyên cùng với Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ hợp thành Miền Trung Việt Nam. Nền địa hình Tây Nguyên khá đa dạng, từ vùng núi cao đến các cao nguyên rộng lớn và các thung lũng với những cánh đồng trù phú… đã tạo cho nơi đây khí hậu trong lành, mát mẻ quanh năm, khí hậu ôn đới trong lòng nhiệt đới. Thiên nhiên ưu đãi với nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng, núi, cao nguyên, suối, thác nước… và hệ động thực vật hết sức phong phú.

B. Khí hậu Vùng Tây Nguyên

Mang đặc trưng của vùng nhiệt đới xavan, phân chia thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa thường kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào tháng 4, với tháng 3 và tháng 4 là hai tháng nóng và khô nhất trong năm. Mặc dù vậy, do địa hình cao nên nhiệt độ quanh năm ở Tây Nguyên thường mát hơn so với các khu vực gần biển. Ngay cả trong mùa khô nóng thì buổi tối ở Tây Nguyên cũng có thể cảm nhận chút se se lạnh.

Vùng Tây Nguyên lại có thể chia thành ba tiểu vùng địa hình, đồng thời là ba tiểu vùng khí hậu, gồm Bắc Tây Nguyên (tương ứng với vùng đất Kon Tum và Gia Lai cũ), Trung Tây Nguyên (tương ứng với vùng đất Đắk Lắk và Đắk Nông cũ), Nam Tây Nguyên (tương ứng với tỉnh Lâm Đồng cũ). Trung Tây Nguyên có độ cao thấp hơn và nền nhiệt độ cao hơn hai tiểu vùng phía Bắc và Nam. 

C. Cách đi đến Vùng Tây Nguyên

Để đi đến các tỉnh trong vùng Tây Nguyên du khách có thể đi bằng nhiều loại phương tiện khác nhau:

Đi máy bay du khách có thể đến các Sân bay ở Tây Nguyên như: Sân bay Pleiku – Gia Lai, Buôn Ma Thuột – Đăk Lăk hay Liên Khương – Đà Lạt. 

Đường bộ cả ở Hà Nội, Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng,…đều rất sẵn xe ô-tô khách và open bus đi Tây Nguyên. Nếu ở Hà Nội thì đến bến Giáp Bát, còn ở Sài Gòn thì ra bến xe Miền Đông.

Nếu đi xe máy để khám phá và chụp ảnh dọc đường bạn nên chuẩn bị kỹ lưỡng vì đường đi khá dài. 

– Từ Hà Nội khá xa, bạn nên chọn cách là đi ô-tô hoặc máy bay đến Tây Nguyên, sau đó thuê xe máy để phượt ở Tây Nguyên.

– Các bạn ở Huế, Đà Nẵng hay miền Trung đi bằng xe máy thì có thể đi theo tuyến quốc lộ 24 (từ Quảng Ngãi), 19,29 (từ Quy Nhơn), 26 (từ Nha Trang), 27 (từ Đà Lạt)…

– Các phượt thủ ở Sài Gòn thì có thể dễ dàng đến Tây Nguyên bằng xe máy, bởi khoảng cách chỉ có hơn 300 – 500km. Các bạn tham khảo một số tuyến đường nên đi: TP. Hồ Chí Minh – Buôn Ma Thuột – Pleiku – Kon Tum, Buôn Ma Thuột – Nha Trang – Đà Lạt. 

Khi đi nhớ mang đầy đủ giấy tờ và xăng dự trữ. Ngoài ra du khách còn có thể chọn xe riêng hay xe du lịch cho những chuyến đi theo nhóm hay cả gia đình.  

Đi du lịch Tây Nguyên theo tour du lịch đây là cách đi du lịch phổ biến và an toàn nhất, khách du lịch nên áp dụng, đặc biệt là khi đi theo đoàn. Nếu đi du lịch Tây Nguyên theo đoàn, giá tour sẽ tùy theo số ngày bạn tham quan du lịch.

D. Đôi nét về lịch sử, văn hoá Vùng Tây Nguyên

1. Sơ lược về lịch sử Tây Nguyên

Người tây Nguyên xưa Ảnh: TL

Tây Nguyên là một vùng lãnh thổ đặc thù của Việt Nam, không gian sinh tồn lâu đời của cộng đồng những tộc người dân tộc thiểu số nói 2 ngữ hệ Môn-Khmer và Malayo-Polynêsia, nằm ở trung tâm bán đảo Đông Dương. Do vị trí địa lý, vùng Tây Nguyên sớm có mối quan hệ giao lưu khá mật thiết với các vùng khác ở Việt Nam và các quốc gia khu vực Đông Nam Á.

Vùng đất Tây Nguyên từ xưa vốn là vùng đất tự trị, địa bàn sinh sống của các bộ tộc thiểu số, chưa phát triển thành một quốc gia hoàn chỉnh. Do đất rộng, người thưa, các bộ tộc thiểu số ở đây thỉnh thoảng trở thành nạn nhân trước các cuộc tấn công của vương quốc Champa hoặc Chân Lạp nhằm cướp bóc nô lệ.

Nhìn từ các nền văn hóa cùng tồn tại song song thời kỳ đầu Công nguyên cho thấy có mối liên hệ mật thiết văn hóa với các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, chứng tỏ đã có sự giao thương văn hóa một cách mạnh mẽ. Khi đó Tây Nguyên chịu sự ảnh hưởng bởi hai quốc gia hùng cường nhất thời bấy giờ là vương quốc Phù Nam ở châu thổ sông Mê Kông và vương quốc Lâm Ấp của người Chăm với địa giới từ Quảng Bình trở vào đến các tỉnh Duyên hải miền Trung, xuống tận các tỉnh Nam bộ ngày nay.

Khi hai vương quốc này hình thành cùng với việc mở rộng bờ cõi đã chịu sự phản kháng không nhỏ của những dân tộc bản địa Tây Nguyên. Một số dân tộc ở lại hòa huyết, còn một số dân tộc phía Nam Tây Nguyên (người M’nông) không chịu khuất phục, nên di chuyển vào sâu phía tây dãy Trường Sơn.

Đến thế kỷ 7, khi các vương quốc thực hiện lấn chiếm Tây Nguyên, một cuộc giao tranh lớn đã xảy ra giữa vương quốc Chân Lạp (thay thế Phù Nam) và vương quốc Chiêm Thành (hậu Lâm Ấp) nhằm giành thế chủ động ở khu vực các thung lũng sông Mê Kông, Sê San, sông Ba.

Với sự thắng lợi của vương quốc Chiêm Thành, các bộ tộc Tây Nguyên chịu sự thống trị của Chiêm Thành. Đến nay, còn nhiều di tích văn hóa và ngôn ngữ pha tạp của các dân tộc ở Bắc Tây Nguyên như Êđê, J’rai…với người chăm và chịu ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ để lại trên mảnh đất Tây Nguyên. Còn các dân tộc như M’nông tiến sâu vào dãy Trường Sơn, tuy cuộc sống lạc hậu nhưng trải qua thời gian họ ít bị ảnh hưởng của dòng văn hóa ngoại nhập.

Vào thế kỷ 7 đến thế kỷ 15, cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên hình hành nhà nước sơ khai với Pơtao Ia “vua nước” và Pơtao Apui “vua lửa” được xem như những người đứng đầu của xã hội Tây Nguyên. Với quyền lực mà cộng đồng trao cho, các “vua nước”, “vua lửa” có sức ảnh hưởng sâu rộng nhất của cả vùng.

Năm 1471, vua Lê Thánh Tông thân chinh đi đánh Chiêm Thành, phá được thành Đồ Bàn (vùng Bình Định cũ), bắt sống vua Champa là Trà Toàn, sáp nhập 3/5 lãnh thổ Champa thời đó vào Đại Việt. 2/5 Champa còn lại, được Lê Thánh Tông chia thành các tiểu quốc nhỏ thuần phục Đại Việt: Phần đất Phan Lung (Phan Rang ngày nay) do viên tướng Chăm là Bố Trì Trì trấn giữ, được vua Lê phong cho làm vương coi là phần kế thừa của vương quốc Chiêm Thành. Một phần đất nay là (Phú Yên cũ), Lê Thánh Tông cho phong vương tạo nên nước Hoa Anh. Vùng đất phía Tây núi Thạch Bi, tức miền bắc Tây Nguyên ngày nay thuộc phạm vi ảnh hưởng của Pơtao Apui (Vua Lửa, tức Hỏa Xá), Pơtao Ia (Vua Nước, tức Thủy Xá) cho phong vương các “vua nước, vua lửa” được lập thành nước Nam Bàn.

Từ giữa thế kỷ 16, người Lào tiến về phía Nam, đến sông Bla, gần Kon Tum, khu vực Bản Đôn, mang đến Tây Nguyên những dòng văn hóa mới lạ, văn hóa Tây Nguyên có nét tương đồng nhất định, ít nhiều chịu ảnh hưởng của văn hóa Lào và vùng Đông Bắc Thái Lan.

