ĐIỆN BIÊN – VÙNG TÂY BẮC

Du lịch Điện Biên là một hành trình mà du khách không chỉ ôn lại trang sử vẻ vang của dân tộc qua Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, mà còn có cơ hội chiêm ngưỡng vẻ đẹp hùng vĩ nơi núi rừng Tây Bắc và tìm hiểu bản sắc văn hóa độc đáo của 19 dân tộc anh em.

Giới thiệu Điện Biên

Điện Biên nơi có nhiều dãy núi cao, sông suối chảy cuồn cuộn, tạo nên cảnh sắc thiên nhiên vô cùng đẹp đẽ và hùng vĩ. Khung cảnh thiên nhiên xanh mát, thoáng đãng cùng với khí hậu ôn hòa. Nơi đây từng ghi dấu ấn lịch sử hào hùng, những dấu son chói lọi của dân tộc. Du lịch Điện Biên mang lại cho du khách những trải nghiệm thú vị về thiên nhiên, văn hóa, giúp du khách hiểu thêm về lịch sử anh hùng của Tổ quốc. Điện Biên còn là nơi để lớp trẻ tri ân, tự hào và hiểu biết về quá khứ anh dũng của ông cha.

I. Điện Biên Ở Đâu

Vị trí đa lí  Tỉnh Điện Biên nằm ở rìa phía Tây khu vực Tây Bắc Việt Nam. Tỉnh nằm cách thủ đô Hà Nội 460 km về phía Tây bắc, có vị trí địa lý: Phía Đông nam giáp tỉnh Sơn La; phía Tây giáp tỉnh Phôngsali, Lào; phía nam giáp tỉnh Luang Prabang, Lào; phía Bắc – Đông bắc giáp tỉnh Lai Châu và phía Bắc là tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Điện Biên là tỉnh duy nhất có chung đường biên giới với 2 quốc gia Lào và Trung Quốc dài hơn 400 km với đường biên giới tiếp giáp với Lào là 360 km và đường biên giới tiếp giáp với Trung Quốc là 40,86 km.

Bản đồ vị trí địa lý du lịch Điện Biên. Ảnh: TTXVN

Địa hình Điện Biên có địa hình phức tạp, chủ yếu là đồi núi dốc, hiểm trở và chia cắt mạnh, được cấu tạo bởi những dãy núi chạy dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam với độ cao biến đổi từ 200m đến hơn 1.800m. Địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam và nghiêng dần từ Tây sang Đông. Ở phía Bắc có các điểm cao 1.085m, 1.162m và 1.856m vùng Mường Nhé, cao nhất là đỉnh Pu Đen Đinh 1.886m. Ở phía Tây có các điểm cao 1.127m, 1.649m, 1.860m và dãy điểm cao Mường Phăng kéo xuống Tuần Giáo. Xen lẫn với các dãy núi cao là những thung lũng, sông suối nhỏ hẹp và dốc phân bổ khắp nơi trong cả tỉnh. Trong đó, cánh đồng Mường Thanh được tạo thành từ thung lũng Mường Thanh rộng hơn 150km², là cánh đồng lớn và nổi tiếng nhất của tỉnh Điện Biên và cả khu vực Tây Bắc.

II. Khí hậu Điện Biên

Điện Biên có khí hậu nhiệt đới gió mùa núi cao, mùa đông tương đối lạnh và ít mưa nhưng kết thúc khá sớm và không có hiện tượng thời tiết mưa phùn và nồm ẩm như các tỉnh, thành ở phía đông dãy Hoàng Liên Sơn. Mùa hạ nóng, mưa nhiều với các đặc tính diễn biến thất thường, chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây nam khô và nóng. Nét đặc trưng khí hậu ở tỉnh là sự phân hóa đa dạng theo dạng địa hình và theo mùa. Điện Biên cũng là tỉnh có biên độ nhiệt trung bình ngày và đêm cao nhất cả nước.

Đèo Pha Đin huyền thoại, nơi gặp nhau giữa trời và đất.

Nhiệt độ trung bình năm từ 21 °C đến 23 °C, nhiệt độ thấp nhất thường vào tháng 12 đến tháng 2 năm sau. Các tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất từ tháng 4 đến tháng 9 khoảng 25 °C chỉ xảy ra các khu vực có độ cao thấp hơn 500m. Lượng mưa thường tập trung theo mùa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 9, sớm hơn các tỉnh có vĩ độ thấp. Mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, khi gió đông lạnh mang lại thời tiết khô hanh, ít mưa và rét buốt thường xảy ra vào những tháng cuối năm.

Chế độ nhiệt ở Điện Biên phản ánh rõ nét mối quan hệ giữa hoàn lưu khí quyển và điều kiện địa hình. Do vị trí nằm khuất sau dãy núi Hoàng Liên Sơn nên không khí lạnh của khối khí lạnh di chuyển đến đây phải đi theo thung lũng sông Đà ngược lên, trên đường di chuyển khối khí này bớt lạnh đi, vì vậy chế độ nhiệt mùa đông của Điện Biên ấm và khô hơn so với Đông Bắc. Tuy nhiên do địa hình tương đối kín nên mỗi khi có đợt lạnh tràn về với cường độ mạnh thì không khí lạnh được giữ lại khá lâu, tạo nên đợt lạnh kéo dài nhiều ngày.

