GIỚI THIỆU
VÙNG TÂY BẮC
Tây Bắc, một vùng văn hoá, xứ sở hoa ban, quê hương xoè hoa, miền đất dịu ngọt của những thiên tình sử Tiễn dặn người yêu nhưng cũng đầy tiếng than thở của những thân phận người Tiếng hát làm dâu. Đi du lịch đến những vùng xa xôi hơn của đất nước đòi hỏi du khách phải hy sinh nhiều thời gian và công sức, đổi lại bạn sẽ nhận được những trải nghiệm vô cùng thú vị. Con người và văn hóa vùng Tây Bắc Việt Nam là những điểm nhấn bổ sung, đây là nơi sinh sống của nhiều nhóm dân tộc với những thị trấn đẹp như tranh vẽ nơi họ cư trú và những khu chợ đầy màu sắc nơi họ sinh hoạt.

A. VÙNG TÂY BẮC
Vùng Tây Bắc là vùng miền núi phía Tây của miền Bắc Việt Nam, còn được gọi là Tây Bắc Bắc Bộ, là một trong 3 tiểu vùng địa lý tự nhiên của Bắc Bộ Việt Nam (hai tiểu vùng kia là Vùng Đông Bắc và Đồng Bằng Sông Hồng). Cho đến nay, vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về địa giới của Tây Bắc, nhưng ngày nay Tây Bắc là tên gọi theo phương vị, lấy thủ đô Hà Nội làm chuẩn, để chỉ một vùng đất thuộc các tỉnh Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Lào Cai và phần Hòa Bình của Phú Thọ (mới). Là nơi sinh sống của 30 dân tộc anh em như Tày, Nùng, Thái, Mường, Mông, Dao, Kinh, Hoa, Khơ Mú, Lào, Lự, Hà Nhì, Kháng, La Hủ, Si La, Phù Lá, Bố Y, Mảng, Cờ Lao, La Chí,…Mỗi dân tộc có một nền văn hóa riêng biệt, tạo nên bức tranh văn hóa vùng Tây Bắc đa sắc màu. Nếu xét về lịch sử văn hóa thì vùng Tây Bắc bao gồm cả miền núi phía tây Thanh, Nghệ. Nhìn theo hình kỷ hà, vùng Tây Bắc là một hình thang, cạnh ở phía bắc giáp Mông Tự, TQ. Cạnh hướng Nam giáp với Lào và Thanh Hóa. Phía đông tiếp giáp vùng Đông Bắc và Đồng bằng Châu Thổ qua rặng Hoàng Liên Sơn và địa máng sông Hồng. Phía tây giáp với Luông Phabang của Lào mà đỉnh xa nhất của Tây Bắc tiếp giáp với Lào và Trung là A Pa Chải.

Địa hình Tây Bắc núi cao và chia cắt sâu, có nhiều khối núi và dãy núi cao chạy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam. Dãy Hoàng Liên Sơn dài tới 180 km, rộng 30 km, với những đỉnh núi cao từ trên 2800 đến 3142m. Dãy núi Sông Mã dài 500 km, có những đỉnh cao trên 1800m. Giữa hai dãy núi này là vùng đồi núi thấp lưu vực sông Đà (địa máng sông Đà). Ngoài sông Đà và sông Hồng (sườn đông Hoàng Liên Sơn) là sông lớn, vùng Tây Bắc chỉ có các sông, suối nhỏ gồm cả thượng lưu sông Mã. Trong địa máng sông Đà còn có một dãy cao nguyên đá vôi chạy suốt từ Phong Thổ đến Thanh Hóa, và có thể chia nhỏ thành các cao nguyên Tà Phình, Mộc Châu, Nà Sản, cũng có các lòng chảo như Điện Biên, Nghĩa Lộ,…góp phần tạo dựng bức tranh Tây Bắc hùng vĩ với nhiều kỳ quan, gắn liền với lịch sử tụ cư của nhiều tộc người ở khu vực này. Phải nói, Tây Bắc Việt Nam có một số địa hình khắc nghiệt nhất cả nước, nếu không muốn nói là của cả Đông Nam Á. Nơi đây có những dãy núi hình nón đá sừng sững, thung lũng sâu và cảnh quan vô cùng đặc sắc.
B. KHÍ HẬU VÙNG TÂY BẮC
Mặc dù nền khí hậu chung không có sự khác biệt lớn giữa các khu vực, nhưng thiên nhiên Tây Bắc khá đa dạng với nhiều tiểu vùng với các đặc trưng về địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, thủy văn…Sự biểu hiện của khí hậu không giống nhau theo chiều nằm ngang, và theo chiều thẳng đứng. Chiều nằm ngang, ở nhiều độ cao từ 800-3000m nên khí hậu ngả sang á nhiệt đới và nhiều nơi cao như Sìn Hồ có cả khí hậu ôn đới. Đã thế, địa hình lại chia cắt bởi các dãy núi, các dòng sông, khe suối, tạo nên những thung lũng, có nơi lớn thành lòng chảo, do vậy đã tạo thành nhiều tiểu vùng khí hậu. Chiều thẳng đứng, dãy núi cao Hoàng Liên Sơn chạy dài liền một khối theo hướng Tây Bắc – Đông Nam đóng vai trò của một bức trường thành ngăn gió Mùa đông vào lãnh thổ Tây Bắc bị suy yếu nhiều, khác với vùng Đông bắc có hệ thống các vòng cung mở rộng theo hình quạt làm cho các đợt sóng lạnh có thể theo đó mà xuống đến tận đồng bằng sông Hồng và xa hơn nữa về phía nam. Vì vậy, nền khí hậụ Tây Bắc nói chung ấm hơn Đông Bắc. Một điểm nữa, hướng phơi của sườn đóng một vai trò quan trọng trong chế độ nhiệt – ẩm, sườn đông Hoàng Liên Sơn đón gió, tiếp nhận những lượng mưa lớn. Trong khi sườn tây tạo điều kiện cho gió “phơn” (gió lào) được hình thành khi thổi xuống các thung lũng, rõ nhất là ở Tây Bắc.
Thời tiết Tây Bắc chia ra hai mùa rõ rệt là mùa hè và mùa đông. Mùa hè từ tháng 4-10, lúc này khí hậu sẽ nóng ẩm. Mùa đông vào tháng 11-3, thời tiết sẽ lạnh, trời nhiều mây và đặc trưng bởi mưa phùn. Những tháng lạnh nhất là tháng 12, tháng 1, khi ở một số vùng nhất định nhiệt độ xuống dưới 0ºC. Những tháng tốt nhất để đến thăm Tây Bắc là tháng 9-11 và tháng 3-5. Nếu muốn chụp những bức ảnh sống ảo, bạn nên đến Tây Bắc vào mùa lúa chín vào khoảng tháng 8-9 và mùa xuân Tây Bắc vào tháng 1-3 là mùa hoa đào, hoa mận, hoa mai nở rộ. Nếu bạn muốn trải nghiệm mùa đông lạnh giá và có tuyết rơi, hãy đến đây vào mùa đông.
C. CÁCH ĐI ĐẾN CÁC TỈNH VÙNG TÂY BẮC
Để đi đến vùng Tây Bắc du khách có thể đi bằng nhiều loại phương tiện khác nhau:
– Du khách trong nước và quốc tế có thể đặt vé đến Sân bay Nội Bài – HN. Từ HN và TP. HCM bay đến Sân bay Điện Biên.
– Đi tuyến đường sắt Bắc – Nam đến Hà Nội hay xe khách Bắc Nam đến Hà Nội và các tỉnh Tây Bắc.
– Từ HN làm trung tâm du khách di chuyển bằng tàu hỏa tuyến Hà Nội – Lào cai, các tuyến xe khách, xe buýt hoặc bằng xe máy trải nghiệm vùng Tây Bắc.
Hệ thống đường ô tô bao gồm các tuyến Quốc lộ 6 Hà Nội – Hoà Bình – Sơn La – Lai Châu – Mường Lay; Quốc lộ 32 Hà Nội – Phú Thọ – Nghĩa lộ – Lai Châu; Tuyến cao tốc Hà Nội – Việt Trì – Yên bái – Lào Cai; Quốc lộ 4D chạy dọc tuyến biên giới phía Bắc nối Lào Cai – Sa Pa – Lai Châu – Phong Thổ – QL12 – Điện Biên; Quốc lộ 37 chạy từ Chí Linh (Hải Dương) đi Sơn La; Quốc lộ 279 Bắc Cạn – Điện Biên,…
Đi du lịch các tỉnh Vùng núi Tây Bắc theo Tour du lịch đây là cách đi du lịch phổ biến và an toàn nhất, khách du lịch nên áp dụng, đặc biệt là khi đi theo đoàn. Nếu đi du lịch theo Tour, xuất phát từ Hà Nội hoặc bất cứ đâu, giá Tour sẽ tùy theo điểm xuất phát và số ngày bạn tham quan du lịch.
D. ĐÔI NÉT VỀ DÒNG LỊCH SỬ, VĂN HÓA VÙNG TÂY BẮC
1. Sơ lược về lịch sử địa chất
Lịch sử hình thành vùng Tây Bắc bắt đầu từ cách đây 500 triệu năm và đến bây giờ vẫn tiếp tục. Thuở ban đầu, vùng này là biển và chỉ có một số đỉnh ở dãy Hoàng Liên Sơn và dãy Sông Mã là nổi lên trên mặt biển. Biển liên tục rút ra xa rồi lại lấn vào suốt hàng trăm triệu năm. Trong quá trình ấy, đã có những sự sụt lún mạnh, góp phần hình thành các tầng đá phiến và đá vôi. Vào cuối đại Cổ sinh (cách đây chừng 300 triệu năm), dãy Hoàng Liên Sơn và dãy Sông Mã đã được nâng hẳn lên. Địa máng sông Đà lúc đó vẫn chìm dưới biển. Cho đến cách đây 150 triệu năm, chu kỳ tạo núi Indochina làm cho hai bờ địa máng từ từ tiến lại gần nhau, khiến cho trầm tích trong địa máng uốn lên thành những nếp uốn khổng lồ, đồng thời làm cho tầng đá vôi có tuổi cổ hơn lại trồi lên trên tầng đá phiến, tạo thành những cao nguyên đá vôi ngày nay. Trong quá trình tạo núi, còn có sự xâm nhập của macma. Kết quả là, vùng Tây Bắc được nâng lên với một biên độ đến 1000 mét.

2. Sơ lược về Nguồn gốc – Lịch sử – và các tộc người vùng Tây Bắc
Hiện nay khi nghiên cứu thời kỳ tiền sử của Đông Nam Á, giới khoa học quốc tế thường sử dụng các thuật ngữ văn hóa Hòa Bình để chỉ văn hóa đồ đá mới và văn hóa Đông Sơn để chỉ văn hóa đồ đồng. Theo đó, văn hóa Hòa Bình nằm vào cuối kỷ Cánh Tân. Vào kỷ này, người Homosapiens đã phân hóa thành hai đại chủng Mongoloid sống ở Bắc Bộ và Australioid sống ở Nam Bộ Châu Á. Trong đó, đại chủng Australoid chủ yếu thuộc vùng Đông Nam Á. Dấu vết của đại chủng này được các nhà khảo cổ phát hiện trong văn hóa Hòa Bình cho phép đoán định người Hòa Bình sống trong các hang động đá vôi với cơ cấu tổ chức tương đương như thị tộc. Họ đã chế tác công cụ bằng cách ghè đẽo cuội ở ven sông, biết trồng cây lương thực (đặc biệt là biết trồng lúa) nhưng họ sống chủ yếu bằng phương thức săn bắt và hái lượm. Theo nhiều nhà nghiên cứu, cư dân của văn hóa Hòa Bình không phải thuần chủng mà đã có sự hỗn chủng. Khoảng 10.000 năm trước Công nguyên, một bộ phận của đại chủng Mongoloid vốn ở phía bắc di cư xuống vùng đất liền và hải đảo Đông Nam Á. Tại đây, họ đã hỗn chủng với người Australoid vốn là cư dân bản địa. Một bộ phận khác của đại chủng Australoid không hỗn chủng lại tiếp tục đi xuống miền cực nam và ra biển. Vậy là vùng Đông Nam Á vừa có di duệ của người Australoid là cư dân gốc, người Mongoloid di cư đến, vừa có lớp người hỗn chủng đã tạo ra những ngữ hệ và bản sắc văn hóa khác nhau.
Những kết quả khảo cổ ở nước ta cũng chứng minh trước đó từ rất lâu, người vượn đã từng xuất hiện ở vùng này thông qua những di chỉ tìm thấy trong lớp trầm tích hậu kỳ đá cũ ở hang Hùm, Lào Cai sống cách ngày nay chừng 14-8 vạn năm và được coi là người hiện đại đầu tiên. Nếu vậy thì người vượn hang Hùm có lẽ cùng thời với người vượn Pithecanthophe (người cổ) tìm được bên bờ sông Solo ở Java, Indonesia vào năm 1891.
Theo thuyết một trung tâm của giới khoa học Liên Xô cũ có thể thấy rằng cách đây hàng chục vạn năm, vùng Tây Bắc đã có sự xuất hiện hai chủng loại. Một là người cổ (Pithecanthophe) và sau đó là người hiện đại (Homo sapiens) để từ đó phân nhánh ra nhiều chủng người là tổ tiên của các tộc người hiện nay. Theo đó, các chủng người này là cư dân gốc đã xuất hiện vào thời bình minh của lịch sử và tồn tại lâu dài vào thời nguyên thủy. Nhưng tình hình đa chủng tộc ở Việt Nam nói chung, Tây Bắc nói riêng còn phụ thuộc vào yếu tố thiên di xảy ra từ sau Công nguyên cho mãi đến gần đây.
Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng thiên di và phân hóa của nhiều tộc người là sự xâm lược từ phương Bắc. Điều này diễn ra mạnh mẽ nhất kể từ sau khi tổ chức tiền quốc gia Văn Lang ra đời. Thực ra, Văn Lang chưa phải là hình thái nhà nước – quốc gia đích thực. Đó chắc chắn là một tổ chức liên minh bộ lạc. Trong đó, có một bộ lạc đông cư dân nhất, lớn mạnh về nhiều mặt, có vị thế tốt nhất về kinh tế, địa lý, tình trạng quản lý…để tập hợp các bộ lạc chung quanh có chung một hoặc nhiều quyền lợi nào đó trong đời sống thành tổ chức liên minh bộ lạc. Điều này chỉ có thể diễn ra đối với cư dân sinh tụ ở các vùng núi thấp hoặc trung du.
Tiếp sau đó, nước Âu Lạc hình thành (từ Âu Việt và Lạc Việt) đã nhiều lần đánh thắng quân Tần từ phương Bắc tràn xuống nhưng đến năm 183 trước Công nguyên thì bị Triệu Đà của nước Nam Việt thôn tính và nước Âu Lạc nhập vào với Nam Việt. Sự sáp nhập nhiều lần như vậy, với nhiều bộ lạc khác nhau ít nhiều cũng chứng tỏ ngay từ thời tiền sử nước ta đã xuất hiện nhiều tộc người để dần tiến đến cộng đồng người Việt cổ.
Các dấu mốc Lịch Sử
Từ thời các vua Hùng dựng nước Văn Lang chia nước ta thành 15 bộ, Tây Bắc lúc đó thuộc bộ Tân Hưng.
Trong thời kỳ Bắc thuộc (179TCN – 905): thời nhà Tần, Tây Bắc thuộc Tượng quận; đời Hán thuộc Giao chỉ; đời Ngô là các huyện Lâm Tây, Tây Đạo thuộc quận Tân Xương; thời Tùy, Đường là huyện Tân Xương, sau đổi là châu Phong.
Năm 1014, tướng nước Đại Lý là Đoàn Kính Chí đem quân vào chiếm đóng châu Vị Long và châu Đô Kim (nay thuộc Tuyên Quang), vua Lý Thái Tổ sai con là Dực Thánh Vương đi đánh dẹp, sáp nhập luôn khu vực đến ngày nay là vùng Hà Giang về Đại Cồ Việt.
Năm 1159, nhân khi nước Đại Lý suy yếu, vua Lý Anh Tông và Tô Hiến Thành đã tiến hành thu phục vùng đất của các tù trưởng dân tộc thiểu số người Thái ở bắc Yên Bái, nam Lào Cai vào lãnh thổ Đại Việt.
Năm 1294, thượng hoàng Trần Nhân Tông, cùng Phạm Ngũ Lão, đi đánh bại Ai Lao thu nạp đất đai. Năm 1297, Trần Anh Tông sai Trần Nhật Duật đánh A Lộc (Ai Lao), Trần Quốc Tảng đánh Sầm Tử, Phạm Ngũ Lão đánh tan Ai Lao thu lại đất cũ ở sông Chàng Long. Năm 1301, Phạm Ngũ Lão đánh Ai Lao ở Mường Mai, Châu Mai (nay là đất Mai Châu). Các vùng đất thu nạp được thời kỳ này nhà Trần đặt làm huyện Mông đạo Đà Giang. Đến đời thuộc Minh là đất hai huyện Mông và Tư Mang, sang thời nhà Lê sơ là toàn bộ châu Mộc (Mộc Châu (nay là Mộc Châu, Vân Hồ), Đà Bắc, Mã Nam (nay là huyện Sop Bao Lào)), và châu Mai phủ Gia Hưng.
Năm 1329, thượng hoàng Trần Minh Tông đi đánh mán Ngưu Hống, thổ tù Mường Mỗi, tại Mang Việt đạo Đà Giang thu nạp các vùng đất nay là Yên Châu, Phù Yên, Thuận Châu, Tuần Giáo, Sơn La, Mai Sơn tỉnh Sơn La.
Theo Minh sử, năm 1405, Đèo Cát Hãn dâng sớ lên triều đình nhà Minh tố cáo nhà Hồ đánh chiếm 7 trại Mãnh Man thuộc châu Ninh Viễn dưới quyền Đèo Cát Hãn, vốn thuộc phủ Lâm An của tỉnh Vân Nam. Trong các nguyên do mà nhà Minh viện ra khi sang đánh nhà Hồ có lý do này. Nhà Hồ lúc đó yếu thế phải trả lại Đèo Cát Hãn các trại này. Châu Ninh Viễn đến thời Lê sơ gọi là Mường Lễ.
Đến năm 1431, Lê Lợi thu phụ Đèo Cát Hãn, có thêm châu Phục Lễ (Mường Lễ). Vùng thượng lưu sông Đà do Đèo Cát Hãn cai quản, từng là châu Ninh Viễn của Vân Nam, nhập về. Nay là vùng biên giới Lai Châu, Điện Biên và một số đất thuộc Vân Nam.
Năm 1467 Lê Thánh Tông thu nạp vùng sách Câu Lộng (Mã Giang) từ Ai Lao, nay là khoảng huyện Sông Mã tỉnh Sơn La.
Năm 1478, vua Lê Thánh Tông, sau khi thu phục tiểu vương quốc Bồn Man đã sáp nhập vùng phía tây Sơn La (khoảng các vùng Sốp Cộp, Sông Mã), các vùng phía tây Thanh Hóa, Nghệ An và tỉnh Hủa Phăn của Lào ngày nay vào đất Đại Việt. Đến thời Lê Thánh Tông, cơ bản vùng Tây Bắc Việt Nam đã hình thành và thuộc vào lãnh thổ Đại Việt. Và từ đây cho đến cuối thế kỷ 19, toàn bộ vùng Tây Bắc Việt Nam đều tương đương với cương vực của một địa danh duy nhất mang tên Hưng Hóa, ban đầu là thừa tuyên Hưng Hóa, rồi đến xứ Hưng Hóa, sau đó là trấn Hưng Hóa và cuối cùng là tỉnh Hưng Hóa.
Đến cuối triều Lê trung hưng, trong những năm 1684-1777, khoảng 6 châu của phủ An Tây, trấn Hưng Hóa, Đại Việt giáp giới với tỉnh Vân Nam đã bị mất về lãnh thổ Trung Quốc.
Năm 1768-1769, quân nhà Lê-Trịnh, tiến đánh Hoàng Công Chất cát cứ Mường Thanh của Lào Lung, thu nạp đất này lập ra châu Ninh Biên (Điện Biên Phủ) thuộc trấn Hưng Hóa.
Cũng cuối nhà Lê trung hưng, triều Lê Hiển Tông niên hiệu Cảnh Hưng 36 (1776), châu Mộc chia tách thành 3 châu làː châu Đà Bắc, châu Mộc, châu Mã Nam.
Khoảng những năm 1780 đến đầu thời nhà Tây Sơn, Thổ tù các châu này vốn là anh em họ Xa, bất hòa. Thổ tù châu Mã Nam về theo châu Xiềng Khô của Vương quốc Luang Phrabang (Lào Lung). Từ đó vùng lãnh thổ nằm bên bờ nam sông Mã là châu Mã Nam tiếp giáp phía nam tỉnh Sơn La ngày nay trở thành lãnh thổ Lào, mà không còn thuộc Tây bắc Việt Nam nữa.
Dưới triều Nguyễn thế kỷ 19, Tây Bắc được đổi là tỉnh Hưng Hóa, bao gồm 10 châu Thái, cụ thể là các châu: Mường Lò, Mường Tiến (Than Uyên), Mường Tấc (Phù Yên), Mường Sang (Mộc Châu), Mường Vạt (Yên Châu), Mường Mụa (Mai Sơn), Mường La, Mường Muổi (Thuận Châu), Mường Thanh (Điện Biên), Mường Lay.
Tháng 4 năm 1884 quân Pháp mở cuộc hành chinh đánh lấy thành Hưng Hóa. Chiếm được Hưng Hóa, người Pháp cho phân định lại địa giới, cắt thêm những tỉnh mới cùng tiểu quân khu để dễ dàng cai trị.
Năm 1887, Pháp ký kết với nhà Thanh công ước Pháp-Thanh hoạch định biên giới, quy định cắt toàn bộ khu vực lãnh thổ châu Chiêu Tấn về cho nhà Thanh. Khu vực này cùng với khu vực 6 châu của phủ An Tây Đại Việt đã mất vào thời nhà Lê, vốn là đất thế tập tự trị của dòng họ Đèo người Thái trắng. Châu Chiêu Tấn, đương thời do Đèo Văn Trị cần vương kháng Pháp cai quản, bị Pháp chuyển cho nhà Thanh.
Năm 1895, cùng với sự đầu hàng của Đèo Văn Trị và sự suy yếu của nhà Thanh, Pháp đã ký kết với nhà Thanh công ước hoạch định biên giới sửa đổi, quy định lấy lại phần đất tỉnh Hưng Hóa cũ đã mất cho nhà Thanh trong công ước năm 1887, và lấy thêm các phần đất nay là các vùng Mường Tè tỉnh Lai Châu; Mường Nhé, Mường Chà tỉnh Điện Biên về cho xứ Bắc Kỳ thuộc Pháp. Phần đất này là 3/6 châu đã mất cho nhà Thanh từ thời nhà Lê trung hưng. Tuy nhiên, đổi lại Pháp cắt cho Trung Quốc phần còn lại sau công ước 1887 của vùng đất Tụ Long Hà Giang, nơi có nhiều mỏ khoáng sản quý.
Tại vùng Tây Bắc thời Pháp thuộc đã lập ra xứ Thái tự trị. Năm 1955 Khu tự trị Thái-Mèo được thành lập, gồm 3 tỉnh Lai Châu, Sơn La và Nghĩa Lộ, và đến năm 1962 gọi là Khu tự trị Tây Bắc. Khu tự trị này giải thể năm 1975.
Các tộc người vùng Tây Bắc Tây Bắc, địa bàn sinh sống của gần 30 dân tộc thuộc 3 ngữ hệ khác nhau: Ngữ hệ Nam Á, Thái – Kadai & Hán – Tạng.
– Ngữ hệ Nam Á (có 3 nhóm dân tộc là Việt – Mường, Mông – Dao, Môn – Khơ Me)
Cư dân Nhóm Việt – Mường gồm dân tộc Kinh, Mường, Thổ. Người Kinh đến làm ăn, sinh sống ở Tây Bắc từ khoảng thế kỷ 16 các lái buôn người Kinh đã ngược sông Đà lên buôn bán. Giữa thế kỷ 18 chế độ phong kiến Việt Nam bước vào thời kỳ suy vong, một bộ phận nông dân đã phiêu bạt lên sinh sống ở các châu tiếp giáp với miền xuôi. Đầu thế kỷ 20 thực dân Pháp ồ ạt đưa phu lên mở đường 41 (QL6)…Và từ sau năm 1954, đặc biệt từ 1958 với chính sách của Đảng, hàng nghìn cán bộ, giáo viên và nông dân ở các tỉnh Thái Bình, Hưng Yên, Hà Tây…đã tình nguyện lên công tác, sinh sống ở Tây Bắc.
Người Mường chủ yếu sống ở vùng núi phía tây của khu vực sông Hồng và sông Mã, đặc biệt tập trung ở Hòa Bình – Phú Thọ, Thanh Hóa, và một phần ở Sơn La. Họ có lịch sử lâu đời gắn bó với vùng đất này. Người Mường và người Việt có chung nguồn gốc từ người Lạc Việt cổ, trong quá trình phát triển đã có sự phân hóa và hình thành hai tộc người riêng biệt, nhưng vẫn có nhiều điểm tương đồng về văn hóa, ngôn ngữ. Ngoài ra, nhóm cư dân này còn có người Thổ cũng có trình độ phát triển kinh tế xã hội khá cao so với các dân tộc khác ở trong vùng.
Nhóm tiếng Mông – Dao. Người Dao, có nguồn gốc từ Trung Quốc, việc chuyển cư sang Việt Nam kéo dài suốt từ thế kỷ 12, 13 cho đến nửa đầu thế kỷ 20. Họ tự nhận mình là con cháu của Bàn Hồ (Bàn vương), một nhân vật huyền thoại rất phổ biến và thiêng liêng ở người Dao. Hiện nay họ sinh sống chủ yếu ở các vùng Mộc Châu, Phù Yên, Bắc Yên…
Dân tộc Mông ở Tây Bắc có 5 ngành, trong đó đông nhất là hai ngành Mông Trắng và Mông Đen. Người Mông ở Việt Nam có quan hệ mật thiết với các nhóm người Mông ở miền Nam Trung Quốc. Có quan điểm nêu người Mông thiên di vào Việt Nam trong khoảng thời gian từ cuối thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19, địa bàn cư trú ở những vùng cao núi đá hiểm trở. Nhóm cư dân này còn có người Pà Thẻn (Đông Bắc) cũng có trình độ phát triển kinh tế xã hội tương đồng so với người Mông, người Dao ở trong vùng.
Nhóm tiếng Môn – Khơ Me ở Tây Bắc bao gồm các dân tộc Khơ Mú, Kháng, Mảng, Xinh Mun. Hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau nói về sự có mặt của nhóm cư dân này ở vùng đất Tây Bắc. Tuy nhiên, dựa vào kết quả của một số công trình nghiên cứu và một số tài liệu chữ Thái ở địa phương “Thuở ấy, cư dân Tây Bắc vẫn là một bộ phận của nền văn minh đồng thau Đông Sơn với sản phẩm nổi tiếng là trống đồng và công cụ bằng đồng, những thứ mà ngày nay đã trở thành vật thiêng, chỉ dùng trong các nghi lễ thờ cúng tổ tiên. Trong số cư dân ấy, người Kháng có tục uống nước bằng mũi (Tà mui). Nước măng chua, hoà tỏi, rau thơm, gạn lấy nước đổ vào vỏ quả bầu mận, cho chảy vào mũi, trong khi ấy miệng thì nhai cá hay thịt”. Cách uống này vẫn còn tồn tại trong người Kháng ở ven sông Đà,…Đặc biệt, người Kháng rất giỏi làm thuyền độc mộc, đánh cá ở các sông, suối. Người Thái cũng phải thừa nhận “thuyền tốt không gì bằng thuyền Kháng” cho thấy trước khi người Thái thiên di vào vùng Tây Bắc Việt Nam thì các cư dân này đã là chủ nhân sinh sống lâu đời ở vùng đất này.