Sau khi Nguyễn Hoàng xây dựng vùng cát cứ phía Nam, các chúa Nguyễn ra sức loại trừ các ảnh hưởng còn lại của Champa và cũng phái một số sứ đoàn để thiết lập quyền lực ở khu vực Tây Nguyên. Các bộ tộc thiểu số ở đây dễ dàng chuyển sang chịu sự bảo hộ của người Việt, vốn không có thói quen buôn bán nô lệ.

Tuy nhiên, mục tiêu của các chúa Nguyễn nhắm trước đến các vùng đồng bằng, nên chỉ thiết lập quyền lực rất lỏng lẻo ở đây. Vì vậy các bộ tộc ở đây vẫn còn manh mún và trong một số tài liệu vào thế kỷ 16, 17 đã có những ghi nhận về các bộ tộc Mọi Đá Vách (Hré), Mọi Hời (Hroi, Kor, Bru, Ktu và Pacoh), Mọi Đá Hàm (Djarai), Mọi Bồ Nông (Mnong) và Bồ Van (Rhadé Epan), Mọi Vị (Raglai) và Mọi Bà Rịa (Mạ) để chỉ các bộ tộc thiểu số sinh trú ở vùng Nam Tây Nguyên ngày nay. 

Tuy sự ràng buộc lỏng lẻo, nhưng về danh nghĩa, vùng đất Tây Nguyên vẫn thuộc phạm vi bảo hộ của các chúa Nguyễn. Thời nhà Tây Sơn, rất nhiều chiến binh thuộc các bộ tộc thiểu số Tây Nguyên gia nhập quân Tây Sơn, đặc biệt với đội tượng binh nổi tiếng trong cuộc hành quân của Quang Trung tiến công ra Bắc xuân Kỷ Dậu (1789). 

Sang đến triều nhà Nguyễn, quy chế bảo hộ trên danh nghĩa dành cho Tây Nguyên vẫn không thay đổi nhiều, mặc dù vua Minh Mạng có đưa phần lãnh thổ Tây Nguyên vào bản đồ Việt Nam (Đại Nam nhất thống toàn đồ – 1834). Người Việt vẫn chú yếu khai thác miền đồng bằng nhiều hơn, đặc biệt ở các vùng miền Đông Nam Bộ ngày nay, đã đẩy các bộ tộc thiểu số bán sơn địa lên hẳn vùng Tây Nguyên (như trường hợp của bộ tộc Mạ).

Sau khi người Pháp nắm được quyền kiểm soát Việt Nam, họ đã thực hiện hàng loạt các cuộc thám hiểm và chinh phục vùng đất Tây Nguyên. Trước đó, các nhà truyền giáo đã đi tiên phong lên vùng đất còn hoang sơ và chất phác này.

Năm 1888, một người Pháp gốc đảo Corse tên là Mayréna sang Đông Dương, chọn Dakto làm vùng đất cát cứ. Ông ta thành lập Vương quốc Sedang có quốc kỳ, có giấy bạc, có cấp chức riêng và tự mình lập làm vua tước hiệu Marie đệ nhất. Sau chính phủ Pháp đã đưa công sứ Quy Nhơn lên “đăng quang” thay Mayréna. Sau đó năm 1898 thì vương quốc này cũng bị giải tán.

Năm 1891, bác sĩ Alexandre Yersin mở cuộc thám hiểm và phát hiện ra cao nguyên Lang Biang. Ông đã đề nghị với chính phủ thuộc địa xây dựng một thành phố nghỉ mát tại đây. Năm 1899, thực dân Pháp buộc vua Đồng Khánh ban dụ trao cho họ Tây Nguyên để họ có quyền tổ chức hành chính và trực tiếp cai trị các dân tộc thiểu số ở đây.

Năm 1900, Toàn quyền Paul Doumer đích thân thị sát Đà Lạt và quyết định chọn Đà Lạt làm thành phố nghỉ mát. Vùng đất cao nguyên Trung kỳ (Tây Nguyên) hoàn toàn thuộc quyền cai trị của chính quyền thực dân Pháp.

Khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, Tây Nguyên thuộc bộ phận của Nam Việt Nam. Đến khi cuộc Tổng tiến công mùa Xuân 1975, mở màn là chiến dịch Buôn Ma Thuột (ngày 10/3/1975) và kết thúc thắng lợi ngày 30/4/1975, đất nước hoàn toàn thống nhất, toàn dân tộc Việt Nam quy tụ về một mối, xây dựng quê hương, tạo nên sự đa dạng, phong phú về bản sắc văn hóa Việt. (từ Hà Anh; Mạnh Phong)

2. Nét văn hoá Tây Nguyên

Không gian văn hóa công chiêng Tây Nguyên.

Tây Nguyên có nhiều dân tộc thiểu số chung sống với dân tộc Kinh như Ba Na, Gia Rai, Ê đê, Cơ Ho, Mạ, Xơ Đăng, Mơ Nông… Chính quyền cũ gọi chung những dân tộc này là “đồng bào sắc tộc” hoặc “người Thượng”; “Thượng” có nghĩa là ở trên, “người Thượng” là người ở miền cao hay miền núi, một cách gọi đặc trưng để chỉ những sắc dân sinh sống trên cao nguyên miền Trung. Người Tây Nguyên có thói quen sinh sống trong các ngôi nhà sàn trên cao để tránh thú dữ tấn công, có những kiểu nhà sàn như Nhà dài Êđê, Nhà vòm M’Nông, Nhà sàn Jẻ Triêng…Đặc biệt là ngôi nhà Rông, đó được coi như linh hồn của làng, nhà Rông có chức năng như những ngôi đình của làng Việt. Là nơi gìn giữ tục lệ, nơi truyền lửa truyền thống của những vị tộc trưởng cho lớp trẻ của làng. Ngôi nhà Rông một biểu tượng linh thiêng thể hiện sức mạnh cũng như sự trường tồn của các dân tộc ở Tây Nguyên.

Nếu như nhà Rông là linh hồn của làng thì cồng chiêng chính là âm vang của núi rừng Tây Nguyên. Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã được Unesco công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Cồng chiêng được những dân tộc núi rừng Tây Nguyên sử dụng rất phổ biến hầu như dịp nào cũng thấy cồng chiêng góp mặt như dịp lễ hội, cưới xin, ma chay…tùy vào từng trường hợp mà họ đánh ra những bản cồng chiêng mang những âm điệu khác nhau.

Săn bắt và thuần dưỡng voi rừng là một nghề truyền thống của những dân tộc ở Tây Nguyên. Họ có những kĩ thuật và kinh nghiệm săn bắt voi rừng vô cùng nhuần nhuyễn. Mặc dù hiện nay không được phép săn bắt voi nữa tuy nhiên những kĩ thuật hay dụng cụ săn bắt voi vẫn còn được người dân lưu giữ bảo tồn rất tốt. 

Trang phục của các dân tộc ở đây có hai màu chủ đạo là màu đỏ và đen. Trang phục truyền thống của nam là mặc áo và đóng khố còn nữ thì mặc áo và váy. Những trang phục giản dị nhưng không kém phần tinh tế.

Con người Tây Nguyên có những lễ hội vô cùng độc đáo, có thể nói trên khắp cả nước không ở đâu tìm thấy những lễ hội đặc sắc như vậy. Và có hai lễ hội khá quan trọng với họ là lễ hội “Đâm trâu” và lễ “Bỏ mả”. Lễ hội đâm trâu được tổ chức nhằm đưa lễ vật tạ ơn với các vị thần đã bảo vệ dân làng và cầu cho một mùa màng bội thu. Còn lễ “Bỏ mả” là một nghi lễ tiễn đưa những người đã mất, theo quan niệm của họ chỉ khi thực hiện lễ  bỏ mả thì người chết mới hoàn toàn rời xa họ và đi đầu thai một kiếp khác còn trước đó thì họ vẫn sẽ hàng ngày mang cơm ra mộ của người chết dọn dẹp trông coi những ngôi mộ đó khi họ có đủ điều kiện làm lễ bỏ mả (phải đem một nửa tài sản của gia đình ra tổ chức lễ chiêu đãi những người trong làng), họ sẽ làm những tượng nhà mồ để giúp họ chăm sóc người thân đã mất bởi vì sau khi tiến hành lễ bỏ mả họ sẽ không còn đến thăm mộ nữa. Những lễ hội ở nơi đây đều mang yếu tố cộng đồng rất cao, họ rất chú ý đến sự đoàn kết của những thành viên trong làng và tổ chức lễ hội chính là cơ hội để gắn kết các thành viên.

