Ảnh đẹp Đà Nẵng

TP. ĐÀ NẴNG – VÙNG DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ

Vùng đất Quảng Nam – TP. Đà Nẵng, là vùng đất giàu truyền thống văn hóa và nhiều di sản văn hóa thế giới nhất cả nước với 2 di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận là phố cổ Hội An và thánh địa Mỹ Sơn. Quảng Nam – TP. Đà Nẵng còn là một vùng đất địa linh nhân kiệt, nơi sản sinh ra nhiều người con ưu tú, tài ba và lỗi lạc cho đất nước.

Giới thiệu TP. Đà Nẵng

Đà Nẵng là một trong sáu thành phố trực thuộc trung ương của Việt Nam từ tháng 7/2025. Nằm tại khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ, đây là thành phố có diện tích lớn nhất của Việt Nam, đóng vai trò là trung tâm chính trị, kinh tế – xã hội lớn của miền Trung và là hạt nhân quan trọng trong Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung. Thành phố Đà Nẵng hiện là đô thị loại I, là thành phố trung tâm cấp vùng và cấp quốc gia. Là nơi có nhiều di sản văn hóa thế giới nhất cả nước với hai di sản văn hóa thế giới được tổ chức UNESCO công nhận là phố cổ Hội An và thánh địa Mỹ Sơn. Ngoài ra, TP. Đà Nẵng ngày nay còn là một vùng đất địa linh nhân kiệt, nơi sản sinh ra nhiều người con ưu tú, tài ba và lỗi lạc cho đất nước.

Toàn cảnh thành phố Đà nẵng – Vùng đất Quảng Nam.

Đà Nẵng có vị trí trọng yếu cả về kinh tế – xã hội và quốc phòng – an ninh với vai trò cực tăng trưởng quốc gia là trung tâm công nghiệp, tài chính, du lịch, dịch vụ, văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo của khu vực Miền Trung, Tây Nguyên và cả nước; trung tâm tổ chức các sự kiện tầm khu vực và quốc tế. Đà Nẵng cũng là đô thị biển và đầu mối giao thông rất quan trọng về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không.

Trong những năm gần đây, Đà Nẵng tích cực đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cải thiện môi trường, nâng cao an sinh xã hội và được đánh giá là thành phố đáng sống nhất Việt Nam. Năm 2018, Đà Nẵng được chọn đại diện cho Việt Nam lọt vào danh sách 10 địa điểm tốt nhất để sống ở nước ngoài do tạp chí du lịch Live and Invest Overseas (LIO) bình chọn.

Đà Nẵng Ở Đâu

Vị trí địa lý

Trung tâm Thành phố Đà Nẵng nằm ở trung độ của Việt Nam, cách thủ đô Hà Nội 766km về phía Nam và cách Thành phố Hồ Chí Minh 961km về phía Bắc theo đường quốc lộ 1A. Phía Đông giáp Biển Đông; Phía Tây giáp tỉnh Sekong, Lào; Phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi; Phía Bắc giáp thành phố Huế. 

Ngoài phần đất liền, vùng biển của thành phố gồm quần đảo Hoàng Sa (khu vực đang bị chiếm đóng trái phép bởi Trung Quốc) nằm ngang bờ biển các tỉnh từ nam Quảng Trị, đến bắc Quảng Ngãi. Cách đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi khoảng 120 hải lý. Khu vực quần đảo nằm trên vùng biển rộng khoảng 30.000 km². Tổng diện tích phần nổi của quần đảo khoảng 10 km², trong đó đảo Phú Lâm chiếm diện tích lớn nhất khoảng 1,5 – 2,1 km². Hoàng Sa án ngữ đường hàng hải quốc tế huyết mạch từ Thái Bình Dương qua Ấn Độ Dương và đến Đại Tây Dương. Vùng biển này có tiềm năng lớn về khoáng sản, hải sản, có thuận lợi để phát triển kinh tế nhưng quan trọng hơn đây là vị trí quân sự chiến lược, khống chế đường giao thông trên biển và trên không trong khu vực phía Bắc biển Đông. 

Bản đồ vị trí địa lý - Du lịch TP. Đà Nẵng - Việt Nam
Bản đồ vị trí địa lý – Du lịch TP. Đà Nẵng – Việt Nam.