Người Mảng, cho đến ngày nay vẫn còn giữ được tục săm những chấm, hoặc vòng tròn có chấm ở giữa, quanh miệng và cằm. Vì thế người Thái gọi họ là “Xá cằm hoa” (Xá cang lái). Người Mảng cũng là dân tộc có nhiều kinh nghiệm trong việc làm nương dẫy ở các sườn núi có độ dốc cao. Cuộc sống của họ dựa vào nương rẫy, săn bắt, hái lượm và đánh cá ở ven các sông, suối…Về mặt sinh hoạt văn hoá tinh thần, người Mảng cũng giống như người La Ha đều biết nhảy múa trên nền nhạc cụ tre nứa dỗ trên mặt sàn tấm ván…
Có thể nói: “Tất cả những nét đặc trưng như: trống đồng, thuyền độc mộc, nhạc cụ tre nứa, tục săm mình của các cư dân Nam Á đều như phảng phất những gì đã từng được sách chữ Hán, cũng như các truyền thuyết nói về xứ sở của các vua Hùng thời xa xưa”. Điều đó cho phép chúng ta có thể khẳng định cư dân Nam Á là nhóm cư dân bản địa sinh sống lâu đời trên vùng đất Tây Bắc.
– Ngữ hệ Thái – Kadai (có 2 nhóm: Tày – Thái và nhóm Kadai)
Nhóm Tày – Thái có dân tộc Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Tày, Thái, Sán Chay. Dân tộc Thái có hai ngành chính Thái Đen và Thái Trắng. Mặc dù đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về quá trình thiên di của người Thái vào vùng Tây Bắc, nhưng căn cứ vào một số công trình nghiên cứu và trên cơ sở của các tài liệu dã sử chữ Thái địa phương…đồng ý với quan điểm người Thái thiên di vào vùng Tây Bắc có hai đợt:
Đợt thứ nhất vào khoảng thế kỷ 9,10 một bộ phận người Thái Trắng ở Thượng lưu Tây Giang đã men theo triền sông Đà và sông Mê Kông đi về phía Nam vào vùng Bắc Lào và Tây Bắc Việt Nam. Đến thế kỷ 13 các thủ lĩnh Lôm Lẹch Lẹt Ma đã bành trướng thế lực. Mường Lay đã trở thành một trung tâm của người Thái này ở điểm cực Bắc và Tây Bắc.
Cũng trong thời gian này, một bộ phận người Thái trắng từ Mường Đeng của Lào thiên di vào vùng Mường Sang, Pa Háng…và nhanh chóng toả đi khắp vùng Mộc Châu. Trong quá trình thiên di, để ổn định địa bàn cư trú, chiếm cứ đất đai, các nhóm Thái đã phải tranh chấp quyết liệt với các nhóm cư dân bản địa Nam Á (Kháng, Mảng, Xinh Mun, La Ha). Đến cuối thế kỷ 13, Nhọt Cằm (vị thủ lĩnh người Thái trắng) đã làm chủ toàn bộ vùng Mộc Châu rộng lớn. Từ đó vùng đất Mường Sang đã trở thành trung tâm của người Thái Trắng Mộc Châu. Người Thái ví Nhọt Cằm như “Then”(trời) như “phạ”(đất) nổi tiếng khắp vùng.
Đợt thiên di thứ hai của người Thái đen diễn ra vào thế kỷ 11, 12, “Một bộ phận tổ tiên người Thái Đen từ Mường Ôm, Mường Ai, miền đất nằm giữa sông Nậm U và sông Hồng (Nặm Tao) thuộc miền Nam tỉnh Vân Nam do Tạo Ngần, Tạo Xuông thiên di xuống chiếm miền Mường Lò mà cánh đồng Nghĩa Lộ là trung tâm”. Đến đời con là Tạo Lò tiếp tục phát triển thế lực đến các miền xung quanh. Sau đó, từ vùng “Đất ba giải, miền chín lưu vực con sông” Lạng Chượng (con út của Tạo Lò) tiếp tục cầm binh mở rộng thế lực. Để chiếm cứ đất đai, địa bàn cư trú, Lạng Chượng đã phải nhiều lần chinh chiến với các cư dân bản địa người Khơ Mú, La Ha, Xinh Mun, Kháng, thuộc nhóm Nam Á. Quân Xá chịu thua phải chịu dâng trống đồng, để quân Thái chiếm đất, còn quân Xá phải chạy vào vùng sâu mà ở”. Hiện nay trong lễ hội truyền thống “Xênra” của người Thái Thuận Châu có cả một mục diễn lại cảnh người Xá dâng trống đồng cho người Thái (Xá Cú Coong).
Như vậy, đến đầu thế kỷ 13 ở Tây Bắc đã hình thành ba trung tâm của người Thái: điểm cực Bắc và Tây Bắc là Mường Lay, điểm cực Nam và Tây Nam là Mộc Châu, vùng giữa là Mường Muổi (trung tâm của người Thái Đen). Trong quá trình phát triển, ba trung tâm Thái kể trên thường xuyên xung đột, lấn chiếm lẫn nhau. Đến cuối thế kỷ 14 thế lực của Tạ Ngần ở Mường Muổi (Thuận Châu) trở nên cường thịnh đủ sức thu phục được hai trung tâm người Thái ở Mộc Châu, Mường Lay và các tộc người khác ở Tây Bắc, xoá đi tình trạng phân tán cát cứ, thống nhất được Tây Bắc. Từ đây, lịch sử xã hội Thái ở Tây Bắc có những bước phát triển quan trọng và đạt được những thành tựu rực rỡ về tất cả các mặt.
Các dân tộc: Tày, Nùng ở Tây Bắc với một số lượng không đáng kể, họ thường sinh sống đan xen với các dân tộc Thái, Mường, Kinh ở Lào Cai… Các dân tộc Tày, Nùng đến vùng Tây Bắc từ thời Pháp thuộc.
Người Lào ở Tây Bắc từ lâu đời nhưng với số lượng không đáng kể, hiện nay người Lào sinh sống chủ yếu ở Mường Và (Sốp Cộp-Sơn La), Mường Lói (Điện Biên), Tam Đường Lai Châu và một số địa phương trong vùng.
Nhóm ngôn ngữ Kađai gồm có 4 dân tộc: La Chí, La Ha, Cơ Lao và Pu Péo. Họ cư trú ở những vùng núi cao hẻo lánh giáp biên giới phía bắc, thuộc các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Lào Cai và vùng Hà Giang. Trong ngôn ngữ của họ bảo lưu dấu vết về mối quan hệ xa xưa giữa những cư dân thuộc hai ngữ hệ Nam Á và Nam Đảo.
– Ngữ hệ Hán – Tạng (gồm Nhóm tiếng Hán và Tạng – Miến)
Các dân tộc Hoa, Sán Dìu, Sán Chỉ (Nhóm tiếng Hán). Người Hoa (Hán) thiên di đến vùng Tây Bắc vào những thời điểm và do nhiều nguyên nhân khác nhau, hoặc là do đói khổ phải phiêu bạt, hoặc là những nghĩa binh trong các cuộc khởi nghĩa nông dân bị triều đình đàn áp cũng đã dạt vào lẩn trốn…Ồ ạt và gần đây nhất là từ khi triều đình Mãn Thanh tăng cường đàn áp các phong trào nông dân khởi nghĩa, đặc biệt là sau sự thất bại của cuộc khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc, nhiều vị thủ lĩnh và các nghĩa quân đã mang theo cả gia đình, vợ con chạy vào vùng Tây Bắc để tránh sự đàn áp của triều đình. Các dân tộc Sán Dìu và Sán Chỉ (Sán Chay) đều là di cư từ Trung Quốc xuống, tập trung chủ yếu ở vùng Đông Bắc vào khoảng cuối thời nhà Minh, đầu nhà Thanh. Dân tộc Sán Dìu được cho là có nguồn gốc từ người Dao, trong khi Sán Chỉ là một nhóm địa phương của dân tộc Sán Chay.
Còn các dân tộc Hà Nhì, Phù Lá, La Hủ, Lô, Cống, Si La (Nhóm Tạng – Miến). Nguồn gốc chủ yếu ở các vùng phía nam tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, di cư xuống các tỉnh vùng cao như Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai. Tổ tiên của họ có thể là các tộc người Tạng-Miến, các nhóm này đã tách ra và hình thành các bộ tộc riêng biệt.
Chung lại, Vùng Tây Bắc (và có thể rộng hơn rất nhiều) thời nguyên thủy vốn đã là bản địa của một số bộ lạc là tổ tiên của các dân tộc hiện nay. Càng về sau các bộ lạc bản địa lại có sự phân hóa, hội nhập, có thể đồng hóa… với các tộc người khác di cư từ các vùng thuộc nước Đại Lý, nước Nam Việt hoặc xa hơn từ Bắc Bộ Châu Á tràn xuống. Họ là chủ nhân lâu đời của vùng đất Tây Bắc ngày nay. Tuy có sự cộng cư lâu dài nhưng ngoài một số đặc điểm văn hóa chung các tộc người nơi đây vẫn bảo tồn được những sắc thái văn hóa đặc thù của dân tộc mình.
3. Văn Hóa Vùng Tây Bắc

Tây Bắc là một miền núi cao hiểm trở. Các dãy núi chạy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam, dãy Hoàng Liên Sơn, được người Thái gọi là “sừng trời” (Khau phạ), chính là bức tường thành phía đông vào vùng Tây Bắc. Nó nằm bên bờ phải sông Hồng, con sông mà tổ tiên người Thái gọi là Nậm Tao, nên ngày nay đoạn sông này còn có tên tiếng Kinh là sông Thao. Dòng Nậm Tao chiếm một vị trí quan trọng trong lịch sử thiên di của người Thái đen vào Tây Bắc. Theo các nhà dân tộc học thì dòng sông là con đường mà theo đó tổ tiên người Thái Đen thiên di vào Việt Nam từ thế kỉ 11 đến thế kỉ 14.
Từ dòng Nậm Tao, người Thái tạt vào bên phải, chiếm lấy đất Nghĩa Lộ làm bàn đạp để rồi tiến mãi đến tận Điện Biên Phủ, giáp Lào. Đất ấy, tên Thái là Mường Then tức Mường Trời và trở thành “cố đô” của nhiều đời tù trưởng. Vậy nên, dòng Nậm Tao được hiểu là địa đầu phía Đông và biên giới Lào là địa đầu phía Tây của vùng văn hóa Tây Bắc. Giữa hai điểm đó con sông Đà phát nguyên từ phía Bắc kẻ một đường chéo Tây Bắc – Đông Nam, đi qua đất Hòa Bình rồi hợp lưu với dòng Nặm Tao ở ngã ba Việt Trì để làm nên sông Cái – sông Hồng của châu thổ phì nhiêu. Sát với biên giới Lào là dòng sông Mã chảy từ Điện Biên xuống đến phía Tây tỉnh Sơn La thì quặt sang đất Lào và trở về miền Tây Thanh Hóa để xuôi về biển. Vậy nên, đất Tây Bắc còn được đồng bào gọi là đất “ba con sông”, 3 dải nước “màu trắng, xanh, đỏ”. Ba con sông tự nhiên nhưng trở thành biểu tượng riêng của vùng đất với ba màu của nắng, của cây và của đất. Chúng biến thành những tín hiệu văn hóa vùng mà người dân bản địa lấy đó làm tự hào, để phân biệt với người vùng muối (Kinh), người vùng sông Lô, sông Chảy (Tày, Nùng),…
Từ dưới xuôi đi lên phải qua đất Hòa Bình, xưa kia phải vượt sông Đà, rồi phải leo gần 100km đèo mới đến được cao nguyên Mộc Châu. Phải lên đến đấy mới bước chân vào vùng Tây Bắc, nơi mà hoa ban nở trắng rừng, xen lẫn với thông reo vi vút và những rừng tre. Từ cao nguyên “Tre Ban” đổ xuống thung lũng hẹp Yên Châu để rồi leo qua dãy Chiềng Đông lại đổ xuống Nà Sản mà về Sơn La. Từ Sơn La phải vượt dãy Pha đến (nơi ngăn cách Trời – Đất) đến ngã ba Tuần Giáo, rẽ trái vào Điện Biên, đi thẳng thì lên Lai Châu. Từ đây ngược nữa lên phía phải để đến đất Sìn Hồ rồi Phong Thổ của dãy Hoàng Liên Sơn, ngược phía trái là đến đất Mường Tè, Mường Nhé – Điện Biên, nơi con gà gáy ba nước Việt – Lào – Trung đều nghe. Hành trình vừa kể trên chính là trục dọc của vùng văn hoá Tây Bắc.
Thiên nhiên Tây Bắc rất đa dạng, thổ nhưỡng nhiều loại hình. Cư dân cổ truyền, những chủ nhân từ xa xưa của Tây Bắc đều làm nông nghiệp với hai loại hình: ruộng nước ở thung lũng và nương rẫy ở sườn hay đỉnh núi cao. Tây bắc là vùng có sự phân bố dân cư theo độ cao rất rõ rệt. Có câu ngạn ngữ Thái đã nói “Xá ăn theo lửa; Thái ăn theo nước; H’mông ăn theo sương mù”. Người Thái, Người Mường và một bộ phận người Dao làm ruộng nước trong các thung lũng, các vùng lòng chảo. Người Xá, theo tên gọi miệt thị xưa, bao gồm nhiều tộc khác nhau như Khơmú, Laha, Kháng, Mảng, Xinhmun…Họ làm nương theo phương pháp thô sơ, phát rừng, đốt nương rẫy, chọc lỗ tra hạt. Còn người H’mông thường ở núi cao sương mù, cũng phát rừng, cày xới làm nương thâm canh. Ruộng và nương chỉ giải quyết được lương thực và một phần rau xanh. Thịt, cá, rau và cả lương thực khi mất mùa, đều còn phải trông vào hái lượm, săn bắt.