III. Du lịch Điện Biên mùa nào đẹp?

Vì có đặc trưng khí hậu dễ chịu, nền nhiệt quanh năm mát mẻ nên bạn có thể đi tour du lịch Điện Biên vào bất kỳ thời điểm nào trong năm. Dưới đây là những gợi ý về các mùa đẹp nhất ở Điện Biên để bạn có thể tham khảo.

Mùa hoa ban tháng 3: Sau những ngày đầu năm tràn ngập sắc hoa đào rừng, hoa mận thì đây là lúc mà  những cánh hoa ban khoe sắc. Khi tháng 3 đến, Điện Biên chìm trong sắc trắng của hoa ban, tạo nên một khung cảnh huyền ảo và lãng mạn. Điện Biên không chỉ nổi tiếng với những di sản lịch sử quý giá mà còn có nét đẹp thiên nhiên hùng vĩ và quyến rũ. Hoa ban rừng nở rộ trên khắp các vùng đất, từ những ngọn núi cao chót vót, những triền đồi bình yên đến những con ngõ nhỏ dẫn về những ngôi làng thanh bình. Điện Biên trở thành bức tranh sinh động với sự góp mặt của hoa ban trắng muốt, lung linh trong nắng gió. Đặc biệt, vào khoảng từ 12 – 15/3 bạn còn có dịp tham gia lễ hội hoa ban rộn ràng của người dân nơi đây. Lễ hội mang lại không khí sôi động, niềm vui và những trải nghiệm văn hóa đặc sắc.

Những cô gái Thái trong Lễ hội hoa ban – Điện Biên. Ảnh: svhttdldienbien.gov.vn

Tháng 5 Điện Biên Mùa lễ hội – Mùa chiến thắng: Một trong những lễ hội có quy mô lớn và tưng bừng nhất Điện Biên đó chính là lễ kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ. Nếu du khách đến Điện Biên vào khoảng mùng 7/5 hàng năm, bạn sẽ được hòa mình vào và tận hưởng không khí linh thiêng nhất của ngày lễ kỷ niệm đặc biệt trọng đại này. Ngoài ra, đây cũng là thời điểm Điện Biên diễn ra nhiều lễ hội khác tiêu biểu như lễ hội Thành Bản Phủ, lễ Bó Khoăn Khoai, Lễ Hội Mừng Măng Mọc, lễ hội Mừng Mưa Rơi, lễ Tủ Cải của người Dao, lễ cúng Bản của người Cống,… Đây là những dịp đặc biệt để bạn tìm hiểu về phong tục, tập quán và niềm vui của người dân nơi đây.

Du lịch Điện Biên mùa lúa chín: Nếu bạn muốn được ngắm nhìn muôn hình vạn trạng vẻ đẹp của những thửa ruộng bậc thang ở Điện Biên nhuộm một màu vàng tươi rực rỡ thì nên lựa chọn đi Điện Biên vào tháng 9. Đây chính là thời điểm mà các cánh đồng lúa bước vào mùa vụ thu hoạch. Đặc biệt, nếu đến đây vào dịp này, bạn còn có cơ hội được ngắm nhìn cánh đồng Mường Thanh vàng rực rộng thẳng cánh cò bay, bao la bát ngát vô cùng nổi tiếng với những hạt gạo ngon tuyệt của xứ sở này.

Mùa hoa dã quỳ, hoa cải nở rực vàng Điện Biên: Khám phá vẻ đẹp của mùa hoa cải vàng, hoa dã quỳ Điện Biên là một hành trình đầy tuyệt vời, đặc biệt là khi bạn chọn đến vùng đất này vào những tháng cuối năm. Mùa hoa cải, hoa dã quỳ ở Điện Biên kéo dài trong khoảng thời gian từ tháng 10 đến 12, nhưng thời gian nở rộ diễn ra vào những ngày nửa cuối của tháng 11. Là lúc mà hàng loạt những thảm hoa vàng óng ả bừng nở rực rỡ, từ các cung đường đến những sườn núi, toàn bộ vùng đất này như phủ một tấm thảm vàng lấp lánh, tạo nên một khung cảnh thiên đàng giữa lòng Điện Biên hùng vĩ.

Lưu ý quan trọng

– Mùa thu tháng 9-10, Thời tiết mát mẻ, dễ chịu. Khung cảnh thiên nhiên có thể đẹp với lúa chín vàng, tuy nhiên bạn cần theo dõi tình hình thời tiết, tránh thời điểm thời tiết xấu có thể xảy ra do ảnh hưởng của bão hoặc áp thấp nhiệt đới. 

– Nên chú ý khi đi du lịch Điện Biên từ tháng 5 – 9 vì đây là mùa mưa bão, có nguy cơ xảy ra lũ quét, gây nguy hiểm cho du khách. Dù đi vào mùa đẹp, bạn vẫn nên kiểm tra dự báo thời tiết trước chuyến đi, đặc biệt là trong giai đoạn có khả năng ảnh hưởng của thời tiết cực đoan.

Hy vọng rằng với những thông tin, bạn đã có thể biết được đi Điện Biên mùa nào đẹp nhất để có thể lên kế hoạch và sắp xếp lịch trình di chuyển sao cho hợp lý.

IV. Đi đến Điện Biên thế nào

Đường bộ: Từ Hà Nội và một số tỉnh miền bắc đều có xe khách chạy tuyến Điện Biên. Để tiết kiệm thời gian, du khách từ Hà Nội nên chọn các nhà xe chạy đêm, xuất phát từ các bến xe Mỹ Đình, Giáp Bát, Yên Nghĩa, giá vé từ 300-500 nghìn đồng/chiều; thời gian di chuyển khoảng 10 tiếng.