Điều kiện tự nhiênĐịa hình

Thành phố Đà Nẵng có địa hình nghiêng dần từ Tây sang Đông hình thành 3 kiểu cảnh quan sinh thái rõ rệt là kiểu núi cao phía Tây, kiểu trung du ở giữa và dải đồng bằng ven biển. 

Về mặt địa chất, Đà Nẵng nằm ở rìa của miền uốn nếp Paleozoi được biết đến với tên gọi Đới tạo núi Trường Sơn – nơi mà những biến dạng chính đã xảy ra trong kỷ Than đá sớm. Cấu trúc địa chất khu vực Đà Nẵng gồm có năm đơn vị địa tầng chủ yếu, lần lượt từ dưới lên là: hệ tầng A Vương, hệ tầng Long Đại, hệ tầng Tân Lâm, hệ tầng Ngũ Hành Sơn và trầm tích Đệ Tứ. Trong đó các hệ tầng A Vương, Long Đại, Tân Lâm có thành phần thạch học chủ yếu là đá phiến và sa thạch. Hệ tầng Ngũ Hành Sơn chủ yếu là đá vôi hoa hóa màu xám trắng. Trầm tích Đệ Tứ bao gồm các thành tạo sông, sông – biển, biển, biển – đầm lầy có tuổi từ Pleistocen sớm đến Holocen muộn, chủ yếu là cát, cuội, sỏi, cát pha, sét pha,…

TP. Đà Nẵng nhìn từ bán đảo Sơn Trà.

Vùng đồi núi chiếm phần lớn diện tích tự nhiên, là nơi tập trung nhiều rừng đầu nguồn và có ý nghĩa bảo vệ môi trường sinh thái với nhiều ngọn cao trên 2.000m như núi Lum Heo cao 2.045m, núi Tion 2.032m, núi Gole – Lang 1.855m. Núi Ngọc Linh cao 2.598m nằm giữa ranh giới Đà Nẵng, Quảng Ngãi là đỉnh núi cao nhất của dãy Trường Sơn. Đồng bằng ven biển là vùng đất thấp chịu ảnh hưởng của biển, một phần bị nhiễm mặn. Vùng ven biển phía đông sông Trường Giang là dải cồn cát chạy dài từ vùng Điện Bàn đến Núi Thành. Bề mặt địa hình bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi khá phát triển gồm sông Cu Đê, sông Hàn, Thu Bồn, sông Tam Kỳ, Trường Giang, An Tân… TP. Đà Nẵng hiện nay có đường bờ biển dài 199 km, ven biển có nhiều bãi tắm đẹp, nổi tiếng Việt Nam. Cù Lao Chàm là cụm đảo ven bờ với hệ sinh thái phong phú được công nhận là khu dự trữ sinh quyển của thế giới. Thiên nhiên Đà Nẵng đa dạng, có biển, đảo, bán đảo, vùng vịnh, đồi núi, sông suối, đồng bằng phân bố đóng góp vào phát triển kinh tế, du lịch.  

Quần đảo Hoàng Sa

Quần đảo Hoàng Sa Việt Nam, gồm hai cụm đảo chính là cụm đảo Lưỡi Liềm nằm về phía tây, có hình cánh cung, bao gồm các đảo là Hoàng Sa, Hữu Nhật, Duy Mộng, Quang Ảnh, Quang Hòa, Bạch Quy, Tri Tôn cùng các mỏm đá, bãi ngầm. Và cụm đảo An Vĩnh nằm về phía đông bao gồm các đảo tương đối lớn của quần đảo Hoàng Sa và cũng là các đảo san hô lớn nhất của biển Đông như đảo Phú Lâm, đảo Cây, đảo Linh Côn, đảo Trung, đảo Bắc, đảo Nam và cồn cát Tây. Nhiều thực thể trong quần đảo biểu hiện dạng vành khuyên cổ của các rạn san hô vòng Thái Bình Dương, vốn dĩ là kết quả phát triển của san hô cộng với sự lún chìm của vỏ Trái Đất. Hình thái địa hình các đảo tương đối đơn giản nhưng mang đậm bản sắc của địa hình ám tiêu san hô vùng nhiệt đới có cấu tạo ba phần khác nhau đó là phần đảo nổi, hành lang bãi triều (thềm san hô) bao quanh đảo và sườn bờ ngầm dốc đứng. Đa số các đảo nổi có độ cao dưới 10 m.