Với khoảng 30 dân tộc sinh sống ở đây. Chỉ kể những dân tộc đông dân ta còn có Thái với các ngành Đen, Trắng, Đỏ; H’mông với các ngành Trắng, Xanh, Đen, Hoa; Dao với các ngành Quấn chẹt, Nga Hoàng, Dao đỏ; Mường; Khơmú; Laha; Xinhmun; Tày…Ngoài ra, còn có một bộ phận người Kinh vốn là con cháu nghĩa binh Hoàng Công Chất đã sống lâu đời ở đây, và một bộ phận người Hoa, vốn là dòng dõi quân Lưu Vĩnh Phúc. Mỗi dân tộc đều có văn hóa mang bản sắc riêng. Quả là khó khi muốn nói về văn hoá cả vùng với một quần thể cư dân đa dạng như thế. Nhưng dẫu sao tính chất vùng của văn hóa Tây Bắc vẫn được hiện ra lồ lộ không thể phủ định được.
Nét Văn Hóa Đời Sống Tây Bắc

Từ mươi thế kỉ trở lại đây, với vai trò chủ thể trong lịch sử phát triển của vùng, Văn hóa Thái với những yếu tố diễn biến từ văn hóa Đông Nam Á nổi lên như một sắc thái đại diện cho văn hóa Tây Bắc.
Trước hết xin bắt đầu từ văn hóa “đời thường”. Từ cao nguyên Mộc Châu xuôi xuống thung lũng Yên Châu ở phía Bắc là đã bắt gặp những ngôi nhà sàn Thái, bản Thái, Văn hóa nông nghiệp thung lũng Thái nổi tiếng vì hệ thống tưới tiêu. Người ta hay nói đến hệ thống mương, phai, lái, lịn ở người Thái, cách lấy nước từ nguồn trên núi cao, dẫn về ruộng, về nhà,…Người Thái nuôi cá ngay trong mực nước của ruộng. Gặt lúa xong là tháo nước bắt cá. Cho nên, dâng cúng trong lễ cơm mới bao giờ cũng có xôi và cá nướng. Và món cá là biểu hiện lòng hiếu khách. Những dòng suối đóng vai trò quan trọng trong tâm linh con người. Suối là nơi trú ngụ của thần nước, hàng năm, người Thái làm lễ cúng bản (Xên bản) vào mùa xuân, tổ chức ngay trên bờ vực nước,…Con suối và cánh đồng, những sản phẩm sáng tạo và chiếm lĩnh của con người cũng đã đi vào thơ ca, âm nhạc như những hình tượng đẹp của cảm xúc thẩm mỹ.
Nương rẫy là một bộ phận bổ sung không thể thiếu, với nương đồng bào có lúa, rau quả,… Bông và chàm cũng trồng trên nương. Và rừng, rừng bạt ngàn là nơi con người lấy rau rừng, cây thuốc, màu nhuộm, săn bắt thú rừng và khi thất bát mùa màng thì chính rừng, với củ mài, bột báng đã cứu họ khỏi chết đói. Bản làng có một thái độ rất kính trọng với rừng. Chẳng phải vì rừng có ma thiêng, mà vì rừng là nơi con người nương tựa để tồn tại. Luật Thái có hàng chục điều quy định về việc khai thác rừng, săn bắn thú, đặc biệt là những quyết định về bảo vệ rừng đầu nguồn.
Người Thái bảo vệ rừng ban không chỉ vì nó là biểu tượng văn hóa của quê hương họ, mà còn vì chỉ có ban mới mọc được ở nơi đất cằn, nhờ có ban giữ lại mùn từ trên cao chảy xuống, mà đất cằn tái sinh, mà mùn rác không lấp ruộng, nghẽn suối… Chỉ riêng cách ứng xử với cây ban cũng đủ thấy đặc trưng văn hóa Thái nói riêng, Tây Bắc nói chung có một trình độ khoa học thế nào, có tính nhân văn ra sao trong cái nhìn sinh thái học. Chẳng riêng gì người Thái, con người H’mông trên núi cao, người Khơmú, người Dao, người Kháng, Laha v.v.. ., trong rừng sâu đều tự nguyện tuân theo luật Thái. Điều đó không đơn thuần vì giai cấp thống trị Tây Bắc trước kia là thuộc tộc Thái, mà điều quan trọng là ở chỗ, đây cũng là quyền lợi lâu dài của tất cả các dân tộc trong vùng.
Các dân tộc trong vùng đều có tín ngưỡng “mọi vật có linh hồn”, một loại tín ngưỡng mà mọi dân tộc. trên hành tinh đều trải qua. Có đủ loại “hồn” và các loại thần sông núi, suối khe, đá, cây, súc vật, các lực lượng thiên nhiên như sấm, chớp, mưa, gió. Các bộ phận trên thân thể con người cũng có hồn. Người Kinh cho rằng có ba hồn bảy vía (nam) và ba hồn chín vía (nữ). Người Thái có đến 80 hồn (Xam xếp khoăn mang nả. Hả xếp khoăn mang lăng). Người chết không biến mất mà trở về sống ở bản của tổ tiên…
Lĩnh vực văn hóa nghệ thuật thể hiện cái nhìn thẩm mỹ của nhân dân Tây Bắc, mang nhiều nét độc đáo và trở thành một trong những dấu hiệu làm nên đặc trưng văn hóa vùng. Riêng về lĩnh vực này đã phải cần đến một công trình lớn mới có thể trình bày cho cặn kẽ được. một vài điều nêu ra đây chỉ là những nét chấm phá vào một toàn cảnh lớn lao, hoành tráng và mang đậm tính dân gian.
Trong xã hội cổ truyền Tây Bắc, văn hóa chuyên nghiệp, bác học chưa xuất hiện. ở người Thái tuy đã có một vài nghệ nhân giỏi sáng tác thơ ca nổi tiếng và mặc dầu dân tộc này có chữ viết cổ, nhưng tác phẩm của họ vẫn lưu truyền chủ yếu bằng phương thức truyền miệng. Mỗi dân tộc trong vùng đều có một kho vốn sáng tác ngôn từ giàu có và đủ thể loại từ tục ngữ, thành ngữ, đồng dao, giao duyên, cho đến lời khấn, lời bùa chú, các áng văn trong lễ tang, trong lễ hội, các bài văn vần dạy bảo đạo đức cho dâu rể trong đám cưới, các thần thoại, đồng thoại, cổ tích, truyện cười v.v… ở một số dân tộc có cả truyện thơ dài hàng ngàn câu như Tiễn dặn người yêu (Thái), Tiếng hát làm dâu (H’mông), Vườn hoa núi Cối (Mường) v.v… Người Thái còn có cả truyện thơ lịch sử, kể lại quá trình thiên di của họ vào Tây Bắc như bản sử ca Dõi theo bước đường chinh chiến của ông cha (Táy pú Xớc) hay Lịch sử bản mường (Quán tố mướng) ngay đến lời hát của các Mo-then trong lễ cúng người ốm cũng là một áng du kí ca đầy hình tượng đẹp được diễn tả bằng văn phong trau chuốt.
Bộ phận người Mường Tây Bắc cũng có những thiên sử thi như ở Hòa Bình, Thanh Hóa với như “Đẻ đất đẻ nước”. Ngoài ra, do đã tách ra từ mấy thế kỉ và sống giữa những cộng đồng tộc người khác, nên người Mường Tây Bắc còn có những áng văn hiếm thấy ở các vùng Mường như “vườn hoa – Núi cối”… Các truyền thuyết của từng dân tộc, một mặt khẳng định nguồn gốc của họ với những nhóm đồng tộc cư trú ở các vùng văn hóa khác. Mặt khác lại gắn bó với vùng đất và trình diễn lịch sử của họ trên mỗi miền đất này.
Có thể gặp những truyền thuyết như thế trên từng bước chân: Đây là nơi chúa Thái và chúa Xá thi bắn xem tên ai xuyên vào đá, kia là nơi Nàng Han tắm, dãy núi ba chỏm kia là thi hài hóa đá của ba dũng tướng quên mình bảo vệ quê hương…Và đặc biệt là những truyền thuyết về hoa ban, dân tộc nào cũng có và cũng thắm đượm tình người. “Xòe” là đặc sản nghệ thuật múa Thái và trở thành biểu tượng văn hóa Tây Bắc. Người Thái có Xòe vòng quanh đốm lửa, quanh hũ rượu cần với sự tham gia đông đảo của già trẻ, gái trai trong tiếng chiêng trống rộn ràng. Nhưng cũng có Xòe Điệu của người Thái trắng ven sông Đà suốt từ Ngọc Chiến, Quỳnh Nhai lên đến Lai Châu, Phong Thổ. Tương truyền có đến 32 điệu xòe do các cô thanh nữ múa trong tiếng tính tang dịu dàng của hai chàng trai. Xoè Vòng sôi nổi bao nhiêu thì Xòe Điệu nhẹ nhàng, tinh tế bấy nhiêu. Người H’mông nổi tiếng về các điệu múa khèn, đá châm hùng dũng của nam giới. Người Khơmú và Xinhmun lại độc quyền điệu múa lắc mông, lượn eo. Còn điệu Tăng bu (dỗ ống) là sở hữu của người Laha. Và đến với người Mường thì phải được xem múa bông. Riêng điệu múa Xạp, trừ người H’mông còn dân tộc nào trong vùng cũng có, mỗi nơi một vẻ riêng. Có thể xem nghệ thuật múa dân tộc là một nét đặc trưng của vùng Tây Bắc.
Dường như có một sở thích âm nhạc chung cho hầu hết các dân tộc Tây Bắc, một sở thích không thấy hoặc ít thấy ở các vùng khác. Đó là hệ nhạc cụ hơi có lưỡi gà bằng tre, bằng đồng hay bằng bạc. Nếu sưu tầm và gộp chung lại thì có đến vài chục loai hình thuộc hệ nhạc cụ này. Nhiều loại đã được cả nước biết đến như Pí pặp, khèn bè Thái, sáo và khèn H’mông. Ngoài ra, mỗi dân tộc đều có bản sắc riêng như cây Tính Tảu Thái, đống ôi Mường, chưn may Khơmú, đàn tròn và đàn ba dây Hà nhì…Ở nhiều dân tộc khác, thơ ca Tây Bắc được sáng tác để hát, chứ không phải để đọc. Những truyện thơ, những áng sử thi được trình diễn bằng cả những liên khúc âm nhạc mà nhiều bài trích ra từ đó đã được cả nước biết đến như bài “inh lả ơi” chẳng hạn.
Trang phục truyền thống của các dân tộc vùng Tây Bắc được thiết kế tinh xảo, mang nhiều ý nghĩa về tín ngưỡng, văn hóa và lịch sử. Mỗi dân tộc có một phong cách trang phục riêng nhưng nét chung trong văn hóa Tây Bắc là sở thích trang trí trang phục với các sắc độ của gam màu nóng, rất nhiều màu đỏ, xen vào với vàng tươi, vàng đất, vàng rơm, rồi da cam, tím và nếu có xanh thì phải là xanh da trời. Phải chăng giữa mênh mông xanh lá cây, những màu ánh lên như những điểm sáng, khẳng định sự có mặt của con người? Còn họa tiết, bố cục, phối màu của trang trí thì rất nhiều và phong phú, đến nỗi chỉ một chiếc khăn piêu Thái, một bộ nữ phục H’mông, Lô Lô, Dao đỏ, một mặt chăn Mường, một điểm màn Kháng cũng đủ tầm cỡ để phải làm riêng một chuyên khảo,…
Hẳn là những nét phác họa ở đây nhiều lắm cũng chỉ là gợi mở về một vùng văn hóa đa dạng và độc đáo, hi vọng rằng có thể dẫn dắt chút ít cho những ai muốn tìm hiểu sâu thêm về vùng văn hóa Tây Bắc.
E. DU LỊCH VÙNG TÂY BẮC
1. Du lịch Lào Cai
Sa Pa Chìm trong làn mây bồng bềnh thị trấn Sa Pa như một thành phố trong sương huyền ảo, vẽ lên một bức tranh sơn thủy hữu tình. Nằm ở độ cao trung bình 1500m – 1800m, nên khí hậu Sa Pa ít nhiều lại mang sắc thái của xứ ôn đới, với nhiệt độ trung bình 15-18°C. Sapa, một cái tên đã trở thành biểu tượng cho vẻ đẹp của núi rừng Tây Bắc, luôn là điểm đến khiến bao trái tim phải thổn thức. Từ đỉnh Fansipan hùng vĩ vươn mình giữa mây trời, đến những bản làng yên bình ẩn mình dưới thung lũng, nơi những thửa ruộng bậc thang vẽ nên bức tranh tuyệt mỹ của đất trời. Trong làn sương mờ ảo, thị trấn này hiện ra như một giấc mơ mê hoặc lòng người bằng vẻ đẹp vừa hùng vĩ vừa mềm mại.