Vùng đất Tây Nguyên với những giá trị văn hóa vô cùng độc đáo, những nét văn hóa đặc sắc của con người nơi đây luôn thu hút sự tò mò muốn khám phá của du khách thập phương. (từ H’Jăp)

E. Những Địa Danh Du Lịch nổi tiếng ở Tây Nguyên

1. Du Lịch Đà Lạt – Lâm Đồng 

Đến với du lịch Đà Lạt, du khách hẳn sẽ đắm chìm nhiều cảm xúc. Chắc bởi thế mà nơi đây có những cái tên người ta đã dùng để đặt cho Đà Lạt: Thành phố Ngàn hoa, Xứ sở tình yêu, thành phố buồn, thành phố mộng mơ, Xứ hoa đào…Thiên nhiên và con người Đà Lạt đi vào những áng văn thơ, những bức tranh ảnh, vào nghệ thuật, và trong tim mỗi người. Song dù có cố gắng miêu tả thế nào, chỉ khi tự mình đặt chân đến, bạn mới có những cảm nhận thật nhất của riêng mình.

Quảng trường Lâm Viên, trái tim của xứ sở Đà Lạt mộng mơ. Ảnh: St

Đà Lạt sở hữu khí hậu tuyệt vời. Không khí ở đây trong lành, mát mẻ, đến Đà Lạt bạn có thể trải nghiệm 1 ngày với 4 mùa: buổi sáng sớm là thời tiết của mùa xuân, buổi trưa là mùa hạ, buổi chiều là mùa thu, và đêm là mùa đông…. Do đó du lịch Đà Lạt không cần mùa, cần tháng. Đà Lạt lúc nào cũng đẹp, cũng mát dịu, cũng nên thơ. 

Thiên nhiên ưu đãi cho xứ sở Đà Lạt khí hậu ôn hòa, thiên đường của rất nhiều loài hoa. Trong đó hoa Dã Quỳ, hoa Mimosa hay hoa Đào là nổi tiếng nhất. Với các loài hoa rực rỡ trong nắng sớm hay lung linh ảo diệu trước hoàng hôn. Hoa có ở khắp mọi nơi, dọc con đường từ sân bay Liên Khương về trung tâm thành phố, men theo các triền đồi, những con đường dốc thoải dẫn tới khắp ngả đường xa trung tâm. Hiện nay, người Đà Lạt vẫn giữ được nhiều thói quen đẹp, ai ai cũng thích trồng hoa. Hoa có ở trước hiên nhà, ven đường, hay hoa mọc dại khắp nơi tạo cho Đà Lạt hình ảnh đẹp trong lòng du khách. Dưới đây là những điểm du lịch tiêu biểu làm lên vẻ đẹp của một Đà Lạt mộng mơ.

Hồ Xuân Hương được đánh giá là một trong số các hồ nước đẹp nhất của Việt Nam. Là hơi thở nồng nàn của Đà Lạt thơ mộng.

Quảng trường Lâm Viên có tổng diện tích lên tới hơn 70.000m2, mặt trước hướng ra Hồ Xuân Hương. Với vị trí đắc địa, không gian thoáng mát, cùng rất nhiều công trình kiến trúc độc đáo, quảng trường Lâm Viên Đà Lạt như điểm nhấn đầy ấn tượng của thành phố sương mù.

Vườn hoa Đà Lạt Đã nhắc tới Đà Lạt là phải nói đến một xứ sở vô vàn loài hoa. Với tất cả các loài hoa trong lẫn ngoài nước được tập trung ở đây, vườn hoa được ví như là một một vườn bảo tồn các loài hoa quý, là nơi để cho hàng trăm hàng ngàn các loài hoa thi nhau khoe sắc thắm..

Nhà thờ Con Gà hay còn gọi là Nhà thờ Chính Tòa Đà lạt, tên chính thức là nhà thờ chính tòa Thánh Nicôla Bari. Đây là một nhà thờ công giáo lớn nhất ở Đà Lạt, một trong những công trình kiến trúc tiêu biểu và cổ xưa nhất của thành phố được xây dựng từ thời Pháp thuộc.

Thung Lũng Tình Yêu Cách trung tâm thành phố Đà Lạt khoảng 6km về hướng Đông bắc thung lũng Tình Yêu bao gồm những ngọn đồi, thảm cỏ, tiểu cảnh và rừng thông quanh năm xanh biếc…, có hồ nước nơi đón những dòng suối bắt nguồn từ trên núi cao chảy xuống. Trên mặt hồ có cầu khóa tình yêu…Vào mỗi mùa hoa Mimosa nở ở Thung lũng Tình Yêu, đỉnh đồi Vọng Cảnh là vị trí đẹp nhất để ngắm hoa Mimosa và bao quát toàn cảnh hồ Đa Thiện cũng như Thung lũng Tình Yêu lãng mạn, hữu tình.

Trường Đại học Sư phạm Đà Lạt Nơi đây từng được biết đến là trường Grand Lycée Yersin, sở hữu một tác phẩm kiến trúc độc đáo được giới kiến trúc quốc tế đánh giá cao, ghi dấu ấn trong lịch sử xây dựng thế giới.

Nhà ga Đà Lạt Ga Đà Lạt nằm trên đường Quang Trung, cũng là nhà ga xe lửa duy nhất của khu vực Tây Nguyên. Ga Đà Lạt gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển đô thị “xứ ngàn thông”, được coi là nhà ga xe lửa cổ đẹp nhất Việt Nam và Đông Dương.

Hồ Tuyền Lâm Nằm cách trung tâm Đà Lạt khoảng 8km. Đây là hồ lớn nhất thành phố, được bao bọc bởi hệ thống rừng thông bát ngát dưới chân núi Phụng Hoàng. Hồ sở hữu nhiều ốc đảo nhỏ, cảnh sắc được mệnh danh là “Nam thiên đệ nhất hồ” hoang sơ và quyến rũ đến nao lòng. Ngoài ra, khu du lịch hồ Tuyền Lâm được xem là một trong những khu phức hợp tập trung nhiều cảnh đẹp, dịch vụ phong phú nhất Đà Lạt như du thuyền trên hồ, cắm trại, trekking chinh phục đỉnh núi Pinhatt, chèo thuyền, câu cá…hay thưởng thức đặc sản ẩm thực nơi này. 

Chùa Linh Phước hay còn gọi là chùa Ve Chai, đây là một trong những ngôi chùa linh thiêng và nổi tiếng ở Đà Lạt. Không chỉ là một địa điểm du lịch tâm linh, đến đây bạn còn được chiêm ngưỡng những công trình kiến trúc độc đáo được tô điểm bởi các mảnh sành, mảnh sứ. Đặc biệt trong đó có công trình 18 tầng địa ngục đầy huyền bí và mang nhiều ý nghĩa trong cuộc sống.

Thác Datanla Nằm cách trung tâm thành phố Đà Lạt khoảng 5km, thác Datanla tọa lạc giữ đèo Prenn, một trong những thác nước đẹp nhất Đà Lạt. Mang vẻ đẹp đặc trưng của thác nước núi rừng, nhưng không quá hoang dã.

Núi Langbiang Khu du lịch Langbiang sở hữu hai đỉnh núi cao nhất của cao nguyên Đà Lạt là Langbiang cao 2.167 mét và Bidoup cao 2.287 mét. Chính vì lẽ đó mà chúng còn được mệnh danh là nóc nhà của Đà Lạt. Ngoài ra, Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà gần đó cũng được đặt theo tên của những đỉnh núi này. Đây cũng là nơi sinh sống của một số nhóm dân tộc thiểu số lâu đời nhất từ Tây Nguyên. Một chuyến thăm đến một ngôi làng địa phương sẽ cho bạn cái nhìn sâu sắc về nền văn hóa độc đáo của họ. Du lịch Langbiang còn có các trải nghiệm như Trekking, Cắm Trại Trên Núi,…

Làng Cù Lần Một ngôi làng xinh đẹp, lãng mạn của người dân tộc K’Ho. Ngôi làng nằm nép mình bên rừng già nguyên sinh. Đây là một trong sáu ngôi làng cổ đẹp nhất tại Việt Nam. Địa chỉ làng Cù Lần Đà Lạt ở chân núi Lang Biang hùng vĩ. Làng Cù Lần là một địa điểm du lịch sinh thái độc lạ, làm nhiều người tò mò ngay từ cái tên. Cù Lần nghe có vẻ rất đáng yêu. Với những kiến trúc độc lạ được xây dựng từ người dân tộc đồng bào làm ra, mang đậm những nét văn hoá nhờ không gian gần gũi, gây ấn tượng mạnh không chỉ đối với những du khách mà cả những người nước ngoài.