Cảnh đẹp miền sơn cước Điện Biên. Ảnh: Sưu tầm

Du khách sử dụng phương tiện cá nhân dễ dàng đi theo chỉ dẫn của các ứng dụng bản đồ trực tuyến, theo Quốc lộ 6, Quốc lộ 32, Quốc lộ 37, Cao tốc HN – Lào Cai – Lai Châu – Điện Biên,…

Đường hàng không: Điện Biên có Cảng hàng không Điện Biên (trước đây là Sân bay Mường Thanh, nằm ở thành phố Điện Biên Phủ). Hiện chỉ có hãng hàng không Vietnam Airlines khai thác chặng bay Hà Nội-Điện Biên Phủ (thời gian bay 55 phút). Còn nếu bạn xuất phát từ TP. HCM hoặc các tỉnh thành thì hãy đặt vé máy bay đến Hà Nội trước khi bắt đầu hành trình du lịch Điện Biên của mình nhé.

Đi du lịch Sơn La theo Tour du lịch đây là cách đi du lịch phổ biến và an toàn nhất, khách du lịch nên áp dụng, đặc biệt là khi đi theo đoàn. Nếu đi du lịch theo Tour, xuất phát từ Hà Nội hoặc bất cứ đâu, giá Tour sẽ tùy theo điểm xuất phát và số ngày bạn tham quan du lịch.

V. Lịch sử Điện Biên

Một phần thành phố Điện Biên Phủ hôm nay. Ảnh: Svhttvdl Điện Biên

Thời kỳ thượng cổ – Bắc thuộc

Điện Biên là vùng đất từ xa xưa đã có con người sinh sống và cư ngụ ngay từ thời tiền sử qua các bằng chứng về khảo cổ học từ thời kỳ đồ đá của các di chỉ như hang Thẳm Khương ở Tuần Giáo, đã chứng minh con người từ thời thượng cổ đã có mặt rất sớm, nơi đây là một trung tâm của người Việt cổ.
Vào khoảng thế kỷ thứ  6 – 7 ở vùng Vân Nam (Trung Quốc), quốc gia Nam Chiếu ra đời. Những cuộc tranh chấp giữa Nam Chiếu và các tộc người khác thường diễn ra sau đó, đã làm cho cả vùng Nam Trung Quốc và Bắc Đông Dương bất ổn định. Thời kỳ này đất Mường Thanh cũng trải qua nhiều biến động lớn.
Đến thế kỷ 9 – 10, người Lự ở Mường Thanh đã phát triển khá mạnh, từ phía Bắc họ phát triển thế lực khắp lòng chảo Mường Thanh và ảnh hưởng mạnh sang các khu vực: Sìn Hồ, Mường Lay, Tuần Giáo…
Thế kỷ 11-12, người Thái đen theo từ Mường Ôm, Mường Ai tràn xuống chiếm Mường Lò (Nghĩa Lộ) và từ Mường Lò thời gian sau đó, những cư dân này theo thủ lĩnh của mình là Pú Lạng Chượng để tràn qua Than Uyên, Văn Bàn… và cuối cùng làm chủ cả một vùng từ Mường Lò (Nghĩa Lộ) qua Mường La (Sơn La), tới Mường Thanh (Điện Biên).

Mường Thanh cổ còn có tên gọi là Song Thanh vì có hai mường: Thanh Nưa (Thanh trên) từ bản Noong Hét (hay Noong Hẹt) ngược về đầu nguồn sông Nậm Rốm và Thanh Tẩu (Thanh dưới) từ bản Noong Hét đến cuối sông Nậm Rốm.
Từ chữ Mường Then theo tiếng dân tộc Thái nghĩa là “Xứ Trời”, gắn với truyền thuyết thần thoại Quả bầu mẹ giải thích sự xuất hiện của loài người.

Thời kỳ lịch sử phong kiến
Thời kỳ Bắc thuộc Điện Biên thuộc huyện Lâm Tây, quận Tân Hưng. Đời Lý đất Điện Biên nằm trong hạt châu Lâm Tây. Đời Trần nước ta có 15 lộ Điện Biên thuộc lộ Đà Giang, cuối Trần là trấn Thiên Hưng. Thời Minh thuộc lại chia làm 2 châu Gia Hưng và Quy Hoá.
Sang tới thế kỷ 15 (năm 1463) trấn Hưng Hóa được thành lập (bao gồm ba phủ: Quy Hóa, Gia Hưng, An Tây). Mặc dù vậy, các thủ lĩnh người Lự cơ bản vẫn làm chủ Mường Thanh. Từ 1466 về sau, Lê Thánh Tông đặt làm 12 thừa thừa tuyên, trong đó Hưng Hóa bao gồm 3 phủ, 4 huyện và 17 châu.

Thành Bản Phủ Điện Biên – nghĩa quân Hoàng Công Chất, là công trình có lịch sử hơn 260 năm.

Năm 1831, Minh Mạng đổi thành tỉnh Hưng Hóa, tỉnh lị đặt ở thị trấn Hưng Hoá huyện Tam Nông (nay thuộc Phú Thọ). Thời Pháp thuộc, Hưng Hóa được chia thành các tỉnh Hoà Bình, Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái và tách một số huyện nhập vào Phú Thọ.
Tên gọi Điện Biên do Thiệu Trị đặt năm 1841 từ châu Ninh Biên. Điện nghĩa là vững chãi, Biên nghĩa là vùng biên giới, biên ải. Điện Biên tức là miền biên cương vững chãi của tổ quốc, Phủ Điện Biên (tức Điện Biên phủ) thời Thiệu Trị gồm 3 châu: Ninh Biên (do phủ kiêm lý, tức là tri phủ kiêm quản lý châu), Tuần Giáo và Lai Châu. Tên gọi Điện Biên hay Điện Biên Phủ xuất hiện từ đó.