Hãy khám phá vẻ đẹp của “thị trấn trong sương” qua những địa điểm du lịch Sapa như: Chinh phục đỉnh Phan Xi Phăng cao 3.143m trên dãy Hoàng Liên Sơn nổi tiếng, là nóc nhà Đông Dương cùng với quần thể Sun World Fansipan Legend một quần thể văn hóa tâm linh ấn tượng trên đỉnh núi; Khám phá núi Hàm Rồng ở sát ngay thị trấn, ngắm toàn cảnh thị trấn, thung lũng ẩn hiện trong sương khói; Bản Cát Cát – bức tranh văn hóa của dân tộc Mông; Bản Lao Chải – Tả Van là nơi sinh sống của cộng đồng người Giáy, H’Mông, Dao…với không gian yên bình, ẩm thực dân tộc hấp dẫn; Thung lũng Mường Hoa nơi có những thửa ruộng bậc thang đẹp nhất Sapa vào mùa lúa chín hay mùa đổ nước, Bãi đá cổ Mường Hoa với hàng trăm tảng đá chạm khắc bí ẩn của những cư dân cổ xưa, một điểm nhấn độc đáo về văn hóa và khảo cổ; Thác Bạc, dòng thác hùng vĩ giữa núi rừng; Sapa còn có Nhà thờ đá cổ Sapa – biểu tượng văn hóa giữa lòng thị trấn; Moana Sapa – Khu sống ảo triệu góc chụp, Sapa còn là “vương quốc” của hoa trái, hay Vườn hoa hồng cổ với những khóm hồng pháp cổ Sapa quý hiếm,…
Sa Pa với 6 tộc người cùng cư trú, mỗi tộc người có một vốn văn hoá riêng với các lễ hội như lễ hội “Roóng pọc” của người Giáy Tả Van, lễ hội “Sải Sán” (đạp núi) của người Mông, lễ “Tết nhảy” của người Dao Đỏ, tất cả đều diễn ra vào tháng tết hàng năm. Chợ phiên của Sa Pa họp vào ngày chủ nhật tại thị trấn. Người dân ở vùng xa phải đi từ ngày thứ 7. Vào tối thứ 7 mọi người cùng thức vui với nhau bằng những bài hát dân ca của trai gái người Mông, người Dao, với những âm thanh của đàn môi, của sáo, của khèn Mông, bằng những bát rượu tràn đầy…và người ta đã đặt cho nó là “chợ tình” Sapa.
Du lịch Sapa còn có những địa điểm lân cận tuyệt đẹp khác như: Đèo Ô Quy Hồ Đèo nằm trên quốc lộ 4D vắt qua dãy Hoàng Liên Sơn, giữa hai tỉnh Lào Cai và Lai Châu. Với những khúc uốn lượn hiểm trở, cùng chiều dài 50km, quanh năm mây phủ trắng đỉnh đèo, có thể vì vậy mà đèo Ô Quy Hồ được mệnh danh là “ông vua không ngai” của “tứ đại đỉnh đèo” Tây Bắc. Cổng trời Ô Quy Hồ Tọa lạc ở độ cao 2.035m – nơi giao thoa giữa đất trời, mây núi quyện hòa. Gắn liền với truyền thuyết tình yêu bi thương giữa chàng Ô Quy Hồ và nàng tiên nữ. Thác Tình Yêu Sa Pa tọa lạc tại Trạm Tôn – Núi Xẻ, ngọn thác cao khoảng 100m, bắt nguồn từ đỉnh thiêng Fansipan mang theo hơi thở se lạnh của núi rừng đại ngàn. Dòng thác tuôn trào trắng xóa buông xuống con Suối Vàng hiền hòa uốn quanh những bụi trúc gai xen kẽ những khóm phong lan và đỗ quyên hoang dại…
Y Tý là một xã vùng cao biên giới, nằm trên độ cao 2.000m so với mực nước biển. Vào mùa đông, theo đợt rét nhiệt độ Y Tý xuống dưới mức 00C, trời sương giá, tuyết rơi. Còn mùa xuân thì cây cối như đỗ quyên, đào rừng, sơn tra, phong lá đỏ, thảo dược… đâm chồi nảy lộc hòa cùng với mây trời và núi rừng. Vùng đất Y Tý được thiên nhiên ban tặng nhiều cảnh đẹp, núi non hùng vĩ, Nổi bật là những cánh rừng nguyên sinh với hệ sinh thái đa dạng. Đỉnh Lảo Thẩn cao 2.860 m được ví như “Nóc nhà Y Tý” với vẻ đẹp nguyên sơ, là thiên đường “săn mây” đã được nhiều người biết tới. Lảo Thẩn cũng là 1 trong 15 đỉnh núi cao nhất Việt Nam. Y Tý với 4 dân tộc anh em sinh sống là Mông, Hà Nhì, Dao, Kinh. Cung đường lên đây vừa xa, vừa khá khó đi, nhưng bù lại, vẻ đẹp tuyệt vời của những bản làng thấp thoáng trong mây cùng khung cảnh núi rừng hoang sơ chính là điểm đến lý tưởng dành cho những ai yêu thích chụp ảnh và khám phá thiên nhiên.

Trong hành trình trải nghiệm Y Tý, du khách cũng có cơ hội khám phá các thác nước hùng vĩ, như: thác Xanh, Thiên Sinh, Lao Chải, Hồng Ngài. “Y Tý thì có rất nhiều mùa, mỗi mùa có vẻ đẹp đặc trưng riêng. Khi tuyết rơi vào mùa Đông thì cũng là dịp để cho du khách ở vùng xuôi lên trải nghiệm cái giá lạnh của Y Tý. Từ tháng 10 đến khoảng tháng 3 sang năm là mùa mây, buổi sáng thì thường mây sẽ tĩnh lặng, mình sẽ lên các điểm cao như Ngài Thầu Thượng hay Phan Cán Sử, Mò Phú Chải để ngắm. Mỗi ngày, mỗi mùa ở đây có những hình thù, hình thái khác nhau, có những vẻ đẹp rất là riêng”.
Bắc Hà -Simacai nằm ở phía đông thành phố Lào Cai cũ, ở độ cao khoảng 1.000 -1.500 m so với mực nước biển, khí hậu ôn hòa. Bắc Hà có nhiều di tích lịch sử, văn hóa và các địa điểm du lịch, trong đó phải kể đến lễ hội San sán (xuống đồng) của người H’mông và người Tày, dinh Hoàng A Tưởng, đền Bắc Hà, di chỉ thành cổ Trung Đô, các làng nghề thổ cẩm, nấu rượu ngô đặc sản của đồng bào Mông. Các chợ dân tộc như chợ trâu Lũng Phìn, chợ phiên Bắc Hà, chợ Cốc Ly, chợ Bản Liền cũng là các điểm đến nổi tiếng.
Simacai nằm giáp biên giới, được bao trùm bởi nhiều dãy núi đá tai mèo. Simacai cách Bắc Hà khoảng 30 km, nổi tiếng với những cánh rừng và các thung lũng đầy gió và mây. Tới đây, du khách có thể ghé thăm cánh đồng hoa tam giác mạch Lử Thẩn, rừng đá xám Sán Chải, ruộng bậc thang Sín Chéng, ngắm hoa lê tại Quan Hồ Thẩn vào tháng 3 hàng năm. Chợ phiên Cán Cấu thứ 7 hàng tuần, chợ phiên Sín Chéng thứ 4 hàng tuần là những điểm đến giúp du khách tìm hiểu sâu về văn hóa bản địa. Những khu chợ này cũng mở cả các ngày lễ Tết.
Các đỉnh núi Du khách mê trekking thường gọi Lào Cai là xứ sở của những đỉnh núi. Ngoài Fansipan cao nhất Việt Nam, Lào Cai còn có gần 10 đỉnh núi khác, thu hút dân phượt mỗi mùa trekking, từ khoảng tháng 10 đến tháng 4 hằng năm. Có thể kể đến đỉnh Lảo Thẩn, được coi là nóc nhà Y Tý. Đỉnh Nhìu Cồ San, Bạch Mộc Lương Tử, Chóp núi Muối, Ngũ Chỉ Sơn, núi Cô Tiên…
Các điểm du lịch nổi tiếng khác TP. Lào Cai có Cầu Cốc Lếu, chợ Cốc Lếu; quần thể di tích đền Thượng, đền Cấm, đền Quan, đền Đôi Cô, chùa Cam Lộ; Cửa khẩu quốc tế để sang thị trấn Hà Khẩu (Trung Quốc), Du khách có thể sang biên giới chơi trong một đến vài ngày; Ngã ba Lũng Pô là “nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt”; Bản Ngải Thầu; Thác Rồng Mường Hum; Đền Bảo Hà ông Hoàng Bảy….
Mù Cang Chải – Yên Bái Mù Cang Chải là một trong những nơi tưởng chừng như không tồn tại trên thế giới bởi vẻ đẹp hiếm có của nó. Từ những khung cảnh thanh thoát như bước ra từ giấc mơ cho đến những kỳ quan thiên nhiên đáng kinh ngạc, Trái Đất của chúng ta ẩn chứa những địa điểm thực sự kỳ diệu. Những điểm đến này mang đến cho du khách những trải nghiệm tuyệt vời như bước vào một thế giới lung linh, kỳ ảo tựa tranh vẽ, chuyên trang du lịch Wanderlust Storytellers ca ngợi.

Đứng đầu trong danh sách 25 điểm đến có vẻ đẹp siêu thực là Mù Cang Chải, được đánh giá là một trong những nơi đẹp nhất Việt Nam. Nổi tiếng với những thửa ruộng bậc thang rực rỡ tuyệt đẹp, Mù Cang Chải như được nhuộm màu ngọc lục bảo xanh mướt của lúa mới, và đến mùa lúa chín lại óng ánh sắc vàng rực rỡ. Qua những đôi bàn tay khéo léo cùng sự sáng tạo, miệt mài của những người nông dân đã tạo nên một bức tranh đầy sống động biến đổi theo thời gian, thể hiện sự hòa quyện giữa thiên nhiên và con người.
Những điểm checkin du lịch Mù Cang Chải: Thung lũng Tú Lệ, thung lũng Lìm Thái, Lìm Mông; Đèo Khau Phạ, đồi Mâm Xôi Bé, đồi mâm xôi La Pán Tẩn; ruộng bậc thang La Pán Tẩn, Chế Cu Nha, Dế Xu Phình; Võng lúa móng ngựa, rừng trúc Mù Cang Chải, bay giữa trời xanh Khau Phạ hay Zipline giữa núi rừng Tú Lệ…
Những điểm du lịch nổi tiếng khác Đỉnh Tà Xùa – Sống lưng khủng long giữa biển mây, Đỉnh Tà Chì Nhù, Sa Mu U Bò; Trạm Tấu, suối khoáng nóng, bản Cu Vai; Nghĩa Lộ, Di tích Căng Đồn, Chợ Mường Lò, đồi trà Shan Tuyết cổ Suối Giàng; Hồ Thác Bà, Thác Ô Đồ, Bản Ngòi Tu;…
2. Du Lịch Lai Châu
Cầu kính Rồng Mây khu du lịch tại Cổng trời đèo Ô Quy Hồ, là khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí tổng hợp có quy mô lớn. Du lịch ngắm cảnh, du lịch mạo hiểm, du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng…với hệ thống thang máy và cầu kính, Khách sạn & Bugallow nghỉ dưỡng, nhà hàng, hồ vô cực, khu trò chơi, khu tâm linh…Trong đó, hệ thống Thang máy ngoài trời và Cầu kính là hai sản phẩm du lịch đặc biệt nhất, đóng vai trò quan trọng nhất trong tổng thể khu du lịch Cầu kính Rồng Mây, đây là hai sản phẩm du lịch rất độc đáo.
Hệ thống Thang máy lồng kính trong suốt nhằm đưa du khách xuyên qua các tầng mây, thỏa sức hòa mình vào thiên nhiên ở độ cao 2.200m, mãn nhãn với đỉnh núi Fan-Xi-Păng hùng vĩ 3.143m. Chiêm ngưỡng quang cảnh thiên nhiên ở kỳ vĩ đẹp đến mê lòng của vùng đất sương mù với những núi đá nhấp nhô của Tây Bắc. Nơi đây hứa hẹn sẽ làm du khách hài lòng trước kỳ quan thiên nhiên, một kiệt tác do tạo hóa ban tặng, thoả sức ngắm nhìn những con đường uốn mình qua những thửa ruộng bậc thang và những vạt chè xanh ngút ngàn, núi đồi trùng điệp, sân mây kỳ vĩ hút hồn. Lên cao, du khách trải nghiệm hệ thống cầu kính bám quanh vách núi dài 768m. Đứng trên cầu kính, khách du lịch sẽ có giảm giác lửng lơ chứng kiến độ sâu hun hút bên dưới, hay phóng tầm mắt ra xa, thưởng ngoạn khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ, và cảm nhận được gió ào ạt thổi, mây vần vũ bay…Cây cầu này không thực sự dành cho những người yếu tim. Bên cạnh đó những trò chơi mạo hiểm như Cầu độc mộc, xích đu tử thần, leo núi, trượt zipline, cầu treo hay đạp xe xuyên mây…sẽ mang lại những chuyến phiêu lưu đầy thú vị, cho du khách trải nghiệm và khám phá khu vui chơi giải trí đầy kì bí, màu nhiệm theo những cách tuyệt vời nhất.