Khí hậuĐà Nẵng

Thành phố Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao và ít biến động. Khí hậu Đà Nẵng là nơi chuyển tiếp đan xen giữa khí hậu cận nhiệt đới ở miền Bắc và nhiệt đới xavan ở miền Nam, với tính trội là khí hậu nhiệt đới ở phía Nam. Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 10 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 2 đến tháng 8, tháng 1 và tháng 9 là các tháng chuyển tiếp với đặc trưng là thời tiết hay nhiễu loạn và khá nhiều mưa. Mưa phân bố không đều theo không gian, mưa ở miền núi nhiều hơn đồng bằng. Vùng Tây Bắc thuộc lưu vực sông Bung có lượng mưa thấp nhất trong khi vùng đồi núi Tây Nam thuộc lưu vực sông Thu Bồn có lượng mưa lớn nhất. Thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đông nhiệt độ vùng đồng bằng có thể xuống dưới 12 °C và nhiệt độ vùng núi còn thấp hơn, nhưng thấy chung không đậm và không kéo dài.

Nhiệt độ cao nhất vào các tháng 6, 7, 8, trung bình 28-30°C; thấp nhất vào các tháng 12, 1, 2, trung bình 18-23°C. Vùng rừng núi Bà Nà ở độ cao gần 1.500m, nhiệt độ trung bình năm khoảng 20°C.  Mỗi năm Đà Nẵng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ một đến hai cơn bão hoặc áp thấp nhiệt đới.

Du lịch Đà Nẵng mùa nào đẹp

Mùa đẹp nhất từ (Tháng 4 – 8) sôi động, thích hợp cho gia đình, nhóm bạn trẻ. Du lịch Đà Nẵng đẹp nhất vào mùa khô, từ tháng 4 đến tháng 8, với trời nắng ráo, biển xanh trong, lý tưởng cho tắm biển, vui chơi ngoài trời và tham gia lễ hội, khám phá di sản như Hội An, Mỹ Sơn. Thời tiết nắng nhiều, ít mưa, biển lặng, nhiệt độ dễ chịu (khoảng 28-32°C). Nhiều hoạt động như tắm biển Mỹ Khê, Cù Lao Chàm, An Bàng, Cửa Đại, lặn ngắm san hô, khám phá Sơn Trà, Bà Nà Hills, rừng dừa 7 Mẫu, check-in cầu Rồng, tham gia Lễ hội Pháo hoa Quốc tế DIFF… Lưu ý, đây là mùa cao điểm, lượng khách đông, cần đặt dịch vụ sớm. 

Đà Nẵng với mùa hè sôi động, rực rỡ sắc màu.

Mùa chuyển giao (Tháng 9 – 10): Lãng mạn, yên bình, thích hợp cho cặp đôi, người thích yên tĩnh. Thời tiết: Bắt đầu có mưa rào, biển động nhẹ, nhưng vẫn có những ngày nắng đẹp. Trải nghiệm: Không khí lãng mạn của mưa thu, ít khách du lịch, giá cả phải chăng hơn. Phù hợp cho: Cặp đôi, người muốn tìm sự riêng tư và trải nghiệm khác biệt. 

Mùa thấp điểm (Tháng 11 – 3): Mát mẻ, trời se lạnh hơn, biển động mạnh từ tháng 10-12. Hoạt động: Khám phá ẩm thực, chùa chiền, (tháng 2,3 – mùa lễ hội) có nét lãng mạn riêng với mưa nhẹ, phố cổ yên bình hơn, tham quan, du lịch khám phá, nghỉ dưỡng, trải nghiệm phố cổ Hội An trong không gian yên tĩnh, trải nghiệm không khí du xuân. Phù hợp cho: Du lịch tiết kiệm, thích hợp cho những ai thích không khí tĩnh lặng, trải nghiệm văn hóa.., tránh đông đúc. 

Đà Nẵng có 2 mùa rõ rệt mùa khô và mùa mưa, tùy vào sở thích mà bạn chọn thời điểm phù hợp: Thích biển, nắng thì đi mùa khô; thích không khí hoài cổ, yên bình thì đi cuối năm hay đầu xuân. 