Đồi chè Cầu Đất Nằm cách trung tâm Đà Lạt khoảng 25km, đồi chè Cầu Đất là một trong những điểm đến đầy thú vị và huyền ảo của Đà Lạt. Vùng đất này được mệnh danh là linh hồn của thành phố ngàn hoa bởi vẻ đẹp đầy huyền bí và ủy mị mà thiên nhiên ban tặng. Cũng chính vì vẻ ngoài đầy hấp dẫn này, đã có rất nhiều bạn trẻ lựa chọn nơi đây làm nơi chụp ảnh cưới kỷ niệm. 

Những điểm du lịch khác trong Thành Phố: Nhà thờ Domaine De Marie; Chợ đêm Đà Lạt; Đường hầm điêu khắc; Đồi Robin; Thiền viện Trúc Lâm; Vườn Ánh Sáng Lumiere; Vùng đất cổ tích Fairytale Land – Hầm rượu vang Vĩnh Tiến; Nông trại cún Puppy Farm; Langfarm Center – Nông Trại Cổ Tích; Fresh Garden Đalat; Làng hoa Vạn Thành; Que Garden Đà Lạt; biệt thự Hằng Nga; cánh đồng hoa Cẩm Tú Cầu,…

2. Du lịch Buôn Ma Thuột – Đăk Lăk

Buôn Ma Thuột đẹp nhất vào khoảng cuối tháng 11, vì đã qua mùa mưa, trời thu trong xanh và mát mẻ, thác vẫn còn nhiều nước. Những tháng đầu năm thời tiết cũng dễ chịu. Cuối tháng 2 đầu tháng 3 là mùa hoa cà phê, tháng 4 là mùa hoa pơ lang (hoa gạo) đỏ rực núi đồi, tháng 11 là mùa hoa dã quỳ. Ngoài ra còn có mùa hoa lau, muồng vàng, mai anh đào…

– Bảo tàng Đăk Lăk Tọa lạc trên đường Y Ngông trung tâm TP. Buôn Ma Thuột, là nơi du khách có thể tìm hiểu về xứ sở của voi và cà phê vùng Tây Nguyên. Công trình được thiết kế dựa theo kiến trúc nhà dài đặc trưng của cộng đồng người Ê-đê, dân tộc đông dân nhất ở Đăk Lăk. Bên trong bảo tàng lưu giữ và trưng bày khoảng 1.000 hiện vật giới thiệu về lịch sử, địa lý tự nhiên và văn hoá của các cộng đồng dân tộc bản địa như Ê-đê, Mnông, Gia-rai, Xơ-đăng, Giẻ Triêng, Mạ…

Bảo tàng Thế giới Cà phê một trong các địa điểm du lịch Đắk Lắk không thể bỏ qua. Nằm tại “thủ phủ cà phê” Buôn Ma Thuột, bảo tàng gồm 5 tòa nhà có hình khối uốn cong được lấy cảm hứng từ mái nhà rông truyền thống Tây Nguyên và nhà dài của người Ê đê. Đến với nơi này, bạn sẽ hiểu hơn về lịch sử cà phê, văn hóa uống cà phê và thưởng thức đồ uống phổ biến thứ 2 thế giới này. Đặc biệt, không gian bảo tàng cũng lưu giữ rất nhiều hiện vật được vận chuyển từ bảo tàng Jens Burg (Đức) về.

– Làng Cà phê Trung Nguyên Đây không chỉ là địa điểm mua cà phê nổi tiếng mà còn được thiết kế như một công viên thu nhỏ. Bạn có thể không cần mua bất cứ sản phẩm nào, không cần uống nước trong quán mà vẫn có thể tham quan quần thể này miễn phí. Các khu tiểu cảnh được thiết kế đẹp mắt, hoành tráng như các thác nước lớn, cầu, suối, ao hồ, nhà sàn… với khách du lịch ra vào tấp nập.

– Khám Phá Buôn Đôn – Đắk lắk Cách TP Buôn Ma Thuột hơn 50 km về phía Tây Bắc, khu du lịch Buôn Đôn là điểm đến hút nhiều du khách trong và ngoài nước. Buôn Đôn là một ngôi làng nhỏ có sự đa dạng các đồng bào dân tộc thiểu số đã tạo nên một nền văn hóa bản địa vô cùng sâu sắc. Nơi đây được gọi là “lãnh địa” voi của Tây Nguyên nổi tiếng với truyền thống săn bắt, thuần hóa và nuôi dưỡng voi rừng. Tại Buôn Đôn, bạn sẽ nghe kể chuyện về những nài voi, tham quan những ngôi nhà rông theo kiến trúc truyền thống Tây Nguyên cổ của người Ê Đê và M’Nông cùng với văn hóa cồng chiêng, trải nghiệm cầu treo ở Buôn Đôn xuyên tán cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi, dài gần 1km được làm chủ yếu từ tre nứa, là nơi nhiều du khách thích thú trải nghiệm cảm giác lắc lư khi băng qua.

Hội voi Buôn Đôn – lễ hội những chú voi. Ảnh: Tuấn Hải

Nằm trong quần thể khu du lịch Bản Đôn có Nhà sàn cổ Vua Voi hơn 130 năm tuổi. Ngôi nhà được xây dựng theo kiến trúc của Lào và điều đặc biệt là được làm hoàn toàn bằng các loại gỗ tốt. Du khách sẽ được tìm hiểu thêm về cuộc đời săn bắt và thuần dưỡng voi của Khun Yu Nốb, người được mệnh danh là Vua Voi với hơn 400 con voi săn bắt được. Thăm mộ Vua Voi có kiến trúc M’nông và Lào do chính vua Bảo Đại cho người sưu tầm kiểu dáng và xây dựng để cảm tạ về con voi trắng mà vua voi tặng cho ông và công xây dựng đội tượng binh.

Thác Dray Nur – Thác Dray Sáp Huyền thoại Sêrêpôk tạo ra những dòng thác đẹp như Dray Sap, Dray Nur, Gia Long, Trinh Nữ, Bảy Nhánh, Krong Kmar, Bìm Bịp… Dray Nur cách Buôn Ma Thuột 23km, được xem là thác nước hùng vĩ nhất Tây Nguyên.

Những điểm du lịch nổi tiếng khác ở TP. Buôn Ma Thuột Tượng đài Chiến Thắng Buôn Mê Thuột, Nhà Thờ Chánh Tòa, Biệt điện vua Bảo Đại, chùa Khả Đoan, Buôn Cô Thôn, Khu du lịch KoTam,…cũng vô cùng nổi tiếng với du khách gần xa.

3. Du lịch Pleiku – Gia Lai

Pleiku nhìn chung mùa nào cũng đẹp, nhưng từ tháng 11 năm trước cho đến tháng 4 năm sau là mùa khô, đây được xem là thời điểm lý tưởng nhất để đi du lịch Pleiku. Tháng 11 và 12 là lúc trời trong nắng vàng tràn ngập bởi sắc vàng của lúa chín, của hoa dã quỳ nở rộ là thời điểm lý tưởng để cho ra những bộ ảnh siêu xịn. Từ khoảng tháng 2 đến tháng 4, đất trời phố núi được bao phủ một màu trắng tinh khôi của bạt ngàn hoa cà phê.Cuối năm là thời điểm diễn ra các lễ hội truyền thống của đồng bào dân tộc như lễ mừng lúa mới, lễ ăn cơm mới, liên hoan cồng chiêng, lễ hội cúng làng, lễ hội đâm trâu… Nếu muốn trải nghiệm văn hóa của người bản địa, bạn cũng có thể đi du lịch Pleiku Gia Lai đúng dịp diễn ra các lễ hội này để thưởng thức trọn vẹn vẻ đẹp tại đây.

– Quảng Trường Đại Đoàn Kết Là nơi giao lưu, gặp gỡ của người dân, địa điểm tham quan của khách du lịch còn là trung tâm văn hóa, nghệ thuật của tỉnh, thu hút vô vàn người tham gia. Vào những dịp lễ, Tết, nơi đây lại diễn ra nhiều hoạt động, lễ hội đặc sắc, mang đến cho du khách cơ hội hòa mình vào không khí sôi động, nhộn nhịp, đồng thời trải nghiệm những nét văn hóa độc đáo của vùng đất, người dân Tây Nguyên.

Biển hồ T’ Nưng Viên ngọc bích giữa mênh mông đất đỏ Tây Nguyên. Nhắc đến phố núi Pleiku, du khách thường nhắc đến vẻ đẹp của Biển Hồ. Biển hồ T’Nưng rộng lớn nằm ở phía bắc thành phố Pleiku. Đây vốn là một hồ nước tự nhiên được hình thành nhờ vào 3 miệng núi lửa cổ thông với nhau từ ngày xưa, tạo thành 3 phễu trũng. Miệng hồ vốn là miệng núi lửa nhô cao nên dù đứng từ xa cũng có thể nhìn thấy rất rõ. Đường dẫn vào hồ là một con đường cực đẹp và thơ mộng, hai bên đường là hàng cây thông già lâu năm tỏa bóng mát. Sáng sớm khi sương chưa tan hết, du khách sẽ có cảm giác lạc vào cõi tiên mơ mộng, huyền ảo. Khi hoàng hôn dần buông, ráng chiều nhuộm đỏ lòng hồ, cảnh tượng vô cùng bình yên, thanh bình. Muốn trải nghiệm biển hồ T’Nưng một cách trọn vẹn nhất, hãy ngồi trên con thuyền độc mộc và lướt trên mặt hồ. Thuyền sẽ đưa bạn vào sâu hơn, len lỏi vào trong rừng già để thấy được sự độc đáo, kỳ vĩ của cảnh quan hồ giữa núi.