Thời kỳ Pháp thuộc
Năm 1858, thực dân Pháp bắt đầu xâm lược nước ta với sự kiện tấn công bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng, nhưng phải đến năm 1890 thực dân Pháp mới đặt được ách cai trị ở Lai Châu (bao gồm Điện Biên và Lai Châu ngày nay). Lai Châu trừ Phong Thổ thuộc Đạo quan binh thứ Tư, trực tiếp nằm trong khu quân sự Vạn Bỳ. Trong suốt thời gian dài thống trị Lai Châu thực dân Pháp đặt Điện Biên dưới chế độ quân quản, đứng đầu châu Điện Biên là một võ quan.
Ngày 28/6/1909, ngày Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập tỉnh Lai Châu nay là tỉnh Điện Biên và Lai Châu
Dưới chế độ thuộc địa của thực dân Pháp, Phủ Điện Biên (nay là Điện Biên Phủ) trở thành trung tâm điều hành, hành chính phía của khu vực phía nam tỉnh Lai Châu. Năm 1954, thực dân Pháp thực hiện kế hoạch Navarre đã đổ quân xuống lòng chảo Điện Biên Phủ với ý đồ xây dựng căn cứ chiến lược quân sự, khống chế và thôn tính Đông Dương và phía Nam Trung Quốc, phía bắc Lào.

Thời kỳ kháng chiến – Tới ngày nay

1947-1949 Ở Lai Châu (nay là Điện Biên và Lai Châu), sau 2 năm hoạt động đội xung phong Quyết Tiến đã gây dựng được cơ sở hoạt động kéo dài từ Quỳnh Nhai sang Tuần Giáo, Điện Biên và các tỉnh Bắc Lào khiến cho phong trào cách mạng lan rộng  trong nhân dân các dân tộc vùng cao.

Ngày 10/10/1949 Trung ương Đảng, Bộ Tư lệnh Liên khu 10 đã tập hợp các thanh niên ưu tú để thành lập Đội xung phong Lai Châu, đây chính là tiền thân của Ban cán sự đảng Điện Biên.

Ngày 7/5/1954 sau chín năm kháng chiến trường kỳ cùng với quân dân của cả nước nhân dân tỉnh Điện Biên đã làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu, đất nước ta chấm dứt 80 năm nô lệ dưới ách thực dân phong kiến. 

Bộ đội hành quân ra mặt trận điện biên phủ. Ảnh: Tư liệu

Năm 1955 Để tăng cường đoàn kết giữa các dân tộc và tạo điều kiện cho các dân tộc ở Tây Bắc tiến bộ mau chóng về mọi mặt, trung ương đã quyết định lập trong phạm vi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà khu vực tự trị của các dân tộc ở Tây Bắc, gọi là Khu tự trị Thái – Mèo, ngày 29 tháng 4 năm 1955.
Trước đó, theo Sắc lệnh số 143-SL ngày 28 tháng 1 năm 1953 của Chủ tịch nước, Khu Tây Bắc được thiết lập gồm các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Sơn La và Lai Châu, tách khỏi Liên khu Việt Bắc.

Ngày 27/9/1962, kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa II đã quyết định thành lập lại 3 tỉnh Sơn La, Nghĩa Lộ và Lai Châu. Tỉnh Lai Châu lúc đó gồm 7 huyện: Điện Biên, Tuần Giáo, Tủa Chùa, Mường Tè, Mường Lay, Sìn Hồ, Phong Thổ và thị trấn Lai Châu.
Từ năm 1962 đến năm 1994, thị trấn Lai Châu sau này là thị xã Lai Châu là thị xã tỉnh lỵ của tỉnh Lai Châu.

Ngày 18 tháng 4 năm 1992, theo quyết định số 130/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng, thành lập thị xã Điện Biên Phủ và di chuyển tỉnh lỵ tỉnh Lai Châu về thị xã Điện Biên Phủ. Địa giới thị xã được quy hoạch bao gồm thị trấn Điện Biên và 2 xã Thanh Minh và Noong Bua của huyện Điện Biên cũ.

Ngày 14 tháng 1 năm 2002, thành lập huyện Mường Nhé trên cơ sở một phần diện tích và dân số của các huyện Mường Tè và Mường Lay.

Ngày 26 tháng 9 năm 2003, thành lập thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Lai Châu trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của thị xã Điện Biên Phủ, và điều chỉnh địa giới của huyện Điện Biên, Lai Châu.

Ngày 26 tháng 11 năm 2003, Quốc hội ra nghị quyết chia tỉnh Lai Châu thành hai tỉnh Lai Châu và Điện Biên. Tỉnh Điện Biên chính thức được thành lập vào ngày 1 tháng 1 năm 2004.

Ngày 2 tháng 3 năm 2005, đổi tên thị xã Lai Châu thành thị xã Mường Lay, đổi tên huyện Mường Lay thành huyện Mường Chà.

Ngày 14 tháng 11 năm 2006, thành lập huyện Mường Ảng trên cơ sở điều chỉnh một phần diện tích tự nhiên và dân số của huyện Tuần Giáo.