Những điểm du lịch nổi tiếng khác ở Lai Châu chúng ta phải nhắc tới đó là Đỉnh Bạch Mộc Lương Tử (sườn Tây); đỉnh Tả Liên Sơn, đỉnh Pu Ta Leng trên dãy Hoàng Liên Sơn hùng vĩ, nơi có rừng hoa Đỗ Quyên đẹp bậc nhất Việt Nam; Đỉnh Phu Si Lung, Là ngọn núi hoang sơ, bí ẩn và quyến rũ; quần thể động Pusamcap vẻ đẹp thiên nhiên kỳ ảo; đồi chè Tân Uyên bạt ngàn xanh thẳm; Cánh đồng lúa Mường Than biến đổi sắc thái theo mùa; Cao nguyên Sìn Hồ nằm giữa trập trùng núi đá, bạt ngàn rừng nguyên sinh, giữa biển mây mù, nơi với những thửa ruộng bậc thang uốn lượn, những bản làng nằm thấp thoáng bên sườn núi; Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Tè như một bức tranh thiên nhiên hoang sơ, hùng vĩ với những dãy núi cao chót vót, những thung lũng xanh mướt, những con sông suối uốn lượn và những thác nước đổ ầm ầm; hay bản Sì Thâu Chải, một bản nhỏ của người Dao với trên 60 hộ dân sinh sống, cùng những đám mây trôi lơ lửng bản Sì Thâu Chải hiện ra thật thơ mộng đắm say mà khó quên. Đến Sì Thâu Chải để trải nghiệm đời sống sinh hoạt, sản xuất, thưởng thức ẩm thực dân tộc, tham gia trò chơi dân gian…
3. Du Lịch Điện Biên
Điện Biên Phủ Cụm di tích chiến thắng Điện Biên Phủ là phần quan trọng trong hành trình ghé thăm các điểm đến lịch sử tại tỉnh Điện Biên. Hầu hết những nơi này nằm liền nhau, nên du khách thuận tiện ghé thăm. Đồi A1 là một trong những cứ điểm quan trọng nhất của trận đánh, được coi là “cuống họng” bảo vệ khu trung tâm. Hầm chỉ huy của tướng Đờ Cát được thực dân Pháp xây dựng kỳ công, ở trung tâm tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, thuộc cánh đồng Mường Thanh, hầm nằm cách đồi A1 khoảng 1 km, được mệnh danh là “căn hầm kiên cố nhất Đông Dương”. Bảo tàng Chiến thắng Điện Biên Phủ, công trình mang ý nghĩa lớn về lịch sử, văn hóa cũng như nghệ thuật. Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia A1, Nghĩa trang nằm trên đường Võ Nguyên Giáp, cạnh đồi A1, đây là nơi an nghỉ của 644 chiến sĩ hy sinh trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ được khánh thành nhân kỷ niệm 50 năm ngày chiến thắng Điện Biên Phủ, công trình tọa lạc trên đồi D1, ngay trung tâm thành phố. Sở chỉ huy chiến dịch ở Mường Phăng Di tích Sở Chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ nằm ở chân núi Pú Đồn, ẩn mình dưới tán rừng cổ thụ, cách đồi A1 25 km. Đây là nơi Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm việc và nghỉ ngơi trong chiến dịch. Từ điểm cao nhất, du khách có thể quan sát toàn bộ thành phố Điện Biên Phủ, thung lũng Mường Thanh và các cứ điểm của quân Pháp như đồi Him Lam, đồi Độc Lập, đồi D1, đồi C1, đồi A1…Cụm Tượng đài chiến thắng tại Công viên Mường Phăng cũng là một điểm dừng chân không thể bỏ qua khi tới đây.
Các điểm du lịch Điện Biên Khác: Đèo Pha Đin, thuộc QL6, là cửa ngõ vào tỉnh Điện Biên. Một bên là vách núi, một bên là vực. Đây cũng là nơi bắt đầu của hành trình kéo pháo, vận tải lương thực vũ khí bằng sức người của quân dân Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Cánh đồng Mường Thanh và sông Nậm Rốm nằm giữa lòng chảo Điện Biên, trên độ cao hơn 400m cánh đồng Mường Thanh được ví như một “cái kho” khổng lồ chứa đầy ngô lúa. Mường Nhé nơi có điểm cực Tây của Việt Nam, ngã ba biên giới Việt – Lào – Trung, Địa hình nơi đây chủ yếu là rừng. Nơi này còn có khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé, một trong những rừng đặc dụng lớn nhất Việt Nam với hệ sinh thái đa dạng. A Pa Chải là điểm đến nổi tiếng nhất ở Mường Nhé, nơi có cột mốc tọa độ số 0, nằm trên đỉnh núi Khoan La San. Cột mốc được cắm năm 2005, làm bằng đá granit, mỗi mặt có khắc tên nước và quốc huy của mỗi quốc gia. Chợ phiên tại A Pa Chải, một nét đẹp văn hóa vùng biên cương, họp vào những ngày 3, 13 và 23 dương lịch. Mường Lay được xem là một thủ phủ người Thái Trắng, nơi du khách có thể du ngoạn trên sông Đà chiêm ngưỡng vẻ đẹp thiên nhiên và tìm hiểu cuộc sống và văn hóa của đồng bào Thái, ghé cầu Hang Tôm nơi nối liền hai tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Cầu Hang Tôm cũ được xây dựng năm 1967, từng là cây cầu dây văng lớn nhất Đông Dương lúc bấy giờ. Thành Bản Phủ (thành Chiềng Lề) cách trung tâm Điện Biên Phủ 8 km về phía nam, được xây dựng từ 200 năm trước. Nơi đây ghi dấu những hoạt động nổi bật cho người anh hùng Hoàng Công Chất, ông là hình tượng cho tinh thần đại đoàn kết của dân tộc khi chống giặc ngoại xâm. Thành đã bị phá hủy nhiều sau khi quân Trịnh tiến vào chiếm giữ thế kỷ 18.v.v…
4. Du lịch Sơn La
Cao nguyên Mộc Châu ở độ cao trên 1.000m, khí hậu mát mẻ, trong lành. Nơi đây phát triển du lịch sinh thái kết hợp với văn hóa của đồng bào các dân tộc Thái, Mông… tạo nên một bức tranh đa sắc màu làm đắm say lòng người. Mỗi mùa Mộc Châu sẽ để lại dấu ấn riêng trong lòng du khách, mùa chè nảy lộc, mùa hoa mận, hoa mơ, mùa hồng chín hay mùa cải trắng. Cây cối, hoa trái bốn mùa tô điểm cho cao nguyên thêm phần yên bình, nên thơ. Những điểm níu chân du khách khi tới Mộc Châu:
Khu Mộc Châu Island tô điểm giữa không gian hùng vĩ của núi rừng Tây Bắc. Trong khuôn viên tổ hợp này có cầu kính Bạch Long dài 632m, được chứng nhận kỷ lục đường đi vách núi dài nhất thế giới. Đi trên cầu kính, du khách không những được trải nghiệm cảm giác mạnh mà còn được chiêm ngưỡng phong cảnh hữu tình của cao nguyên Mộc Châu.
Rừng thông Bản Áng rừng thông già cổ thụ, bầu không khí yên bình, khe suối, hoa cỏ, chim muông, hồ nước trong lành hòa hợp khiến mọi người muốn hòa mình vào thiên nhiên.
Bản Hang Táu (làng Nguyên Thủy) quyến rũ đến kỳ lạ, rất nguyên sơ, một bản làng bình yên, xinh đẹp và rất nguyên thủy theo đúng nghĩa.
Những đồi chè xanh mướt mắt là vẻ đẹp riêng có của Mộc Châu. Màu xanh này ôm trọn, bao bọc cả cao nguyên rộng lớn. Những đồi chè nối tiếp nhau trải dài khiến du khách thêm phần thích thú, độc đáo hơn cả là đồi chè hình chữ S, hình trái tim…

Thung lũng Mận Nà Ka nơi có một thung lũng mận đẹp nhất Mộc Châu. Người ta ví nơi đây như thiên đường nơi lưng chừng núi, đặc biệt vào mùa xuân khi hoa mận nở trắng cả núi đồi.
Thác Dải Yếm không chỉ bởi vẻ đẹp thuần khiết mà còn bởi câu chuyện huyền tích về dòng thác.
Động Sơn Mộc Hương (hang Dơi) là một trong những động tự nhiên đẹp nhất Tây Bắc, mang cho mình vẻ đẹp huyền bí với những thạch nhũ lấp lánh màu sắc và nhiều khối nhũ đá độc đáo.
Cao nguyên Mộc Châu còn có: đỉnh Pha Luông; bản Pá Phách; đỉnh Pa Phách; bản Lóng Luông; thung lũng mận Mu Náu; thác Nàng Tiên; thác 7 Tầng; thác Tạt Nàng; Ngũ động Bản Ôn; chợ cửa khẩu Lào Lóng Sập…Hay Hang Ma Suối Bàng di sản văn hóa độc đáo của người Xá, dân tộc bản địa từng sinh sống tại vùng đất Mộc Châu. Những chiếc quan tài gỗ được tìm thấy trong các hang động là minh chứng rõ nét cho tín ngưỡng và phong tục mai táng của người Xá. Với niên đại lên đến 500 năm, những chiếc quan tài này không chỉ là những hiện vật khảo cổ quý giá mà còn là một phần không thể thiếu trong bức tranh văn hóa đa dạng của Việt Nam.
Cao nguyên Mộc Châu là món quà mà tạo hóa ban tặng cho vùng Tây Bắc. Vẻ đẹp nơi đây mê hoặc du khách để những ai tới đây rồi vẫn muốn trở lại. Mỗi mùa, mỗi thời điểm, Mộc Châu lại mang một nét đẹp riêng khiến lòng người mê mẩn.
Tà Xùa Sơn La nổi tiếng với biển mây tuyệt đẹp, thu hút không ít các du khách ưa thích du lịch khám phá đặt chân tới đây để chiêm ngưỡng vẻ đẹp thung lũng mây rộng lớn lan tỏa khắp đất trời. Các điểm du lịch ở Tà Xùa có Sống lưng khủng long ở Háng Đồng địa hình nơi đây được cấu thành với thế tựa lưng vào dãy nguyên sinh Tà Xùa tiếp giáp vùng Yên Bái, phía trước mặt là thung lũng sâu hàng trăm mét; Mỏm đá đầu rùa ở Tà Xùa, bên cạnh sống lưng khủng long, mỏm đầu rùa chính là địa điểm khiến dân phượt ưa chuộng trên dãy núi Tà Xùa; Rừng nguyên sinh quốc gia Tà Xùa nằm ở sườn Đông Nam của dãy Hoàng Liên Sơn, có địa hình cao ốc, mức độ chia cắt khá mạnh và nhiều đỉnh cao trên 2000m dọc theo dãy Phu Sa Phìn. Nơi đây là khu hệ sinh thái rừng kín, có nhiều loài thực, động vật quý hiếm, thích hợp để tham quan, du lịch; nơi đây còn có Sống lạc đà Tà Xùa, Mỏm Cá Heo, Cây táo mèo cô đơn nằm trên đỉnh gió, Xã Xím Vàng là nơi có nhiều thửa ruộng bậc thang trập trùng, uốn lượn với sắc vàng óng ả. Những thửa ruộng đẹp nhất tập trung ở bản Háng Gò Bua, Sồng Chống, Cúa Mang. Hay tham quan Khu di tích lịch sử kháng chiến chống Pháp Rừng Bản Nhọt – Rừng Đại Tướng,…là những điểm checkin vô cùng thú vị. Không chỉ chiêm ngưỡng cảnh đẹp hùng vĩ, mê hoặc, đến Tà Xùa du khách cũng có thể thưởng thứ những món ăn độc đáo, mang đậm bản sắc của người dân bản địa như: Cháo mắc nhung, thịt trâu gác bếp, thịt muối chua, nộm da trâu, nậm pịa, cơm cẩm nướng ống tre…
Các điểm du lịch nổi tiếng Sơn La khác: Thành phố Sơn La, một trung tâm văn hóa, trái tim của vùng Tây Bắc. Bảo Tàng Sơn La trưng bày chủ yếu nội dung về dân tộc. Ở đây lưu giữ hàng ngàn di vật từ thời tiền sử và sơ sử, bộ tập sách chữ Thái cổ, Dao cổ…Nhà tù Sơn La được người Pháp xây dựng trong thời kỳ Pháp thuộc, nhà tù này từng là nơi giam giữ hàng trăm chiến sĩ cách mạng, trong đó có nhiều nhà lãnh đạo nổi tiếng như Tổng Bí thư Trường Chinh và Lê Duẩn. Nhà máy thủy điện Sơn La được xây dựng từ năm 2005 – 2012 nơi đây đã trở thành nhà máy thủy điện lớn nhất Việt Nam và cả khu vực Đông Nam Á. Lòng Hồ Thủy Điện trải dài tới 150km, đi thuyền trên lòng hồ du khách sẽ có cảm giác thư giãn, ngắm nhìn vẻ đẹp hoang sơ, kỳ bí của vùng sông nước. Ghé thăm cảnh chợ ven sông Đà, tham gia các lễ hội truyền thống, thưởng thức những món cá sông được chế biến theo cách riêng của người Thái…Suối khoáng Ngọc Chiến, Suối khoáng Bản Mòng, Mường Chiên Bản Bon, Ban Mai Reatreat là những địa điểm du lịch sinh thái, văn hóa và nghỉ dưỡng, tắm nước lá và khoáng nóng rất tốt cho phục hồi sức khỏe. Đến Chiềng Cọ vào mùa xuân để ngắm mùa hoa mận trắng tinh khôi….
5. Du lịch vùng Hòa Bình – Phú Thọ
Nhà máy thủy điện Hòa Bình Một công trình mang tính biểu tượng. Được xây dựng từ 1979 đến 1991 trên dòng sông Đà. Trước khi bị nhà máy thủy điện Sơn La soán ngôi, thì nhà máy thủy điện Hòa Bình từng là nhà máy thủy điện lớn nhất Việt Nam và Đông Nam Á. Đây là điểm du lịch Hoà Bình được nhiều du khách check in.
Dòng sông Đà (Đà Giang) mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ và kỳ vĩ của miền rừng núi Tây Bắc. Dọc chiều dài hơn 900km, sông Đà chảy qua Hòa Bình 103km với điểm nhấn là lòng hồ Hòa Bình dài đến 70km, trải rộng trên địa bàn các vùng Cao Phong, Đà Bắc, Tân Lạc, Mai Châu và TP Hòa Bình. Trên hồ tạo thành tới 47 hòn đảo lớn nhỏ, cảnh sắc không khác gì một bức tranh sơn dầu với nhiều mảng màu huyền bí, nét đẹp nguyên sơ nhưng vô cùng thơ mộng trở thành nét chấm phá hiện đại cho bức tranh du lịch nơi đây. Đây không chỉ là một điểm đến du lịch hấp dẫn mà còn là nơi lưu giữ bản sắc văn hóa và tâm hồn của con người địa phương.