III. Đi đến Đà Nẵng du lịch thế nào

Thành phố Đà Nẵng nằm ở trung độ của Việt Nam, trên trục giao thông huyết mạch Bắc – Nam về cả đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không. Thành phố còn là điểm cuối trên Hành lang Kinh tế Đông – Tây, là một trong những cửa ngõ quan trọng ra biển của Tây Nguyên và các nước Lào, đông bắc Campuchia, Thái Lan và Myanmar. Khoảng cách từ Đà Nẵng đến các trung tâm kinh tế, văn hóa chính của khu vực Đông Nam Á như Bangkok Thái Lan, Kuala Lumpur Malaysia, Singapore, Manila Philippines đều nằm trong khoảng 1.000–2.000 km.

Đường không Hiện tại, thành phố có 2 sân bay: Sân bay Quốc tế Đà Nẵng là một trong những sân bay quốc tế lớn nhất, quan trọng nhất Việt Nam. Trục Nội Bài – Đà Nẵng – Tân Sơn Nhất là đường bay nội địa nhộn nhịp nhất Việt Nam. Ngoài ra, đường hàng không Đà Nẵng có thể nối trực tiếp với Singapore, Đài Bắc, Thượng Hải, Bắc Kinh, Ma Cao, Seoul, Tokyo, Doha, Kuala Lumpur, Jakarta, Moskva, New Delhi,… Tính đến năm 2019, từ Đà Nẵng đã có 16 tuyến bay nội địa, 48 tuyến đường bay đi quốc tế. Sân bay Chu Lai được Vietnam Airlines, Vietjet Air khai thác các đường bay đến Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Đang được đầu tư nâng cấp, cải tạo để trở thành cảng hàng không quốc tế, phục vụ cả vận chuyển hành khách, hàng hóa và logistics hàng không.

Những chuyến tàu kết nối di sản miền trung. Ảnh: Vnexpress

Đường sắt Tuyến đường sắt huyết mạch Bắc – Nam chạy dọc trên địa bàn thành phố hiện nay với 12 nhà ga, trong đó Ga Đà Nẵng là một trong những ga chính, quan trọng nhất trên tuyến, hàng ngày tất cả các chuyến tàu ra Bắc vào Nam đều dừng tại đây với thời gian khá lâu để đảm bảo cho lượng khách lớn lên xuống tàu. Ngoài các chuyến tàu Bắc – Nam, Ga Đà Nẵng còn có thêm những chuyến tàu kết nối Đà Nẵng – Huế, Đà Nẵng – Hà Nội, Đà Nẵng – Thành phố Hồ Chí Minh đáp ứng rất lớn lượng khách trong mùa cao điểm. Ngoài ra, Đà Nẵng còn nằm trên trục chính đường sắt Tây Nguyên gồm Đà Nẵng – Kon Tum – Gia Lai – Đắk Lắk – Đắk Nông – Chơn Thành đến Thành phố Hồ Chí Minh đang được nghiên cứu đầu tư.

Đường biển Với một vị trí đặc biệt thuận lợi về giao thông đường biển, nằm gần với đường hàng hải quốc tế, Cảng Đà Nẵng là cảng biển lớn nhất của miền Trung, có khả năng tiếp nhận các tàu lớn có trọng tải đến 40.000 tấn. Cảng Tiên Sa, Đà Nẵng cũng góp phần phát triển du lịch của thành phố thông qua việc đón khoảng 95 lượt tàu du lịch với gần 188.000 hành khách và thuyền viên, là cửa ngõ quan trọng đón khách du lịch đường biển. 

Đường bộ Đà Nẵng kết nối với các địa phương trong nước thông qua 2 đường quốc lộ: Quốc lộ 1A cùng với đường cao tốc Bắc – Nam phía Đông, nối Đà Nẵng với các tỉnh ở hai đầu Bắc, Nam. Và Quốc lộ 14B cùng với đường cao tốc Bắc – Nam phía Tây nối Đà Nẵng với các tỉnh miền Nam Trung Bộ và Tây Nguyên của Việt Nam. Ngoài ra, việc đưa vào sử dụng hai cao tốc tiểu vùng là Đà Nẵng – Quảng Ngãi và La Sơn – Tuý Loan. Quốc lộ 14D; Quốc lộ 14E; Quốc lộ 14G; Quốc lộ 14H; Quốc lộ 40B; Quốc lộ 24C, các tỉnh lộ… sẽ giúp hệ thống giao thông Vùng được kết nối và đảm bảo.