Ngày 25 tháng 8 năm 2012, thành lập huyện Nậm Pồ trên cơ sở điều chỉnh một phần diện tích tự nhiên và dân số của các huyện Mường Nhé và Mường Chà.

Tỉnh Điện Biên có 1 thành phố, 1 thị xã và 8 huyện trước khi thực hiện thay đổi 1/7/2025 về việc sáp nhập, bỏ cơ quan hành chính cấp huyện.

VI. Văn hóa, Lễ hội – Du lịch Điện Biên

1. Nét Văn hóa

 Điện Biên, mảnh đất lịch sử hào hùng với chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, ở vùng biên giới Tây Bắc của Tổ quốc, có dân số hơn 67,3 vạn người, là nơi sinh sống của cộng đồng 19 dân tộc anh em như Thái, Mông, Dao, Khơ Mú, Hà Nhì, Lào… Mỗi dân tộc đều mang trong mình những nét riêng về văn hóa như phong tục tập quán, ngôn ngữ, kiến trúc nhà ở, trang phục, ẩm thực cho đến các lễ hội, tín ngưỡng…Tạo thành bức tranh văn hóa đa sắc màu, một kho tàng văn hóa vật thể và phi vật thể vô cùng đặc sắc bên cạnh hệ thống di sản, cảnh quan thiên nhiên biên cương hùng vĩ.

Đắm say với những vũ điệu xòe Thái. Ảnh: baodantoc

Di sản văn hóa vật thể của Điện Biên gắn liền với điều kiện địa lý, tự nhiên, với đời sống sinh hoạt hằng ngày của người dân. Đó là hệ thống “mương – phai – lái – lịn” dẫn nước từ các suối nguồn trong núi cao để tưới tiêu xanh tốt cho các thửa ruộng bậc thang, dẫn nước nguồn trong khe sâu về đến tận những bản mường. Là không gian văn hóa của các bản làng nằm ở thung lũng ven núi, những mái nhà sàn cao ráo, thoáng mát được trang trí bởi các khau cút (biểu tượng được đặt ở hai chỏm đầu đốc nhà sàn Thái) đa dạng về kiểu dáng. Ở khu vực rẻo cao của  vùng Điện Biên Đông, Tuần Giáo, người Mông khéo léo dựng các nếp nhà trình tường có kiến trúc độc đáo bằng đất, phù hợp với nét đặc trưng của dân tộc và điều kiện khí hậu vùng rẻo cao. Ở vùng biên giới giáp Lào, các bản của người Khơ-mú với các nếp nhà nằm sát cạnh nhau… Mỗi nếp nhà, mỗi phong tục đã góp phần làm nên một Điện Biên giàu bản sắc văn hóa các tộc người.

Điện Biên cũng có một hệ thống di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc, như các thực hành tôn giáo, tín ngưỡng, nghi lễ, phong tục tập quán, lễ hội, trò chơi dân gian… thể hiện thế giới quan, nhân sinh quan của cư dân vùng núi rừng, biên cương. Trong đó, điểm nhấn đặc sắc đầu tiên phải kể đến là văn hóa của dân tộc Thái, chiếm đa số trong cộng đồng các dân tộc tại Điện Biên. Nổi bật với những nếp nhà sàn truyền thống, những cô gái Thái duyên dáng trong bộ váy áo cóm và những điệu múa xòe uyển chuyển, làm say đắm lòng người. Không thể không nhắc đến Lễ hội Hoa Ban, một “đặc sản” văn hóa của người Thái đã vượt ra khỏi phạm vi một lễ hội truyền thống, trở thành sự kiện văn hóa, du lịch mang tầm quốc gia, thu hút hàng vạn du khách mỗi độ xuân về.

Bên cạnh đó, văn hóa của người Mông cũng góp phần tạo nên sự đa dạng và độc đáo cho bức tranh văn hóa Điện Biên. Với tiếng khèn réo rắt gọi bạn tình, những bộ trang phục sặc sỡ được làm thủ công tỉ mỉ và những phiên chợ vùng cao náo nhiệt, người Mông đã mang đến một không gian văn hóa đầy sức sống và lôi cuốn.

Nét đẹp văn hóa của người Mông.

Ngoài ra, kỹ thuật tạo hoa văn độc đáo trên trang phục, nghề rèn của người Mông, mỗi sản phẩm đều là một tác phẩm nghệ thuật, chứa đựng sự cần cù, óc sáng tạo và cả những quan niệm thẩm mỹ riêng biệt. Đây chính là chất liệu quan trọng để xây dựng nên những sản phẩm du lịch văn hóa hấp dẫn, nơi du khách không chỉ mua sắm mà còn được trải nghiệm và tìm hiểu về quy trình làm ra chúng.

Sự đa dạng còn được tô điểm bởi những nét văn hóa riêng biệt của các dân tộc khác. Đó là những điệu múa trống, múa nón rộn ràng của người Hà Nhì, nét tinh tế trong trang phục, sự vui tươi, hào hứng của tết Té nước Bun Huột Nặm của người Lào. Hay tết Nào Pê Chầu của người Mông đen, Lễ hội đền Hoàng Công Chất, Lễ Tủ Cải của người Dao Quần Chẹt… Mỗi một phong tục, một lễ hội đều chứa đựng những giá trị nhân văn sâu sắc, phản ánh đời sống tín ngưỡng và nhân sinh quan của từng tộc người.