Biển Hồ Pleiku – Viên ngọc bích Vùng Đất Đỏ. Ảnh: CDLQG Việt Nam 

Núi lửa Chư Đăng Ya Chư Đăng Ya dịch theo tiếng địa phương có nghĩa là “Củ gừng dại”. Đây là một ngọn núi lửa đã ngừng hoạt động hàng triệu năm nằm tại làng Ia Gri, cách TP Pleiku khoảng 30km về phía bắc. ngọn núi lửa mang tên Chư Đăng Ya là một địa điểm vô cùng độc đáo và ẩn chứa nhiều nét thơ mộng đầy quyến rũ. Thời điểm cuối tháng 10,11 cả ngọn núi sẽ hóa màu vàng rực bởi những thảm dã quỳ khổng lồ. Dã quỳ nhuộm vàng từ đường vòng chân núi, đường lên núi, những triền hoa bên miệng núi…Núi lửa Chư Đăng Ya là sự hội tụ của rất nhiều vẻ đẹp cộng lại để tạo thành một Chư Đăng Ya kiêu sa và quyến rũ trong mắt du khách.

Biển Hồ C Huyền ảo trong màn sương trắng, nằm trên bờ bắc của Biển Hồ. Biển Hồ Chè là tên gọi người dân Pleiku đặt tên cho nơi đây, là sự kết hợp giữa hồ nước biếc và nương chè bạt ngàn. Đây cũng chính là đồn điền chè đầu tiên của người Pháp ở Gia Lai, hình thành từ những năm 20 thế kỷ trước. Mang một vẻ tuyệt mỹ của những cánh đồng, những nét bình yên đến kinh ngạc hay các khung cảnh hùng vĩ của Biển Hồ Chè sẽ làm cho rất nhiều người cảm thấy thật sự ấn tượng.

Hàng thông cổ thụ hơn trăm tuổi, khung cảnh đẹp như tranh ở phố núi Gia Lai Giữa Biển Hồ Chè có khung cảnh thơ mộng, đẹp như tranh vẽ. Con đường quê kéo dài gần 1km với hàng thông cổ thụ đứng sừng sững dọc hai bên trở thành địa điểm check-in yêu thích của các bạn trẻ, từng được nhắc đến trong bài hát “Đôi mắt Pleiku” của nhạc sĩ Nguyễn Cường và cũng được nhiều bạn trẻ ưu ái gọi tên là “con đường Hàn Quốc”, “con đường tình yêu”. 

Nơi đây còn có ngôi Bửu Minh Cổ Tự Đây là một trong những ngôi chùa nổi tiếng ở Tây Nguyên do sự yên bình từ khung cảnh. Tháp chùa trang nghiêm, quanh năm đứng giữa bốn bề là những đồi chè xanh hút mắt. Mặt chùa hướng Tây nhìn về phía nam hồ T’Nưng, “gối đầu” vào núi Tiên Sơn, xa xa phía sau chùa là núi lửa Chư Đăng Ya. Đây chính là vị trí địa lý và phong thủy tốt để cho mạch đạo của ngôi chùa được tuôn chảy, luân lưu. Dẫn lối vào chùa chính là hàng thông trăm tuổi quanh năm u tịch, thơ mộng nghiêng mình bên mái chùa thiêng.

Chùa Minh Thành Với kiến trúc phảng phất hơi thở của xứ Phù Tang, mang những mái chóp uốn cong điển hình là một địa điểm du lịch không nên bỏ qua nếu bạn đến Pleiku. Tọa lạc ở số 348 đường Nguyễn Viết Xuân, chùa Minh Thành ngôi chùa chịu ảnh hưởng từ phong cách kiến trúc Trung Quốc và Nhật Bản. Lối kiến trúc đó đã làm bức tranh ngôi chùa thêm phần lộng lẫy, kiêu sa nhìn từ xa giống như một cung điện thu nhỏ nơi phố núi mù sương Pleiku. 

Nhà Tù Pleiku Địa điểm du lịch Gia Lai hot nhất dành cho những ai muốn tìm hiểu lịch sử – văn hóa. 

4. Du lịch sinh thái Măng Đen – Quảng Ngãi Từ thành phố Kon Tum xuôi theo đường 24 về phía Đông khoảng 50km, du khách sẽ đặt chân đến khu du lịch sinh thái Măng Đen nằm trên địa phận huyện Kon Plong(cũ). Măng Đen được ví như là thiên đường sinh thái – nàng thơ của vùng Kon Tum (Tây Nguyên Quảng Ngãi). Nơi này có độ cao hơn 1200m so với mực nước biển. Khí hậu ôn đới nên quanh năm mát mẻ, khí trời se lạnh. Được rừng nguyên sinh bao bọc, hệ động thực vật phòng phú. Con đường ở đây quanh co khúc khuỷu, hai bên là những rặng thông xanh ngát. Mùi hoa rừng toả hương ngào ngạt. Nhiều người lựa chọn nơi đây là nơi nghỉ dưỡng của mình. Với khí hậu mát mẻ quanh năm cùng với nhiều suối đá, hồ thác, rừng thông cùng các cảnh quan hấp dẫn, nơi đây được mệnh danh là Đà Lạt thứ hai của Việt Nam.

Khi đến Măng Đen, du khách còn được tham quan tượng Đức Mẹ Sầu Bi – Ngày 12 đến 15/9 hàng năm đã trở thành ngày hành hương Đức Mẹ Măng Đen của giáo phận Kon Tum, thu hút đông đảo giáo dân tham dự; Khám phá thác Đa Sỹ, bức tranh thủy mặc giữa lòng thiên nhiên Măng Đen; Làng du lịch Kon Pring; Hồ Đak Ke,…

5. Những điểm du lịch nổi tiếng khác vùng Tây Nguyên

Vườn Quốc Gia Bidoup Núi Bà – Lâm Đồng Nằm giữa lòng Tây Nguyên được ví như một ốc đảo xanh mát. Rừng thông bạt ngàn cùng với không gian yên bình, nguyên sơ đã tạo nên một bức tranh thiên nhiên hùng vĩ và đầy mê hoặc. Đến với Vườn Quốc Gia Bidoup Núi Bà với những cung trekking du khách sẽ được đắm chìm trong bầu không khí trong lành, khám phá những khu rừng nguyên sinh và tận hưởng những phút giây thư giãn tuyệt vời. 

Chùa Linh Ẩn Là một trong những địa điểm du lịch nổi tiếng bậc nhất ngoại ô Đà Lạt. Cách trung tâm thành phố khoảng 30km, chùa Linh Ẩn là một ngôi chùa linh thiêng tọa lạc giữa vùng núi rừng hùng vĩ, Phía trước chùa là thác Voi – một dòng nước chảy suốt ngày đêm. Với kiến trúc truyền thống và không gian yên bình, tĩnh lặng đặc trưng, ngôi chùa không chỉ là một nơi linh thiêng thu hút các tín đồ tôn giáo mà còn là điểm đến vô cùng hấp dẫn cho du khách trong và ngoài nước đến tìm kiếm sự thanh tịnh và bình an trong tâm hồn.  

Chùa Linh Quy Pháp Ẩn Chùa Linh Quy Pháp Ấn nằm ẩn hiện trên ngọn đồi 45, xã Lộc Thành (cũ), Thành phố Bảo Lộc, Lâm Đồng. Phong cảnh nơi đây được ví như chốn bồng lai tiên cảnh thanh tịnh, yên bình vô cùng. Thiên nhiên khí hậu hài hòa tươi mát được bao bọc bởi cây cối xanh tốt nhưng đường lên chùa không phải lúc nào cũng dễ dàng. 

Thác Dambri Thác Dambri là thác nước cao nhất tỉnh Lâm Đồng, nằm cách thành phố Bảo Lộc 18km về hướng Đông Bắc. Đến đây, bạn sẽ không khỏi ngẩn ngơ trước vẻ đẹp kỳ vĩ. Của dòng thác mà thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất này.