Hiện nay, Đà Nẵng đang xúc tiến Hành lang Kinh tế Đông – Tây 2 (QL14D) từ điểm đầu Cảng Liên Chiểu – cửa khẩu Đắk Ốc – thị xã Pakse (Lào) – Ubon Ratchathan (Thái Lan). Tại đây có thể nối vào hệ thống giao thông của Thái Lan. Sự có mặt của Hành lang Kinh tế Đông – Tây 2 sẽ thuận lợi về nhiều mặt trong vận chuyển hàng hóa, hành khách, đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế, du lịch, văn hóa giữa 3 nước Việt Nam – Lào – Thái Lan.

Đi du lịch Đà Nẵng theo Tour du lịch đây là cách đi du lịch phổ biến và an toàn nhất, khách du lịch nên áp dụng, đặc biệt là khi đi theo đoàn. Nếu đi du lịch theo Tour, xuất phát từ Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh hoặc bất cứ đâu, giá Tour sẽ tùy theo điểm xuất phát và số ngày bạn tham quan du lịch.

Lịch sửVùng đất Quảng Nam– TP. Đà Nẵng

Tên gọi

Năm 1471, với sự kiện vua Lê Thánh Tông thành lập Thừa tuyên Quảng Nam, đã khẳng định chủ quyền lãnh thổ của Đại Việt đối với vùng đất này. Vua Lê Thánh Tông đã có một sự lựa chọn, một định hướng mang ý nghĩa lịch sử trọng đại trong quá trình phát triển lâu dài của người Việt và ý nghĩa chiến lược về tầm nhìn xa, xu thế phát triển, mang ý nghĩa quyết định vận mệnh của quốc gia Đại Việt ngày đó. Trải qua suốt quãng thời gian bao thăng trầm cùng dân tộc Việt Nam, danh xưng đã nhiều lần thay đổi tên gọi: Từ Đạo Thừa tuyên Quảng Nam đến xứ Quảng Nam, trấn Quảng Nam, dinh Quảng Nam thời xa xưa, rồi đặc khu Quảng Đà trong thời chiến tranh chống Mỹ, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng (tỉnh Quảng Đà) sau ngày thống nhất đất nước và trở lại danh xưng là tỉnh Quảng Nam và TP. Đà Nẵng khi được tái lập năm 1997 trên cơ sở chia tách tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng thành 2 đơn vị hành chính. Tháng 7/2025 một lần nữa do sự cải cách để phát triển Quảng Nam và Đà Nẵng lại sáp nhập lại, mang tên TP. Đà Nẵng, một trong 6 thành phố trực thuộc trung ương. 

Thời Sa Huỳnh và Chăm Pa

Thành phố Đà Nẵng – Vùng đất xứ Quảng, nơi các cư dân cổ thuộc Văn hóa Sa Huỳnh đã định cư từ hàng nghìn năm trước. Đồng bằng xứ Quảng đã dựng lên một nền văn minh lúa nước và dâu tằm nổi tiếng. Người Sa Huỳnh không chỉ là những cư dân nông nghiệp mà còn đi biển và có hoạt động giao thương bằng đường biển khá phát triển. Tại di tích Vườn Đình Khuê Bắc, các nhà khảo cổ học đã phát hiện và khai quật được những vết tích liên quan đến nơi ở và nơi chôn cất của cư dân thuộc thời kỳ Tiền Sa Huỳnh, cách đây khoảng 3.000 năm và một số hiện vật ở những lớp đất phía trên thuộc thời kỳ Chăm Pa sớm, cách đây gần 2.000 năm.

 

Cụm tháp Chăm Khương Mỹ, một tác phẩm kiến trúc nghệ thuật Champa. Ảnh: Mạnh Cường