Tết té nước Bun Huột Nặm của dân tộc Lào – Điện Biên, mang ý nghĩa gột rửa những xui xẻo trong năm cũ, cầu cho năm mới đc may mắn, bình an, Ảnh: Trung Kiên – Hoài Nam

Sự phong phú của hệ thống di sản văn hóa các dân tộc tỉnh Điện Biên một mặt tạo nên một không gian văn hóa Điện Biên vô cùng đặc sắc, mặt khác đóng góp quan trọng vào sự đa dạng của văn hóa cho sự phát triển của “du lịch bản sắc văn hóa dân tộc, khám phá cảnh quan thiên nhiên” Điện Biên.

2. Những Lễ hội ở Điện Biên

– Ở Điện Biên có nhiều lễ hội, nổi bật nhất như lễ hội hoa ban hay lễ hội Thành Bản Phủ. Lễ hội hoa ban Điện Biên thường diễn ra vào giữa tháng 3 hàng năm, lễ hội không chỉ có phần lễ và phần hội đặc sắc mà còn lồng ghép nhiều hoạt động văn hóa nhằm giới thiệu, bảo tồn, phát huy các loại hình di sản văn hoá dân tộc ở Điện Biên. Lễ khai mạc thường được tổ chức ở quảng trường 7 – 5, với kết thúc là một màn biểu diễn pháo hoa sinh động. Các chương trình, hoạt động của lễ hội thường có: cuộc thi Người đẹp hoa ban, diễu hành đường phố Đêm hội hoa ban, chương trình nghệ thuật Về miền hoa ban, thưởng thức ẩm thực Hương sắc Điện Biên, các cuộc thi đấu thể thao và trò chơi dân gian, không gian văn hóa vùng cao, các triển lãm tranh, trình diễn trang phục dân tộc, thăm quần thể di tích chiến trường Điện Biên Phủ…

Lễ hội Hoa Ban Điện Biên. Ảnh TITC

– Lễ hội Đền thờ Hoàng Công Chất – Thành Bản Phủ được tổ chức hàng năm vào ngày mất của thủ lĩnh Hoàng Công Chất (24-25/2 âm lịch) để tưởng nhớ công ơn người anh hùng áo vải quê lúa Thái Bình, cùng hai tướng Lò Ngải, Lò Khanh (dân tộc Thái là người địa phương) đã lãnh đạo nghĩa quân đánh đuổi giặc Phẻ do tên tướng Phạ Chẩu Tin Toòng (ông tướng nhà trời) cầm đầu, giải phóng Mường Then – Điện Biên, bảo vệ bản mường, núi rừng Tây Bắc, trấn giữ một vùng biên cương thái bình vào thế kỷ 18.

Nghi thức rước lễ trong khai hội Thành Bản Phủ. Ảnh: Mộc Trà

Khai mạc Lễ hội Thành Bản Phủ thường bao gồm các hoạt động mang đậm giá trị nhân văn và truyền thống như: Rước lễ vật, múa Rồng, Màn Trống hội, trích đoạn Tướng Hoàng Công Chất đánh giặc và hát múa chào mừng Lễ hội. Tiếp đó là Lễ dâng hương, tế lễ “Nhớ công ơn Tướng Hoàng Công Chất”…Các hoạt động trong Lễ hội có Thi Văn nghệ quần chúng, thi trình diễn trang phục dân tộc; Không gian sắc màu văn hóa, trình diễn Lễ hội truyền thống, hoạt động cộng đồng các dân tộc; Trưng bày tranh, ảnh nghệ thuật; Trưng bày sản phẩm nông sản Điện Biên; Thể thao, Trò chơi dân gian truyền thống…Đặc biệt trong thời gian diễn ra các sự kiện Lễ hội Thành Bản Phủ và Ngày hội VHTT&DL các dân tộc của vùng thường có sự tham gia giao lưu, biểu diễn của các đoàn nghệ thuật khách mời trong và ngoài tỉnh tham gia.

– Tết Nào Pê Chầu của người Mông Dân tộc Mông hàng năm sau khi thu hoạch mùa màng xong, cơ bản mọi việc đã hoàn tất, hoa Đào bắt đầu khoe sắc, hoa Mơ nở trắng rừng cũng là lúc hết tháng 12 (theo cách tính âm lịch riêng của người Mông, thường sớm hơn tết Nguyên Đán một tháng) người Mông tổ chức ăn tết cổ truyền “Nào Pê Chầu” của mình. Lễ tết thường diễn ra từ 10 đến 15 ngày với các phần lễ và hội, phần lễ diễn ra từ chiều 30 tết cho đến hết chiều mùng 3 tết, các nghi lễ này chủ yếu diễn ra tại các gia đình, trưởng dòng họ. Còn phần hội diễn ra tại sân của bản cho đến hết Tết.

Lễ hội trong tết Tào Pê Chầu – Tết truyền thống của người Mông. Ảnh: Truyền hình Điện Biên

Người Mông tổ chức đón Tết cổ truyền Nào Pê Chầu, là khoảng thời gian nghỉ ngơi, mọi người về đoàn tụ sau một năm lao động vất vả. Đây là tết cổ truyền có từ lâu đời, gắn liền với tín ngưỡng thờ vạn vật hữu linh. Thêm vào đó, tết Nào Pê Chầu còn bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, đó là cơ sở để giữ gìn và phát triển vốn văn hóa truyền thống, giáo dục cho các thế hệ con cháu luôn hướng về cội nguồn. Trong một năm người Mông có rất nhiều lễ, ứng với tiết trời và mùa vụ khác nhau, nhưng trọng đại nhất vẫn là Lễ Tết cổ Truyền “Nào Pê Chầu”. Tết bắt đầu cho năm mới, với hy vọng mọi sự may mắn, tốt lành và một tương lai tốt đẹp hơn.