Thung Nai Tiếp tục hành trình, từ địa phận TP Hòa Bình ngược lên phía Tây Bắc, sông Đà bắt đầu tạo ra cảnh sắc ấn tượng với mênh mông sóng nước. Từ đây một bức tranh kỳ vĩ, nguyên bản đúng chất phóng khoáng của dòng Đà Giang xuất hiện. Đó là thắng cảnh Thung Nai, được bao quanh bởi những núi đá vôi như những hòn đảo nhấp nhô nổi lên giữa mặt nước, bởi màu xanh biếc của nước hồ thủy điện, mặt nước hồ lăn tăn gợn sóng mỗi buổi sớm hay ánh mặt trời nhuộm đỏ một góc trời khi chiều tà, tạo nên một khung cảnh thiên nhiên huyền ảo sống động.
Đền Chúa Thác Bờ Nằm cạnh Thung Nai là đền Chúa Thác Bờ – địa điểm du lịch tâm linh không thể bỏ qua khi đến tham quan, thưởng ngoạn, vãn cảnh hồ Hòa Bình. Tương truyền, đền chúa Thác Bờ thờ bà Đinh Thị Vân, người dân tộc Mường và một bà người dân tộc Dao ở Vầy Nưa, Đà Bắc. Hai bà đã có công giúp vua Lê Lợi về quân lương, thuyền mảng vượt thác Bờ, tiến quân lên Mường Lễ (Sơn La) dẹp loạn đảng Đèo Cát Hãn. Khi mất, hai bà thường hiển linh giúp dân chế ngự dòng nước, vượt thác an toàn, phù hộ cho vùng Mường được mưa thuận, gió hòa. Người dân phong hai bà làm thánh và lập đền thờ phụng. Nơi đây cũng là trung tâm của nhiều tín ngưỡng, với việc thờ phụng các thần thượng như Công đồng quan lớn, Ngũ vị Tôn ông, Tứ phủ Thánh cậu, Tứ phủ Thánh cô…
Động Thác Bờ Dừng chân tại xóm Bưng, du khách bước vào hành trình khám phá động Thác Bờ với vẻ đẹp thiên nhiên kỳ vĩ, hang động thạch nhũ rộng lớn, kỳ ảo. Trước khi vào cửa động, du khách sẽ trải nghiệm leo bộ gần 100 bậc đá nếu đi vào mùa nước cạn, còn vào mùa nước dâng có thể đi từ thuyền sang nhà nổi để vào động. Từ trên cửa động, du khách có thể phóng tầm mắt ra xa để ngắm toàn bộ dải Đà giang kỳ vĩ, thưởng ngoạn những kiệt tác thiên nhiên do tạo hóa ban tặng với núi non trùng điệp, hang động huyền ảo. Động còn là nơi thờ Phật, là điểm du lịch tâm linh, du khách tới động Thác Bờ dâng hương, giúp tâm hồn được thảnh thơi, thanh tịnh.
Hiện nay, có rất nhiều hòn đảo thuộc khu vực hồ được đầu tư cải tạo và phát triển thành khu sinh thái cao cấp như đảo Xanh, đảo Dừa, nhà nghỉ Cối Xay Gió. Dọc theo hồ lên phía Tây Bắc còn có nhiều điểm đến như bảo tàng không gian văn hóa Mường; bản Mường Giang Mỗ; bản Ngòi; hồ Mắt Ngọc; động Hoa Tiên; Ba Khan…Để du khách khám phá, nghỉ dưỡng trải nghiệm văn hoá, ẩm thực người Mường, thưởng thức những món ăn đặc sản vùng hồ ngon miệng, khó quên.
Mai Châu Hòa Bình là điểm cuối cùng của tỉnh Hòa Bình và tiếp giáp với Mộc Châu, Sơn La, cũng như Pù Luông, Thanh Hóa. Mặc dù Mai Châu thuộc vùng cao, nhưng lại là một thung lũng được bao quanh bởi những dãy đá vôi to lớn. Đây là nơi thể hiện vẻ đẹp tự nhiên bình yên của rừng xanh, cánh đồng lúa mênh mông và những dòng suối nhỏ chảy êm đềm. Bên cạnh cảnh đẹp của thiên nhiên, du khách sẽ bất ngờ với sự niềm nở của người dân ở đây, họ chào đón du khách một cách nồng hậu và chu đáo. Đặc biệt, ẩm thực Mai Châu cũng là một trải nghiệm tuyệt vời với những món đặc sản độc đáo mà bạn khó có thể tìm thấy ở bất kỳ nơi nào khác.
Đèo Thung Khe còn gọi là đèo Đá Trắng, nằm trên Quốc lộ 6, giữa Tân Lạc và Mai Châu. thường xuyên được bao phủ bởi mây, tạo nên cảnh quan huyền ảo. Dừng chân trên đèo thỏa sức ngắm nhìn núi rừng bạn sẽ ngỡ mình đang một bước lạc sang trời Âu.
Bản Lác là một bản làng bình yên, nơi in đậm bản sắc văn hóa người Thái trắng. Bản Lác cho đến ngày nay đã tồn tại hơn 700 năm. Người dân trong bản trước đây chỉ sống dựa vào nghề trồng lúa nương và dệt thổ cẩm. Mùa thu là thời điểm tuyệt vời để du khách tới với Bản Lác và đắm chìm vào nét đẹp thơ mộng của những dãy núi Tây Bắc lững lờ ngang chân mây hay ngắm nhìn cảnh hoa nở rợp trời tạo nên lớp lớp những mảng màu vô cùng thú vị.
Hang Kia Pà Cò là một trong những điểm đến nổi tiếng của Mai Châu. Nơi đây được mệnh danh là “vương quốc của người Mông” với những ngôi nhà sàn cổ kính, những thửa ruộng bậc thang xanh mướt, màu trắng của rừng hoa mận, màu hồng của vườn đào…và những nét văn hóa đặc sắc. Khi đến Hang Kia Pà Cò, bạn sẽ được hòa mình vào cuộc sống bình dị của người dân nơi đây, tham gia các hoạt động du lịch trải nghiệm, qua đó khám phá nét đẹp văn hóa độc đáo của đồng bào người Mông.
Lũng Vân Hoà Bình khám phá phong cảnh của “Thung Lũng Mây” và tìm hiểu văn hoá Mường ở ngay tại Mường Bi, một trong 4 cái nôi của người Mường, vùng sử thi huyền thoại “đẻ đất đẻ nước”, là miền đất âm vang tiếng cồng chiêng, vùng của những lễ hội giàu bản sắc dân tộc, của kho tàng phong phú về văn nghệ dân gian các dân tộc Tây Bắc. Ở độ cao trên dưới 1000m so với mực nước biển, khí hậu mát mẻ về mùa hè, rét ngọt vào mùa đông, không khí trong lành, mật độ che phủ của rừng cao, núi non trùng điệp, những bản làng người Mường với những nếp nhà sàn bình yên sau luỹ tre, người dân địa phương mến khách, văn hóa, ẩm thực truyền thống được bảo tồn…là những nguồn lực xây dựng nên thương hiệu du lịch Lũng Vân – “Nóc Nhà Xứ Mường” mà khó có nơi nào cạnh tranh được.
Du lịch Lũng Vân, bên cạnh trải nghiệm “săn mây”, du khách còn thích thú với các hoạt động khác như khám phá động Nam Sơn, thác Thung hoang sơ, trải nghiệm và camping tại Bãi Pặng, leo núi cô Tiên, trek đồi U Bò, tận hưởng cảm giác tắm suối Mó, ruộng bậc thang, đồi phủ xanh bởi cây ăn quả, hòa mình vào thiên nhiên trong lành. Không chỉ vậy, khách du lịch còn có cơ hội tham gia sinh hoạt văn hoá cộng đồng, hay thậm chí được trải nghiệm làm những công việc hàng ngày của người dân xứ Mường như cấy lúa, gặt lúa, thu hoạch hoa quả. Đây cũng là cơ hội để hiểu sâu hơn về bản sắc văn hoá và cuộc sống nơi đây.
Các điểm du lịch khác: Cột cờ Mai Châu – một điểm nhấn lịch sử và văn hóa nằm trên đỉnh đèo Thung Khe; Ba Khan – thiên đường từng bị lãng quên tại Mai Châu, nằm ven hồ thủy điện. Bạn có thể nghỉ dưỡng bên hồ hay thuê thuyền để du ngoạm trên hồ; Thác Gò Lào “viên ngọc ẩn” giữa lòng núi rừng Tây Bắc; Hang Chiều – di tích quốc gia nằm tại thị trấn Mai Châu; Hang Mỏ Luông – có các tầng thạch nhũ đẹp và độc đáo; Khu du lịch Suối Khoáng Kim Bôi nổi tiếng; Thác Mu tựa lưng vào dãy núi Trường Sơn hùng vĩ; hay động Cóc Đá Bạc; khu mộ cổ Đống Thếch; Camping Đồi Bù; tuyệt tình cốc Đồng Nghê;…đều là những địa danh ấn tượng trong lòng du khách.
F. ẨM THỰC VÙNG NÚI TÂY BẮC
– Pa Pỉnh Tộp Tục ngữ Thái có câu: “Cáy măn mọk má ha, báu to pa pỉnh tộp ma sú” nghĩa là: “Gà tơ tần đem đến, không bằng cá Pỉnh Tộp đem cho” để nói lên sự sang trọng và khéo léo, tinh tế của món ăn rất đặc biệt này. Với đồng bào Thái ở vùng tây bắc thì xôi nếp, cá và các loại củ, quả được xem như là thực phẩm quan trọng trong bữa ăn hàng ngày.

Trước khi mổ cá phải cạo vảy để gia vị ngấm đều, không mổ cá đằng bụng mà mổ dọc sống lưng để khi gấp úp, con cá mềm mại dễ gấp hơn và để phần gia vị nhồi trong bụng cá khi tiếp xúc với than hồng sẽ toả mùi thơm ngấm vào thịt cá. Để làm món Pa Pỉnh Tộp, người ta chọn loại cá chép khoảng 0,5-0,8kg, béo và còn tươi sống. Gia vị để chế biến món cá Pỉnh Tộp vô cùng phong phú. Ngoài sự pha trộn khéo léo và hợp lý giữa các loại gia vị cay, chua, đắng, mặn, ngọt như ớt, tỏi, gừng, sả, riềng, mắc khén và các loại rau thơm, Pa Pỉnh Tộp phải được ướp bằng ớt bột khô thì khi nướng cá mới thơm ngon và ướp đậm muối hơn một chút so với cá đem rán. Sau khi tẩm ướp khoảng 5-10 phút, người ta nhồi vào bụng cá những loại rau thơm đã được thái nhỏ như: gừng, tỏi, sả, hành, rau thơm rừng và mầm măng của cây sa nhân. Cá được gấp úp đôi lại, xoa một lớp bột riềng và thính gạo ra ngoài rồi kẹp vào vỉ nướng. Pa Pỉnh Tộp được người Thái dùng với xôi nếp, chẳm chéo. Xôi có đủ màu vàng, tím được chế biến từ lá và hoa của các loại cây trên rừng.
– Cỗ Lá Nói đến văn hóa ẩm thực truyền thống của đồng bào Mường vùng Tây
Bắc không thể không nhắc đến món cỗ lá vô cùng độc đáo và đậm đà dư vị. Món cỗ lá từ lâu không đơn thuần là món ăn mà còn thể hiện một cách sinh động những nét văn hóa mang đậm bản sắc của dân tộc Mường. Khi nói đến món cỗ lá của người Mường là nói đến sự độc đáo từ khâu lựa chọn nguyên liệu, cách chế biến đến việc bày trên mâm và cả những quan niệm nhân sinh trong tiềm thức của người Mường. Các món ăn được chế biến bao giờ cũng được lấy từ cây lá trên rừng, trong vườn nhà, vì thế đồng bào Mường đã tạo nên những món ăn vừa ngọt lành, vừa đậm đà dư vị. Trong mâm cỗ phải kể đến các món ăn như rau đồ, canh loóng chuối, chả lá bưởi, thịt lợn luộc, cá hấp… Mỗi món đều có một công thức chế biến vốn là bí quyết của người Mường. Cách sắp mâm cỗ lá của người Mường khá độc đáo. Mâm được làm từ mẹt tre hoặc mâm gỗ vuông. Trên mâm được trải lá chuối rừng tươi xanh sau đó xếp thịt lợn ở giữa, xôi trắng, đĩa rau đồ, các loại măng luộc để bên cạnh và trên cùng là chả lá bưởi kèm theo bát canh loóng và mấy chén rượu. Tuy đơn sơ nhưng mâm cỗ lá của người Mường vùng Tây Bắc rất sinh động và hấp dẫn.
– Thắng cố ngựa được nấu với 12 thứ gia vị truyền thống bao gồm thảo quả, hoa hồi, quế chi, sả, ớt, gừng, và nhiều loại gia vị đặc biệt khác của dân tộc vùng cao. Trong đó, cây thắng cố chính là loại gia vị cuối cùng. Thịt và nội tạng của ngựa được rửa sạch, luộc chín, ướp trước với các loại gia vị, sau đó thả vào nồi nước dùng có xương ngựa, nội tạng, tiết và 12 loại gia vị kể trên đã được đun sôi, rồi cứ thế ninh nhừ hàng tiếng đồng hồ cho ngấm đẫm gia vị. Khi ăn, người thưởng thức có thể thêm một chút ớt, tiêu hoặc muối. Những bát thắng cố được múc ra phục vụ thực khách từ những chảo lớn sóng sánh thịt nạc, thịt mỡ và lục phủ ngũ tạng. Nội tạng ngựa được chế biến sạch có mùi thơm, giòn giòn, quyện với mùi cay nồng của các loại rau nhúng như cải mèo, cải ngồng, cải lẩu,… chấm với loại nước chấm đặc biệt làm từ ớt. Thắng cố ngựa có thể ăn cùng với mèn mén, bánh ngô nướng và nhâm nhi rượu ngô tạo nên một hương vị đậm đà khó cưỡng.