Khi nhà nước Chăm Pa ra đời, vùng đất Đà Nẵng thuộc về tiểu quốc Amaravati. Tại tiểu quốc này đã có ít nhất hai vương triều là Lâm Ấp và Indrapura tồn tại. Những dấu tích của thời kỳ Chăm Pa còn biểu hiện khá đậm nét qua các di tích từ miếu thờ tín ngưỡng ở Đình Dương Lâm chỉ thờ ngẫu tượng Linga – Yony quy mô nhỏ bé đến các phế tích có quy mô lớn như lũy đất Thành Lồi, phế tích của các tháp Chăm như Tháp Quá Giáng, Tháp Xuân Dương và Tháp Phong Lệ. Trên địa bàn chùa ở Ngũ Hành Sơn còn lưu giữ một số hiện vật Chăm Pa như bệ thờ, mảnh bệ thờ, mảnh góc bệ thờ được khắc tạc với các đề tài như tượng, voi, sư tử, Drappla, hoa dây uốn xoắn,… thuộc phong cách nghệ thuật Đồng Dương thế kỷ 9. Ngoài ra còn có các giếng cổ Chăm Pa phân bố rải rác tại nhiều địa phương. Cuộc khai quật di tích Chăm ở làng Phong Lệ năm 2012 với việc phát hiện nền tháp Chăm có kích thước lớn nhất từ trước đến nay đã đưa đến giả thuyết: “rất có thể hơn 1.000 năm trước, vùng đất này là một trung tâm kinh tế, đô thị sầm uất hoặc là nơi giao thương qua lại”.

Thời Đại Việt

Trong nửa sau của thế kỷ thứ 10, các vua của vương triều Indrapura đã xung đột với Đại Việt. Năm 982, ba sứ thần mà Lê Hoàn gửi đến Chăm Pa đã bị bắt giữ. Lê Hoàn đã quyết định mở một cuộc tấn công vào vương quốc Indrapura và giết chết vua Chăm Parameshvaravarman I. Như một kết cục của sự thất bại, người Chăm cuối cùng đã bỏ rơi Indrapura vào khoảng năm 1000.

Thời trần Vào năm 1306, thông qua cuộc hôn nhân của Vua Jayasimhavarman III(Chế Mân) với Công chúa Huyền Trân con gái vua Trần Nhân Tông bằng việc nhượng hai châu Ô tức Thuận Châu (nam Quảng Trị, Huế) và châu Lý tức Hóa Châu (một phần Huế đến bắc sông Thu Bồn) làm sính lễ cho nhà Trần, thì các làng xóm của người Việt bắt đầu được hình thành. Tháng Giêng năm Đinh Mùi 1307, Vua Trần Anh Tông sai đổi tên châu Ô và châu Lý thành châu Thuận và châu Hóa. Đà Nẵng từ đây là phần đất thuộc châu Hóa, và từ sau 1446 thì Đà Nẵng thuộc địa phận của huyện Điện Bàn, phủ Triệu Phong, thừa tuyên Thuận Hóa. Sau khi sáp nhập vào Đại Việt, vùng Đà Nẵng trở vào vẫn là miền biên viễn, luôn bị quấy nhiễu và cướp phá.

Thời hậu Lê Năm 1471, sau khi chiếm vùng đất phía Nam Thuận Hóa cho đến đèo Cù Mông, vua Lê Thánh Tông lập thêm đơn vị hành chính thứ 13 – Thừa Tuyên Quảng Nam gồm 3 phủ: Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhơn (nay là Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định (cũ)). Danh xưng Quảng Nam xuất hiện từ đây. Thì vùng đất này mới được bình ổn và bắt đầu có những cuộc khai phá mở mang. Những cư dân Việt đến sinh sống ở vùng này đã tiếp nhận và cải biến những yếu tố của văn hóa Chăm Pa để hòa nhập vào văn hóa Việt.

Thời các Chúa Nguyễn Vùng đất này đã được khai phá và trở nên trù phú thịnh vượng; các thương nhân cùng tàu thuyền nước ngoài thường xuyên ra vào mua bán, trao đổi hàng hóa. Giữa thế kỷ 16, khi Hội An là trung tâm buôn bán sầm uất ở phía nam thì Đà Nẵng nằm ở vị trí tiền cảng với vai trò trung chuyển hàng hóa, tu sửa tàu thuyền. Đầu thế kỷ 18, vị trí tiền cảng của Đà Nẵng dần dần trở thành thương cảng thay thế cho Hội An, nhất là khi kỹ thuật đóng tàu ở châu Âu phát triển; những loại tàu thuyền lớn, đáy sâu có thể ra vào vịnh Đà Nẵng dễ dàng.

Thời kỳ các Chúa Nguyễn cũng đánh dấu sự thành lập của Hải đội Hoàng Sa với nhiệm vụ ra đóng ở quần đảo Hoàng Sa, mỗi năm 8 tháng để khai thác các nguồn lợi: đánh cá, thâu lượm những tài nguyên của đảo và những hóa vật do lấy được từ những tàu đắm đem về nộp cho triều đình. Quá trình hoạt động của Hải đội Hoàng Sa cũng là quá trình xác lập và thực thi chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa (và Trường Sa) kéo dài từ đầu thế kỷ 17.