– Lễ Tủ Cải, lễ đặt tên âm, tên thứ hai cho người con trai đã trưởng thành của người Dao Quần Chẹt. Thường được tổ chức vào dịp cuối năm khi công việc đồng áng, nương rẫy đã xong, tùy vào điều kiện kinh tế từng gia đình có thể tổ chức từ 3 đến 7 ngày. Với đồng bào Dao, lễ Tủ Cải là một nghi thức có vai trò và dấu mốc quan trọng trong lễ tục vòng đời người con trai, bắt buộc người con trai nào cũng phải trải qua. Là lễ báo cáo với các thần linh, tổ tiên về việc đặt tên thứ hai (tên âm) cho người con trai trong dòng tộc. Khi cúng lễ xưng tên với tổ tiên, người Dao kiêng dùng tên thật, chỉ dùng tên âm đã được đặt trong Lễ Tủ Cải. Tên âm này sẽ được ghi trong gia phả. Khi qua đời, con cháu sẽ cúng giỗ theo tên âm. Đồng bào quan niệm ai đã trải qua Lễ Tủ Cải mới được coi là người trưởng thành, là người lớn, có tâm đức, biết phân biệt phải trái, có đủ tư cách làm các công việc trong dòng tộc, cộng đồng; khi chết hồn mới được về đoàn tụ với tổ tiên.

Nghi thức đứng trên bồ đài trước khi rơi xuống để làm lễ Tủ Cải. Ảnh: cungphuot.vn

– Ngoài ra, Điện Biên còn có nhiều lễ hội, nghi lễ, tập tục của các nhiều đồng bào dân tộc như lễ hội Hạn Khuống của người Thái, Tết cơm mới của người La Hủ, lễ hội mừng măng mọc hay Tết Hoa mào gà của dân tộc Cống…

Nghi thức trong Tết hoa mào gà của dân tộc Cống . Ảnh: Xuân Tư – TTXVN

Những hoạt động lễ hội văn hóa, du lịch cũng được Điện Biên thực hiện như đăng cai tổ chức Năm Du lịch Quốc gia với chủ đề “Vinh quang Điện Biên Phủ – Trải nghiệm bất tận”, các hoạt động kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ có nhiều chương trình, sự kiện có quy mô lớn, đặc sắc, tạo dấu ấn đặc biệt được tổ chức thành công tốt đẹp. Đây là dịp để Điện Biên khẳng định vị thế, hình ảnh du lịch địa phương trên bản đồ du lịch Việt Nam. 

3. Du lịch– Điểm đến ở Điện Biên

Điện Biên là tỉnh giàu tiềm năng du lịch, đặc biệt là về lĩnh vực văn hóa – lịch sử. Cho đến hiện nay, ở tỉnh Điện Biên hiện có tới 35 di tích lịch sử được xếp hạng, trong đó có 01 Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Chiến trường Điện Biên Phủ, 14 di tích cấp quốc gia, 20 di tích cấp tỉnh; 20 di sản văn hóa được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. 

Nổi bật nhất là hệ thống di tích lịch sử gắn liền với chiến dịch Điện Biên Phủ gồm: Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ (Mường Phăng); các cứ điểm Him Lam, Bản Kéo, Độc Lập; các đồi A1, C1, E1 và khu trung tâm tập đoàn cứ điểm của Pháp (hầm Đờ-cát Tơ-ri). Một điểm đến thu hút khách du lịch khác là thành Bản Phủ – đền thờ Hoàng Công Chất.

Di Tích Đồi A1 – Cứ Điểm Quan Trọng Trong Lịch Sử. Ảnh: Báo Lao Động

Bên cạnh đó, tỉnh cũng có các công trình kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ. Tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ được khánh thành vào ngày 30 tháng 4 năm 2004 tại đồi D1 nhân dịp kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ. Bảo tàng chiến thắng Điện Biên Phủ được khánh thành vào ngày 5 tháng 5 năm 2014 tại thành phố Điện Biên Phủ, là công trình trọng điểm chào mừng kỷ niệm 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ.

Ngoài ra, Điện Biên còn có các danh thắng, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp tạo thành nguồn tài nguyên du lịch thiên nhiên phong phú, như: hệ sinh thái Hồ Pá Khoang, Đảo hoa Anh đào, hồ Pe Luông; rừng nguyên sinh Mường Nhé, đèo Pha Đin huyền thoại, điểm cực Tây của Việt Nam – Ngã ba biên giới A Pa Chải, cao nguyên đá Tủa Chùa; các hang động tại Pa Thơm (h. Điện Biên), Thẩm Púa (Tuần Giáo); các suối khoáng nóng Hua Pe, U Va,…

Một góc cao nguyên đá Tủa Chùa. Ảnh Stam

Hàng loạt các sản phẩm du lịch văn hóa đặc sắc đã được hình thành và phát triển. Các bản văn hóa du lịch cộng đồng như: Phiêng Lơi, bản Mển, bản Ten, bản Che Căn hay bản U Va đã trở thành những điểm đến hấp dẫn. Tại đây, du khách không chỉ được hòa mình vào không gian sống của người dân bản địa, trải nghiệm kiến trúc nhà sàn truyền thống, thưởng thức ẩm thực dân tộc mà còn được tham gia vào các hoạt động văn hóa, văn nghệ, các nghề thủ công truyền thống như dệt thổ cẩm, đan lát.