– Thịt gác bếp trong mâm cỗ Tết, người Tây Bắc không bao giờ thiếu hai món thịt khô nổi tiếng, đó là thịt gác bếp và lạp xưởng gác bếp. Món thịt này thường được làm từ phần thịt nạc trâu, bò hoặc lợn nhà nuôi thả rông trên các vùng núi đồi Tây Bắc. Thịt tuyệt đối không rửa, mà giữ sạch từ khi mới mổ, đem ướp gia vị đã chuẩn bị sẵn. Đây là khâu cực kì quan trọng quyết định vị ngon của thịt gác bếp. Các loại gia vị phải đầy đủ, cân đối để miếng thịt khô có vị đậm đà, vừa vặn, hợp khẩu vị của nhiều người. Thịt gác bếp là đặc sản của nhiều tộc người ở Tây Bắc. Những miếng thịt khô quắt, đen óng vì ám khói nhưng khi xé ra lại có màu đỏ tươi, ăn thấy vị ngọt, cay, bùi và mang hương thơm đặc trưng vô cùng ấm áp của khói bếp. Thịt gác bếp dậy mùi mắc khén, chấm cùng chẳm chéo Tây Bắc, nhấp cùng ngụm rượu nếp vùng cao lại càng thơm ngon đặc biệt.
– Nậm pịa món ăn đặc biệt không phải ai cũng dám thử, nậm pịa là món ăn độc
lạ của người Thái Tây Bắc. Nậm pịa được làm từ nội tạng động vật như trâu, bò hoặc lợn, ủ lên men trong vòng 3-5 ngày. Nậm pịa có hương vị đặc biệt, hơi chua và đắng, không phải ai cũng có thể thưởng thức được. Tuy nhiên, đây lại là một món ăn rất bổ dưỡng, chứa nhiều chất đạm, vitamin và khoáng chất. Nội tạng động vật (trâu, bò, lợn), gia vị, nước cốt chuối xanh. Nội tạng rửa sạch, thái miếng nhỏ, chuối xanh ép lấy nước cốt. Cho nội tạng vào vại, đổ nước cốt chuối xanh vào, đậy kín vại và ủ trong vòng 3-5 ngày. Sau khi ủ, lấy nội tạng ra rửa sạch, nấu chín với các loại gia vị. Ăn nậm pịa nóng cùng với cơm hoặc xôi.
– Măng rừng – Măng chua là món ăn không thể thiếu trong bữa cơm hàng ngày của người dân tộc và cũng là đặc trưng của ẩm thực dân tộc Thái cũng như vùng Tây Bắc. Măng rừng có thể ăn sống, nấu canh hay luộc chấm chẩm chéo,… mang lại hương vị đặc trưng của núi rừng và văn hóa vùng miền. Nói đến măng chua, hầu như trong mỗi góc bếp của người dân đều có, bởi đây là món ăn hàng ngày trên mâm cơm của đồng bào nơi đây. Món ăn tự nhiên, mang hương vị của núi rừng. Các món ăn từ măng chua khá đa dạng, phong phú và chiếm vị trí trọng tâm của mâm cơm. Người đồng bào thường nấu canh măng chua với cá, tôm tép, ếch, nhái…Ngoài ra, măng chua có thể nấu với nước luộc thịt lợn, gà, vịt…hay làm măng chua xào, măng chua khô, nước măng chua,… Đây là món ăn dân dã, dễ chế biến, hợp khẩu vị nhiều người.
Rau hoa ban được hái từ những cây ban cao nguyên sương mù, khi mà búp ban vừa mới được đôi lá. Sau khi được hái về, rau hoa ban sẽ được muối chua để ăn như món dưa muối ở dưới xuôi. Khi ăn với cá sông Nậm Rốm kho, bạn sẽ không thể quên được hương vị đặc trưng của núi rừng Tây Bắc như thấm đẫm trong món ăn đặc sắc và vô cùng lạ miệng này.
Rau xôi Để có món rau xôi trong mâm cỗ, người Mường sẽ hái các loại rau như đỗ, cà rừng, lá đu đủ bánh tẻ, quả đu đủ xanh, hoa đu đủ đực, lá sắn, lá mùi tàu, rau bí, hoa bí, rau thơm, rau ngót, cải, măng, rau ngải cứu, rau teeng, bắp bi chuối, lá lốt…Rau hái về, rửa sạch, để ráo nước rồi thái nhỏ, trộn đều. Để xôi rau, người Mường thường đồ bằng chõ gỗ. Lý giải về việc xôi rau mà không luộc, người Mường cho biết: Rau xôi lên sẽ giữ được hương vị và giữ được màu sắc tự nhiên.
Canh loóng Đây là loại canh được nấu từ thân non của cây chuối, cùng nước hầm xương, khi thưởng thức Canh loóng có vị thơm mát, với hương vị thơm ngon của lá lốt, vị cay của hạt dổi, tất cả quyện vào nhau đem đến hương vị độc lạ khiến thực khách nhớ mãi món ăn vùng cao.
Rêu suối là món ăn quen thuộc trong bữa cơm hàng ngày hay xuất hiện trong những dịp lễ, Tết của đồng bào dân tộc Thái, Tày. Ở mỗi nơi, rêu đá lại có hương vị và cách chế biến riêng nhưng vẫn là “thức quà” từ nhiên nhiên không chỉ bà con vùng Tây Bắc yêu thích mà còn “được lòng” cả thực khách gần xa.
Canh bon nấu với da trâu, da bò Cây bon (Khoai nước), nguyên liệu chính để nấu canh. Bon ngọt, loại bon có chấm tím ở lá, được bà con chọn cây non mang về rửa sạch, tước bỏ vỏ rồi ngâm nước cho hết nhựa (có thể dùng cả rễ non của bon để nấu). Nấu bon, không thể thiếu mắc khén. Nồi canh bon không được thiếu da trâu hoặc da bò. Đồng bào Thái thường tích luỹ thực phẩm để khô trên gác bếp. Da trâu, bò được bà con treo gác bếp cho khô, khi cần dùng đến thì đem đốt cho chín phồng, cạo sạch phần cháy tới khi miếng da lộ phần vàng óng, mang ngâm nước cho da mềm, sau đó đem nấu nhừ. Từ món ăn dân dã trong các gia đình đồng bào dân tộc Thái, nay canh bon được các nhà hàng dân tộc ở Tây Bắc chọn làm một trong những món canh đặc sản để giới thiệu tới du khách.
Món măng chua xào trứng của dân tộc Mường Đồng bào dân tộc Mường sinh sống ở bản Heo, Tà Hộc (Mai Sơn, Sơn La) thường dùng măng chua làm từ măng bương xào với trứng. Cách chế biến món đặc sản này gia vị và nguyên liệu gồm có tỏi, mắc khén, ớt khô, muối, mì chính, trứng… người Mường vớt măng chua từ hũ ra chảo rồi đổ nước lã lên đun khoảng 15 phút, sau đó phi dầu ăn lên xào măng chua. Khi măng chua chín dần, thì đập trứng vào xào khoảng 5 phút thì có thể xong một món ăn. Hương vị đặc trưng của măng chua hòa quyện cùng trứng tạo nên một món ăn thơm nức mũi, làm bất cứ vị khách nào cũng phải trầm trồ khen ngon.
– Xôi đa sắc Tây Bắc hay còn gọi là xôi ngũ sắc, là một món xôi truyền thống
của đồng bào các dân tộc vùng Tây Bắc như Tày, Thái, Nùng. Món ăn này nổi bật với 5 màu sắc tự nhiên (trắng, đỏ, tím, vàng, xanh) tượng trưng cho ngũ hành và mang ý nghĩa văn hóa sâu sắc về sự may mắn, no ấm, tình yêu và sự hòa hợp giữa con người với thiên nhiên. Xôi ngũ sắc được chế biến từ gạo nếp nhuộm màu tự nhiên từ các loại lá, củ, quả như nghệ, lá cẩm, gấc, lá gừng, hoa đậu biếc…rồi đồ chín.
Chẳm Chéo Loại gia vị đặc trưng mà nhiều người còn hay gọi là chẩm chéo, là một loại gia vị đặc biệt của người Thái. Với vị cay của ớt, thơm của mắc khén, chẩm chéo là sự kết hợp hoàn hảo cho các món ăn của người Thái nói riêng và nhiều món ăn khác nói chung.
Thịt trâu lá lồm Món ăn ngon của vùng núi mới có, thịt trâu kết hợp với lá lồm có vị chua thanh mát, thịt trâu mềm ngon hòa cùng với gia vị, thực khách có thể thưởng thức cùng với cơm nóng hoặc bún đem đến hương vị thơm ngon lạ thường.
Thịt gà đồi nấu măng chua Trong những ngày thời tiết se lạnh; có cơ hội được thưởng thức món gà đồi nấu với măng chua, hạt dổi từ lâu đã nổi tiếng của đồng bào Mường chắc chắn sẽ chẳng thể nào quên. Gà đồi được chọn nấu canh măng chua cũng là loại gà được thả tự nhiên nên thịt săn chắc, dai và thơm. Gà được làm sạch thái miếng nhỏ rồi ướp cùng gia vị và măng chua cho ngấm. Sau đó, người Mường phi thơm hành mỡ rồi cho măng cùng thịt gà vào đảo đều cho đến khi săn lại. Đổ ngập nước vào thịt gà, đun lửa nhỏ cho đến khi gà chín mềm, tỏa mùi măng chua thơm nức.
Thịt chua Nhắc đến món ăn nổi tiếng của người Mường thì chắc chắn không thể không nhắc đến Thịt chua. Mỗi khi mổ lợn, người Mường xưa thường muối chua thịt để ăn dần. Đưa vào khoang miệng, chạm đầu lưỡi, sẽ cảm nhận được vị ngọt của thịt, thơm của thính, bùi bùi của lá sung cuốn kèm chấm cùng tương ớt. Tứ vị bùng nổ thổi bùng vị giác của bất kỳ tín đồ ẩm thực khó tính nào.
Da trâu thối (Năng min) được người Thái chế biến thành những món ăn cầu kỳ. Da để lông xong ủ bằng lá chuối kín, để 2 ngày vào mùa hè, và lâu hơn nếu mùa đông. Khi nào có mùi thì rửa lông sẽ tự rụng hết. Sau đó phơi, nấu canh bon, hoa chuối (cho thêm bột gạo nếp như món súp), nộm, nướng.
Sâu tre rang lá chanh Những con sâu tre có màu trắng muốt thường sinh sống trong những cây tre non mới mọc trên các triền núi. Vào thời tiết đầu thu là thời điểm loại sâu tre này phát triển nhiều nhất. Đặc sản sâu tre được bà con dân tộc Thái (đen) chế biến thành nhiều món ăn hấp dẫn khác nhau như: Sâu tre xào măng chua, sâu tre chiên giòn, sâu tre hấp, sâu tre đồ, sâu tre rang lá chanh,…nhưng ngon nhất và phổ biến nhất là món sâu tre rang cùng với lá chanh. Khi rang lên có mùi thơm khá độc đáo, khi ăn thì giòn tan trong miệng. Du khách nào đã từng lên mảnh đất Sơn La được thưởng thức món sâu tre rang, chắc chắn sẽ nhớ mãi cảm giác giòn tan, béo ngậy, hương vị độc đáo của món đặc sản dân tộc này.
Rượu cần trong văn hoá ẩm thực Mường, uống rượu cần cũng là một nét văn hoá riêng. Rượu cần người Mường uống tập thể. Mỗi lần uống rượu cần là ta lại được hoà mình vào những luật vui của các tuần rượu, được nghe hát đối đáp của các bên tham gia. Có thể khẳng định rằng, văn hoá Ẩm thực Mường cũng như văn hoá rượu Cần đã thể hiện được tính cộng đồng và tính huyết thống rất cao của dân tộc.
Ngoài ra, ẩm thực miền này còn rất nhiều đặc sản hấp dẫn đủ sức làm say đắm
bất cứ du khách nào từng nếm qua như thịt Lợn cắp nách nướng, Gà nướng mắc khén hạt dổi, Thịt lợn xay hấp lá chuối, Ruột non nướng, Trứng kiến, Nhộng ong, Da trâu muối chua, Cá suối, Nem cá, Cá Ngần, Ngóe om măng, Ngóe chiên xả, Ve Sầu chiên giòn, Bọ xít rang lá chanh, Bọ nước vùi than hồng, Muồm Muỗm rang, Tôm bay rừng già, Xôi nếp than, Cơm lam, Nậm đùi, cải mèo, măng đắng, trà shan tuyết cổ thụ… Tất cả đều từ những nguyên liệu của núi rừng mà tươi ngon, hấp dẫn đến nao lòng.
Vùng Tây Bắc là nơi có nền văn hóa đặc sắc và đa dạng, có rất nhiều lễ hội truyền thống của các dân tộc. Những lễ hội này mang nhiều ý nghĩa tín ngưỡng và văn hóa đối với các dân tộc sinh sống tại đây. Tất cả những đặc trưng văn hóa, hoạt động văn hóa truyền thống của vùng Tây Bắc Việt Nam đều tạo nên một bức tranh đa sắc màu và phong phú, giúp du khách hiểu thêm về nền văn hóa đặc trưng của đất nước ta.
KPVN Tổng hợp
Khám Phá Các Tỉnh Thuộc Duyên Hải Nam Trung Bộ