Tà Năng Đồi Cỏ Và Rừng Tà Năng vùng Đức Trọng Có thể được xem là một kỳ quan thiên nhiên nằm giữa lòng vùng đất Tây Nguyên hùng vĩ. Đây không chỉ là một điểm đến cho những ai yêu thích du lịch mạo hiểm, mà còn là nơi lý tưởng cho những ai muốn tìm về bản sắc thiên nhiên, tận hưởng không gian yên bình và tĩnh lặng. Hơn nữa, bạn còn được lạc bước giữa những thung lũng và ngắm nhìn những dòng suối róc rách cùng tiếng ca líu lo của các loài chim rừng. Cung đường trekking Tà Năng – Phan Dũng Cung đường trekking đẹp nhất Việt Nam.

Khách du lịch treckking Tà Năng – Phan Dũng Ảnh: Phạm Duy

Thác Pongour Nằm cách trung tâm thành phố Đà Lạt khoảng 50km, thác Pongour thuộc địa phận huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. Đây là ngọn thác đẹp và hùng vĩ bậc nhất Tây Nguyên. Thác đổ từ độ cao gần 40m, trải rộng hơn 100m qua hệ thống đá bậc thang nhiều tầng. Bao quanh thác là thảm thực vật vô cùng phong phú, đa dạng. Vào thế kỷ trước, khi ghé thăm thác Pongour ở Đà Lạt, nhà vua Bảo Đại đã đặt biệt danh cho ngọn thác này là “Nam thiên đệ nhất thác” nghĩa là thác nước hùng vĩ nhất trời Nam.

Những điểm du lịch khác vùng Lâm Đồng (cũ) còn có rất nhiều điểm du lịch nổi tiếng với du khách trong và ngoài nước khác như, Vườn Thú ZooDoo Đà Lạt, Hồ Đại Ninh, Thác Bảo Đại, Thác BoBla, Khu du lịch rừng Madagui – Nam Cát Tiên…

Vườn Quốc Gia Tà Đùng Có tổng diện tích tự nhiên hơn 20.000ha thuộc Đắk Nông (cũ). Vùng đệm có diện tích gần 25.000ha, thuộc Đắk Nông và Lâm Đồng (cũ). Với nhiều loài động thực vật hoang dã tự nhiên quý hiếm. Vườn quốc gia Tà Đùng được đánh giá là điểm đến hấp dẫn, lý tưởng cho khách du lịch với nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ vĩ…Những du khách yêu thiên nhiên, ưa mạo hiểm có thể chinh phục đỉnh Tà Đùng – điểm cao nhất trong dãy núi thuộc Vườn quốc gia Tà Đùng, độ cao 1.982m so với mực nước biển với đặc trưng là nơi phân bố của loài Chè cổ thụ.  

Điểm nhấn của Vườn Quốc gia Tà Đùng chính là hồ Tà Đùng, lòng hồ có diện tích rộng gần 5.000 ha mặt nước với hơn 40 hòn đảo và bán đảo lớn nhỏ tạo nên cảnh quan thiên nhiên vô cùng độc đáo, vẻ đẹp nguyên sơ, quyến rũ. Vùng đệm Vườn quốc gia còn là nơi sinh sống của gần 40 dân tộc với nhiều nét văn hóa truyền thống đặc trưng riêng.

Khám phá công viên địa chất toàn cầu vùng Đắk Nông Công viên địa chất Đắk Nông có diện tích hơn 4.700km2, nằm trải dài trên địa bàn 6 huyện, thị xã của tỉnh Đắk Nông (cũ), có khoảng 65 điểm di sản địa chất, địa mạo, bao gồm hệ thống gần 50 hang động với tổng chiều dài hơn 10.000m, các miệng núi lửa, thác nước…, trong đó có 7 điểm di sản địa chất tầm quốc tế. Nơi đây từ lâu đã nổi tiếng là một vùng đất đỏ trù phú với hệ sinh thái rừng nhiệt đới, nơi lưu trữ các giá trị đặc trưng về đa dạng sinh học cùng với nhiều nét độc đáo về văn hóa, địa chất, tự nhiên cũng như dấu tích hoạt động của người tiền sử.
Công viên Địa chất Đắk Nông nằm giữa vùng đất có bề dày lịch sử văn hóa với những giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể. Với Không gian Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, Sử thi Ót N’drong. Khu Bảo tồn thiên nhiên Nam Nung, Vườn Quốc gia Tà Đùng, Rừng đặc dụng, cụm thác Đ’ray Sáp,Trinh Nữ, Gia Long và Vườn Quốc gia Yok Đôn (Đắk Lắk)…Du khách đến với Công viên Địa chất Đắk Nông là đến với “xứ sở của các âm điệu” với 3 tuyến du lịch độc đáo “Trường ca của Lửa và Nước”, “Bản giao hưởng của Làn gió mới” và lắng nghe“Âm vang từ Trái Đất”.

– Quần thể hang động Núi Lửa Chư Blúk Nằm ở Krông Nô, tỉnh Đắk Nông (cũ). Bên trong có hệ thống hơn 100 hang động lớn nhỏ được tạo thành nhờ dòng chảy nham thạch cách đây hàng triệu năm. Ẩn mình trong lớp đá bazan, hệ thống hang động núi lửa dài nhất Đông Nam Á này dài 25km từ miệng núi lửa ở buôn Choar dọc theo chiều dài sông Sêrêpôk đến khu vực thác Đray Sáp. Đây là địa điểm nguy hiểm, thích hợp cho những bạn yêu thích khám phá.

Nhà triển lãm âm thanh Được mệnh danh là xứ sở của những âm điệu, Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông có tổng số 44 điểm đến. Trong đó, Nhà triển lãm âm thanh (hay còn gọi là Bảo tàng âm thanh) là điểm đến số 32, nằm trong lòng TP. Gia Nghĩa. Là nơi hội tụ những âm thanh với các chủ đề khác nhau được hình thành bởi ý tưởng của Tiến sỹ Guy Martini, thiết kế, thi công bởi nhóm nghệ sỹ đến từ Pháp.

Dãy núi lửa Nâm Kar Dãy núi lửa Nâm Kar được hình thành từ 3 núi lửa gồm một nón than chính và hai nón than phụ. Nón than chính cao 60m, đường kính 220m, miệng sâu khoảng 20m tính từ đỉnh núi, có hình dạng oval điển hình. Ngọn núi có độ cao 660m so với mực nước biển, được cấu tạo chủ yếu từ xỉ, mỗi viên xỉ có đường kính vài centimet. Đồng bào M’Nông ở nơi đây vẫn còn lưu truyền những câu chuyện huyền bí về sự tích hình thành núi lửa Nâm Kar, với ý nghĩa giáo dục, nhắc nhở con cháu không xâm hại tài nguyên thiên nhiên.

Dãy núi lửa Nâm Kar. Ảnh: Dak Nong UNESCO Geopark

Thác Đắk G’Lung Khu du lịch sinh thái thác Đắk G’lun cách thành phố Gia Nghĩa khoảng 50km hướng Tây Bắc. Thác Đắk G’lun được bao bọc bởi hơn 1.000ha rừng đặc dụng với hệ sinh thái đa dạng và phong phú. Với độ cao gần 60m, nước từ trên cao đổ xuống tung bọc trắng xóa, dưới chân thác là hàng vạn tảng đá núi nhấp nhô muôn hình, muôn vẻ tạo cho thác Đắk G’lun một khung cảnh hùng vĩ, nên thơ.

Những điểm du lịch nổi tiếng khác vùng Đk Nông du khách còn có rất nhiều điểm tham quan khám phá nổi tiếng như: Thiền viện trúc lâm Đạo Nguyên, Chùa Pháp Hoa, Chợ phiên Đăk R’Măng của người Mông, Đồi 722 – Đăk Săk, Nhà trưng bày vật dụng truyền thống người Mạ, Buôn cổ của người Ê Đê. Hồ Ea Snô, Hồ Tây Đăk Mil, thác Granite, Khu bảo tồn thiên nhiên Nâm Nung, Thác 7 tầng Leng Gung, Thác Liêng Nung, Thác Năm Tầng Đăk Sin, Thác Lưu Ly, thác 71 Đắc G’lung, Thác già làng xã Đăk Wer, Đăk R’Lấp…

Hồ Lăk – Đắk Lắk Là hồ nước ngọt tự nhiên lớn thứ hai Việt Nam sau hồ Ba Bể. Hồ được bao bọc bởi dãy núi lớn Chư Yang Sin và những cánh rừng nguyên sinh. Nổi bật nhất ở hồ Lăk là thuyền độc mộc, hoạt động thú vị nhất ở đây là tour chèo thuyền quanh hồ ngắm cảnh quan, bơi lội. Ngoài ra, bạn có thể ghé buôn Jun hoặc buôn M’Liêng, nơi sinh sống của phần lớn đồng bào người M’Nông. Quanh hồ còn có hai di tích kiến trúc cho khách tham quan là nhà dài người M’Nông và biệt điện của vua Bảo Đại.