Gần đây, việc ra mắt các sản phẩm du lịch mới như show diễn thực cảnh “Huyền tích U Va” đã tạo được tiếng vang lớn, mang đến cho du khách những trải nghiệm nghệ thuật độc đáo, tái hiện sinh động những câu chuyện lịch sử, văn hóa của vùng đất này.

VII. Ẩm thực và đặc sản vùng Điện Biên

Điện Biên có nền ẩm thực ít nhiều chịu ảnh hưởng của ẩm thực vùng Tây Bắc. Ngoài các món ăn phổ biến như phở, bánh cuốn, bún chả,… Điện Biên cũng có không ít các món ăn đặc sản phong phú và đa dạng, danh sách ẩm thực ở Điện Biên là: Pa tỉnh tộp, gà nướng mắc khén, rượu mông pê Tủa Chùa, táo mèo Pha Đin, bánh chưng đen Huổi Só, lạp xưởng hun khói, ngô nếp tím Điện Biên, canh bon, long nhãn Pom Lót, mận Phiêng Ban, xôi nếp nương, chè tuyết Sín Chải, bắp cải cuốn nhót xanh, gà đen Tủa Chùa, dưa mèo, bún khô Thanh An, rau thối, lợn đen mười bốn vú Mường Lay, sâu chít – rượu sâu chít, hạt dổi, mắc khén, chẳm chéo, khẩu xén Mường Lay, khoai sọ Tủa Chùa, thịt lợn hấp lá chuối, gạo tám thơm Điện Biên, măng riềng, hoa đu đủ đực, bánh đa Hoàng Công Chất, gà mọ, gạo lứt đỏ, nộm hoa ban, cá ngần sông Đà, cơm lam, bánh chưng nếp nương, xôi chim Mường Thanh, gỏi cá, vịt om hoa chuối, côn trùng rang, vịt bầu cổ ngắn Tủa Chùa, bí xanh Tìa Dình, nếp cẩm, bánh dày Mông, xôi sắn, mật ong, thịt trâu gác bếp, dứa Mường Chà, rêu đá, măng, nậm pịa, đương quy Tủa Chùa, tiết canh lá bơ mó Mường Luân, rau sắn, lợn cắp nách Tủa Chùa, nếp tan Na Son…

Ẩm thực Điện Biên, mang đậm hương vị núi rừng Tây Bắc.

Trong đó, nổi tiếng nhất phải nhắc đến đặc sản Gạo Điện Biên, gạo Điện Biên gồm hai loại cơ bản là gạo tám Điện Biên và gạo tám thơm Điện Biên, với hàng chục nghìn tấn gạo được sản xuất mỗi năm trên cánh đồng Mường Thanh. Gạo tám thơm Điện Biên có hạt nhỏ, căng bóng, màu đục; cơm dẻo như cơm nếp, thơm thoang thoảng, khi nhai có vị đậm. Một đặc sản khác đó là Cơm lam, vốn là món ăn để mang đi nương hay đi rừng, được nấu bằng ống tre, với nguyên liệu thường là gạo nếp nương. Một biến thể khác của món này là món cơm lam ngũ sắc, có năm màu sắc khác nhau. Sâu chít cũng là một sản vật phổ biến ở đây, thường dùng để ăn, nấu cháo hoặc ngâm rượu, được tiêu thụ mạnh ở vùng xuôi. Các loại gia vị đặc trưng ở đây gồm hạt mắc khén, chẳm chéo và hạt dổi. Tỉnh còn có nhiều món ăn đặc sản khác như: thịt trâu gác bếp, vịt om hoa chuối, khẩu xén, nậm pịa, xôi chim, pa pỉnh tộp,…tất cả tạo nên một nền văn hóa ẩm thực đậm vị núi rừng Tây Bắc – Điện Biên.

Du lịch Điện Biên là một hành trình khám phá vẻ đẹp tự nhiên hùng vĩ và lịch sử hào hùng của vùng miền núi phía Tây Bắc này. Mỗi mùa, Điện Biên lại hóa mình thành một bức tranh tuyệt vời, mang đến những trải nghiệm độc đáo và khác biệt cho du khách. Đến đây, hy vọng du khách đã có những gợi ý hữu ích để lựa chọn du lịch Điện Biên phù hợp với sở thích và mong muốn của mình. Nếu ghé thăm du lịch Điện Biên, hãy tận hưởng mỗi khoảnh khắc quý giá của nơi này, từ những cung đường đèo hiểm trở đến những ngôi làng truyền thống, từ lịch sử hào hùng đến những nền văn hóa độc đáo với những lễ hội đầy màu sắc.

 KPVN Tổng Hợp

Những Tour Du Lịch Hot Ở Ninh Thuận

-7%
Thời gian: 1 ngày
Ngày khởi hành: Hàng ngày
Giá gốc là: 1.500.000 ₫.Giá hiện tại là: 1.400.000 ₫.
-7%
Thời gian: 1 ngày
Ngày khởi hành: Hàng ngày
Giá gốc là: 1.500.000 ₫.Giá hiện tại là: 1.400.000 ₫.
Thời gian: 1 ngày
Ngày khởi hành: Hàng ngày
Thời gian: 1 ngày
Ngày khởi hành: Hàng ngày

Những Tour Du Lịch Hot Ở Ninh Thuận