Thời Tây Sơn Đến giữa thế kỷ 17, việc triều chính xứ Đàng Trong suy đồi. Thuế thì nặng; quan lại thì lợi dụng địa vị, sinh sự làm khổ dân. Trước hoàn cảnh đó, khi phong trào Tây Sơn bùng nổ, dân vùng Quảng Nam cũng nổi dậy. Mùa thu năm 1773 khi quân Tây Sơn kéo ra Quảng Nam, dân Quảng Nam đã phối hợp cùng nghĩa quân phục kích ở Bến Đá (Thạch Tân, Thăng Hoa, Quảng Nam) đánh bại quân của chúa Nguyễn do các tướng Nguyễn Cửu Thống, Nguyễn Hữu Sách chỉ huy. Nhà Tây Sơn tuy vậy chỉ tồn tại trong thời gian ngắn ngủi. Năm 1797, quân Nguyễn Ánh đem đại binh tiến đánh Đà Nẵng.

Thời nhà Nguyễn

Năm 1806 vua Gia Long thống nhất đất nước. Về hành chính, vua chia đất nước thành 23 trấn và 4 doanh thuộc đất kinh kỳ gồm Trực Lệ – Quảng Đức, Quảng Bình, Quảng Trị và Quảng Nam doanh. Năm 1831, vua Minh Mạng đổi trấn và doanh thành tỉnh. Quảng Nam (TP. Đà Nẵng) chính thức trở thành tỉnh từ năm này. Tỉnh Quảng Nam được chia thành 2 phủ: Thăng Bình và Điện Bàn.

Với vị trí chiến lược quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến sự an nguy của kinh đô Phú Xuân, Đà Nẵng là một quân cảng và một thương cảng quan trọng bậc nhất của triều Nguyễn. Ngay sau khi thành lập, vương triều Nguyễn đã chú trọng xây dựng tại đây một hệ thống quản lý và phòng thủ cảng biển đặc biệt. Năm 1813, triều đình sai Nguyễn Văn Thành lập pháo đài Điện Hải và đồn An Hải nằm hai bên tả hữu sông Hàn để quan sát ngoài biển và phòng thủ Đà Nẵng. Trung tâm hành chính của tỉnh Quảng Nam được chuyển từ Dinh Chiêm (gần Hội An) ra đại đồn La Qua (Vĩnh Điện). Đặc biệt, Gia Long quy định việc đón tiếp các đoàn sứ ngoại quốc đến quan hệ với vương triều nhất định phải vào cửa biển Đà Nẵng mà không được cập bến tại bất kỳ một cửa biển nào khác.

Năm 1835, khi Vua Minh Mạng có dụ: “…tàu Tây đậu tại cửa Hàn, còn các cửa biển khác không được vào, phép nước rất nghiêm, chẳng nên làm trái… Từ nay về sau, người Tàu phải đi tàu buôn nước Tàu, mới cho vào cửa biển, người Tây phải đi tàu nước Tây vào cửa Hàn thông thương, không được ghé vào các cửa biển khác…” thì Đà Nẵng trở thành hải cảng chính thức và duy nhất thực thi chính sách ngoại giao của nhà Nguyễn với các nước đến quan hệ qua đường biển. Vua Thiệu Trị cũng đặc biệt quan tâm đến việc an ninh cảng biển tại Đà Nẵng và đưa ra những quy định chặt chẽ quản lý người phương Tây đến buôn bán tại đây.

Nhà Nguyễn tiếp tục thực thi nhiều chính sách khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa. Năm 1816, Vua Gia Long chính thức chiếm hữu đảo, ra lệnh cắm cờ trên đảo và đo thủy trình. Năm 1835, Vua Minh Mạng cho xây miếu, đặt bia đá, đóng cọc, và trồng cây. Đội Hoàng Sa được trao nhiều nhiệm vụ: khai thác, tuần tiễu, thu thuế dân trên đảo và nhiệm vụ biên phòng bảo vệ quần đảo. Hải đội này tiếp tục hoạt động cho đến khi người Pháp vào Đông Dương.