Vườn quốc gia Chư Yang Sin Đắk Lắk có phong cảnh ngoạn mục với hơn 40 ngọn núi cao thấp khác nhau, đan xen, trùng điệp. Dãy Chư Yang Sin chia vườn thành hai khu Bắc – Nam là dãy núi cao nhất, với đỉnh cao 2.442m. Đỉnh Chư Yang Sin được mệnh danh là nóc nhà thứ hai của Tây Nguyên, sau đỉnh Ngọc Linh ở tỉnh Kon Tum. Hành trình chinh phục Chư Yang Sin cần ít nhất 3 ngày 2 đêm. 

Vườn quốc gia Yok Don Nằm về phía Tây Bắc Buôn Mê Thuật, lại là một trong những khu bảo tồn tự nhiên lớn nhất của Việt Nam, nơi sinh sống của nhiều loài thú lớn như bò rừng, bò tót, trâu rừng, voi, khỉ, vượn, hổ, báo, công, gà lôi,… Đây còn là nơi lưu giữ nhiều giá trị văn hóa đặc sắc của các dân tộc Tây Nguyên như Ê đê, M’Nông…Khi đến với Yok Đôn bạn sẽ trải nghiệm leo núi, khám phá hệ sinh thái, thử tài huấn luyện voi và tìm hiểu về bản sắc văn hóa của Tây Nguyên, vì vậy bạn hãy thử ngay một lần đến Yok Đôn để có thể trekking, đi thuyền độc mộc ngay tại khu rừng đặc dụng lớn nhất của Việt Nam này.

Những điểm du lịch nổi tiếng khác ở Tây Nguyên Đk Lk Thác Krông Kmar, Cánh đồng quạt gió Dlieyang, Thuỷ điện Buôn Trấp, Tháp Chàm Yang Prong…cũng vô cùng nổi tiếng với du khách gần xa.

Thác Phú Cường – Gia Lai Chảy trên nền nham thạch của một ngọn núi lửa đã ngưng hoạt động. Dòng thác cao khoảng 45m, tung bọt trắng xóa vắt qua nền trời xanh quyến rũ lòng người. Làn hơi nước bốc lên từ dòng thác hòa cùng những tia nắng mặt trời chiếu qua vách đá tạo nên những dải cầu vồng bảy sắc huyền ảo mê hoặc.

Khu bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng – Gia Lai Nơi đây tọa lạc trên hai vùng phía Đông và Tây của dãy Trường Sơn hùng vĩ cùng với sự sở hữu hệ sinh thái vô cùng đa dạng và rừng rậm bao phủ bao quanh hoàn toàn. Khu bảo tồn thiên nhiên chứa đựng khoảng hơn 800 loài thực vật bậc cao với 18 loài khác nhau thuộc trong sách đỏ của Việt Nam và 7 loài thuộc trong sách đỏ của thế giới. Ngoài ra, hệ động vật tại nơi đây cũng đa dạng không kém với 392 loài khác nhau với nhiều loài động vật có tên trong sách đỏ như voọc chà vá chân xám, vượn má hung hay mang Trường Sơn.

Thác K50 Kỳ vĩ, đầy mê hoặc là những gì ngọn thác K50 (hay còn gọi là thác Hang Én) đem lại cho những phượt thủ sau quãng đường trekking đi tìm “nàng tiên của rừng thiêng” trong chốn hoang sơ, kỳ bí ở nơi “rừng thiêng nước độc” thuộc khu bảo tồn Thiên nhiên Kon Chư Răng, Gia Lai.

– Tây Nguyên Gia Lai còn nhiều địa điểm du lịch nổi tiếng khác như, Thuỷ điện Ialy, Hố Trời An Khê, Núi Hàm Rồng, Thác Xung Khoeng, thác Chín Tầng, Vườn quốc gia kon Gia kinh,…

Nhà Thờ Gỗ – Kon Tum, Quảng ngãi Nằm ở đường Nguyễn Huệ, thành phố Kon Tum, Nhà Thờ Gỗ nằm giữa rừng xanh cao nguyên bạt ngàn, giữa mây trời Kon Tum, mang một vẻ đẹp mộc mạc mà ấn tượng vô cùng. Nhà thờ được làm hoàn toàn bằng gỗ cà chít, xung quanh là những bức tường được làm bằng đất trộn rơm. Với sự khéo léo, tỉ mỉ, những người nghệ nhân đã tạo nên những hoa văn trang trí với đường nét mạnh mẽ, phóng khoáng mang đậm nét văn hoá của đồng bào Tây Nguyên.

Người dân làng Kon Kơ Tu dệt thổ cẩm bên nhà Rông

Làng du lịch Kon K’Tu vùng Kon Tum xã Đăk Rơ Wa là một làng cổ của người dân tộc Bahnar, có cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, giữ được nét kiến trúc mang đặc trưng riêng của người Bahnar, là vùng đất lưu giữ, bảo tồn nhiều giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc của người dân tộc Bahnar mà không phải làng nào cũng có được. Những ngôi nhà sàn truyền thống được xây dựng vây quanh ngôi nhà Rông truyền thống. Nhà thờ Kon K’Tu được xây dựng với chất liệu hoàn toàn bằng gỗ, mang phong cách kết hợp giữa kiến trúc Châu âu và bản sắc văn hóa truyền thống của người Bahnar…

Những điểm du lịch nổi tiếng khác khi đến vùng Kon Tum có những điểm du lịch nổi tiếng khác như nhà rông Kon Klor, vườn quốc gia Chư Mom Ray, thác Pa Sỹ, núi Ngọc Linh, Toà Giám Mục, chùa Bác Ái, cầu treo Kon Klor, ngục Kon Tum, ngã ba Đông Dương hay sông Đắk Bla yên bình,…

F. m thực Vùng Tây nguyên

Nói đến ẩm thực Tây Nguyên, người ta sẽ nghĩ ngay những món dân giã với cách chế biến độc đáo đậm chất miền núi. Ẩm thực, con người cùng những phong tục, tập quán riêng giữa núi rừng hùng vĩ và các đồi cà phê bạt ngàn là điểm thú vị thu hút du khách trên mọi miền tổ quốc. Ẩm thực Tây Nguyên đi kèm với các lễ hội truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc là một trong những điểm mời gọi du khách. Những nét đặc trưng khiến bạn bất ngờ về ẩm thực Tây Nguyên mà ai đến đây cũng ấn tượng và nhớ mãi không nguôi.

1. Cơm ống – Dân giã mà ngon đến lạ thường Lúa gạo cũng là nguồn thực phẩm chính của người Tây Nguyên. Ngoài những cách nấu cơm thông thường thì dựa vào điều kiện địa lý, khí hậu và tính chất công việc, người dân Tây nguyên cõn nghĩ ra hình thức nấu cơm ống hay còn gọi là cơm lam.

2. Canh thụt – Món ngon độc đáo đậm đà hương vị rừng núi Canh thụt là món ăn rất đặc biết có nguồn gốc từ dân tộc M’Nông. Đây là một trong những đặc sản mang đậm hương vị và thể hiện bản sắc văn hóa của đồng bào Tây Nguyên. Món được đặt tên là canh thụt bởi cách chế biến độc đáo của nó. Tất cả các nguyên liệu sẽ được thụt vào ống tre để nấu chín, tương tự như nấu cơm lam. Để nấu món này cần có lá nhíp, cà đắng, đọt mây, ớt, cá suối, thịt động vật. Nghe đến tên các loại nguyên liệu thôi đã đủ để bạn hiểu về sự hoang dã mang tính sơn cước của món ăn này.

3. Bún đỏ Đắk Lắk Bún đỏ Đắk Lắk với đặc trưng là những sợi bún đỏ vô cùng đẹp mắt, lý do là những sợi bún sẽ được nhúng vào nước dùng từ xương heo, hạt điều và gạch cua đã khiến chúng đổi từ trắng thành màu đỏ. Bún đỏ Đắk Lắk còn hấp dẫn khi được “trang bị” thêm thịt lợn thái mỏng, tóp mỡ, trứng cút, thịt cua ăn kèm với rau cần, giá đỗ nữa thì hết ý. Đã đến Tây Nguyên thì nhớ dừng chân nếm thử món bún đỏ tại đây nhé!

4. Phở khô Gia Lai Đặc điểm khi ăn món này là bạn sẽ có hai tô phở chứ không phải một tô như bình thường, bởi một tô là có phở trộn với hành phi, thịt băm, cà rốt, ớt xay, tô còn lại là nước dùng với thịt bò, bò viên và hành lá. Khác biệt hơn cả là khi bạn cho tương đen – loại tương lên men từ đậu nành và đường vàng do chuẩn người Gia Lai làm, trộn cùng với tô phở khô. Gắp một miếng phở khô rồi húp một ngụm nước lèo thì không còn thấy khô đâu mà chỉ thấy vị ngọt lịm trong miệng, cực kỳ hấp dẫn, Món này ăn kèm với các rau xà lách, giá đỗ, húng quế, ngò gai để tăng hương vị nhé!

5. Gà nướng Bản Đôn Bản Đôn Tây Nguyên thì ai cũng biết rồi và nếu được hỏi có món đặc sản gì nơi đây thì chắc chắn đó là món gà nướng. Thịt gà ở đây có vị thơm ngon rất khác bởi cách nuôi gà rất công phu, tất cả đều được thả vườn, ăn côn trùng, cỏ non và lúa rẫy.

6. Cá lăng Cá lăng là loài cá nước ngọt, sống rất nhiều trên sông Sêrêpốk, là nguyên liệu được nhiều quán ăn, nhà hàng, khách sạn ưa thích. Những món ăn chế biến từ cá lăng thì nhiều vô số kể, chẳng hạn như cá lăng nướnghay cá lăng nấu canh chua – món ăn bổ dưỡng được ăn nhiều vào mùa hạ, giải nhiệt rất tốt.

7. Gỏi lá Kon Tum

Gỏi lá Kon Tum gây ấn tượng bởi có từ 30 đến 60 loại lá khác nhau, tùy theo mùa

Là một trong những món ăn lọt top 10 đặc sản Việt Nam với giá trị ẩm thực sâu sắc, nói thế cũng đủ thấy độ ngon tuyệt vời mà món ăn mang lại cho người thưởng thức. Được lựa chọn bởi 40 loại lá khác nhau với nhiều tác dụng thần kỳ, cuốn các lá thành hình phễu và gắp thức ăn vào ( có thể ăn kèm với thịt ba chỉ, da heo thái mỏng, tôm rang) chấm với nước chấm sền sệt và cảm nhận đủ cái ngọt, chan chát, vị chua chua và béo ngậy hòa quyện, uống thêm ngụm rượu cây ủ lâu năm thì chỉ có trên cả tuyệt vời.

8. Măng nướng xào vếch bò Không thể không thử món ăn đặc sản Tây Nguyên thơm ngon này khi bạn ghé Tây Nguyên bởi hương vị rất lạ, đã ăn mà thích thì sẽ rất ghiền đó. Vếch bò chính là lòng phèo của bò, vị hơi đắng và nặng mùi, sẽ thấy khó nuốt nếu không quen ăn, nhưng quen rồi thì thấy nó vừa giòn vừa dai, càng nhai lại càng thấy ngon, vếch bò xào với măng le, ăn cùng cơm trắng nóng hổi là tuyệt nhất.

9. Rượu Cần Nhắc tới rượu cần – một món đặc sản vùng Tây Nguyên quen thuộc với hình ảnh mà chúng ta vẫn nhớ, đó là mọi người quây quần bên bếp lửa hồng trong gian nhà sàn ấm cúng, có nhiều ống cần để hút được đặt trong chum rượu để ở giữa. Rượu cần thực ra có rất nhiều loại: rượu thóc, rượu cơm hay rượu kê. Rượu cần là thức uống không thể thiếu trong dịp chiêu đãi khách quý hay những dịp lễ hội ở các dân tộc Tây Nguyên, thể hiện sự mến khách, yêu thương nhau, đoàn kết của con người nơi đây.

10. Heo rẫy nướng Heo rẫy nướng là món ăn mà bạn nên thưởng thức nếu không muốn tiếc nuối khi đến Tây Nguyên. Được người dân nuôi kiểu chăn thả tự nhiên nên thịt heo rất chắc và ngon hơn hẳn những loại thịt heo khác. Bạn sẽ thấy heo rẫy khác heo rừng ở chỗ da mỏng hơn, thịt chắc và ít mỡ lại cực kỳ mềm và ngọt thịt. Thịt heo giữ được màu óng ả mặc dù để lâu là do được phết một hỗn hợp soda, nước cốt chanh và mạch nha rồi mới đem đi nướng. Hai món phổ biến đó là heo rẫy nướng muối ớt ăn thịt ngọt hơn và heo rẫy nướng cao nguyên thì đậm đà gia vị hơn.

11. Sâu muồng – “vừa ăn vừa khóc” Nếu bạn nghĩ đến việc vừa khóc vừa ăn thì chắc hẳn do sự tác động nào đó từ bên ngoài hoặc là bị ép. Tuy nhiên, không ai bắt buộc hay tác động, bạn không thể nào cưỡng lại hương vị hấp dẫn của món sâu muồng từ người Tây Nguyên mặc dù sợ đến chảy nước mắt.

12. Kiến vàng – Đặc sản Tây Nguyên nổi tiếng

Món đu đủ giã kiến vàng

Một đặc sản nữa phải nhắc đến về ẩm thực của miền núi rừng Tây Nguyên là kiến vàng. Dường như loài kiến này có mặt ở khắp mọi nơi tại Tây Nguyên, người dân đã  dùng loài côn trùng này mà chế biến thành các món ăn độc đáo, chứa rất nhiều dinh dưỡng. Người đồng bào có thể nấu xôi kiến, trứng kiến trộn gỏi, Bò nướng kiến, lẩu kiến vàng,…nêm các món ăn hay muối kiến vàng. Muối kiến vàng rất nổi tiếng và được xem là món quà quý giá mỗi khi có ai đó từ Tây Nguyên trở về. Muối có thể được ăn kèm với trái cây hay các loại thịt rừng, nấu canh chua đều được.

13. Ve sầu – Tan chảy với vị béo ngậy Nếu bạn cảm thấy bực bội với tiếng ve kêu ran những ngày hè oi bức thì tại Tây Nguyên, đây lại là một đặc sản hấp dẫn. Khi ấu trùng ve bắt đầu có hiện tượng lột xác sẽ là lúc được người dân bắt về làm thức ăn. Ve bỏ hết cánh, chân và làm sạch ruột rồi nhét đậu phộng vào trong bụng. Chiên ve trên chảo dầu, đảo nhanh và nêm nếm gia vị vừa ăn. Sau khi thấy ve chuyển sang màu vàng ruộm thì cho ra đĩa. Vị béo ngậy hoàn quyện với cái bùi bùi từ đậu và hương vị nêm nếm khiến bất kỳ ai cũng phải nhớ mãi không quên.

14. Thịt nai Cùng với bò một nắng, thịt nai cũng là một trong những món ăn đặc sản rừng Tây Nguyên rất được ưa chuộng. Nếu thịt bò dai, nhiều gân thì thịt nai lại ít gân, mỡ màu trắng ngà và ăn thì cực kỳ mềm. Những món ăn chế biến từ thịt nai rất đa dạng như nai xào lăn, nai nướng, nai lúc lắc, nai nhúng giấm, sườn nai rán, nai khô, cháo bao tử…Nai khô rất thích hợp làm quà mang về vì gọn nhẹ, ăn còn ngon cực kỳ nữa chứ.

15. Cà phê chồn Nếu không nhắc đến cà phê chồn thì thật là một thiếu sót vô cùng lớn, cà phê Chồn là một món quà tặng vô cùng độc đáo và giá trị. Nếu người được tặng yêu thích cà phê thì đây chính xác là món quà tuyệt vời nhất, còn người chưa từng thử bao giờ, chỉ ngửi mùi cà phê sau khi pha là đã muốn thử ngay và luôn cho xem. Để làm ra được loại cà phê thì khá công phu nhưng bù lại bạn sẽ được thưởng thức loại cà phê hảo hạng nhất với hương vị đặc trưng không loại cà phê nào có được.

Văn hóa du lịch Tây Nguyên hấp dẫn du khách bởi sự hòa quyện giữa cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ và nét đặc sắc của văn hóa bản địa, đặc biệt là văn hóa cồng chiêng – Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, cùng với các lễ hội truyền thống, làng nghề thủ công và ẩm thực độc đáo. Vùng đất này thu hút du khách bởi không chỉ vẻ đẹp tự nhiên mà còn bởi những trải nghiệm văn hóa sâu sắc tại các buôn làng dân tộc, các lễ hội và các điểm du lịch mang đậm bản sắc. 

KPVN Tổng hợp

Xem thêm

Khám Phá Các Tỉnh Thuộc Duyên Hải Nam Trung Bộ

Điểm Đến Hấp Dẫn

-7%
Thời gian: 1 ngày
Ngày khởi hành: Hàng ngày
Giá gốc là: 1.500.000 ₫.Giá hiện tại là: 1.400.000 ₫.
-7%
Thời gian: 1 ngày
Ngày khởi hành: Hàng ngày
Giá gốc là: 1.500.000 ₫.Giá hiện tại là: 1.400.000 ₫.
Thời gian: 1 ngày
Ngày khởi hành: Hàng ngày
Thời gian: 1 ngày
Ngày khởi hành: Hàng ngày
Xem thêm