Ngay từ giai đoạn 1843-1857 thì mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Pháp đã trở nên nóng bỏng. Tháng 3 năm 1847, Augustin de Lapierre chỉ huy tàu Gloire cập bến Đà Nẵng, trình thư cho nhà Nguyễn nhưng bị từ chối. Sang ngày 15 tháng 4 năm 1847, tàu Pháp đụng độ với bốn tàu của triều đình Huế và đánh tan quân triều đình chỉ sau hai giờ giao tranh. Giữa tháng 9 năm 1856, tàu Catinat do Lelieur chỉ huy ghé Đà Nẵng, trình quốc thư nhưng tiếp tục bị nhà Nguyễn từ chối. Ngày 28 tháng 9, phía Pháp cho tàu Catinat nã súng vào các pháo đài bảo vệ Đà Nẵng và cho quân đổ bộ đóng đinh vô hiệu hóa nhiều khẩu thần công của Việt Nam. Tính chung suốt từ 1843 đến 1857, Pháp đã sáu lần gửi chiến hạm đến Đà Nẵng.

Thời Pháp thuộc

 

Liên quân Pháp – Tây Ban Nha tấn công Đà Nẵng rạng sáng ngày 1 – 9 – 1858

Năm 1858, cuộc xâm lược của Pháp tại Việt Nam khởi đầu bằng cuộc tấn công vào Đà Nẵng. Ngày 25 tháng 8 năm 1883, triều đình Huế buộc phải ký với Pháp Hiệp ước Harmand. Theo điều 6 và 7 của Hiệp ước này, ngoài việc yêu cầu mở cửa Đà Nẵng để thông thương còn quy định rằng Pháp sẽ được phép lập các khu nhượng địa ở đây.

Ngày 17 tháng 8 năm 1887, Tổng thống Pháp ký sắc lệnh thành lập ba thành phố ở Việt Nam là Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng. Ngày 3 tháng 9 năm 1887, Vua Đồng Khánh buộc phải ký một đạo dụ gồm 3 khoản quy định rõ “…Đà Nẵng được chính phủ Đại Nam kiến lập thành nhượng địa Pháp và nhượng trọn quyền cho chính phủ Pháp, và chính phủ Đại Nam từ bỏ mọi quyền hành trên lãnh thổ đó”. Theo phụ đính của đạo dụ này, năm xã của huyện Hòa Vang gồm Hải Châu, Phước Ninh, Thạch Thang, Nam Dương và Nại Hiên Tây nằm bên tả ngạn sông Hàn được cắt giao cho Pháp để lập “nhượng địa” Tourane với diện tích 10.000 ha. Ngày 24 tháng 5 năm 1889, Toàn quyền Đông Dương Étienne Richaud ra nghị định thành lập thành phố Đà Nẵng thuộc tỉnh Quảng Nam. Đà Nẵng là thành phố loại 2, tương tự như thành phố Chợ Lớn thành lập trước đó. Đơn vị hành chính này chịu sự cai quản trực tiếp của Toàn quyền Đông Dương thay vì triều đình Huế. Đứng đầu thành phố là một viên Đốc lý do Khâm sứ đề nghị và Toàn quyền bổ nhiệm. Ngày 15 tháng 1 năm 1901, dưới sức ép của Pháp, Vua Thành Thái buộc phải ký một đạo dụ nới rộng nhượng địa Đà Nẵng thêm 14 xã, cụ thể là thêm 8 xã thuộc huyện Hòa Vang bên tả ngạn sông Hàn và 6 xã thuộc huyện Diên Phước bên hữu ngạn sông Hàn. Ngày 19 tháng 9 năm 1905, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định tách Đà Nẵng khỏi tỉnh Quảng Nam để trở thành một đơn vị hành chính độc lập gồm 19 xã. Như vậy vào đầu thế kỷ 20, thành phố Tourane/Đà Nẵng đã vươn về phía tây và tây bắc, còn phía đông thì đã vượt sang hữu ngạn sông Hàn chiếm trọn bán đảo Sơn Trà.

Đầu thế kỷ 20, Tourane được Pháp xây dựng trở thành một đô thị theo kiểu Tây phương. Cơ sở hạ tầng xã hội, kỹ thuật sản xuất được đầu tư. Sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, chế biến hàng xuất khẩu, sửa chữa tàu thuyền, kinh doanh dịch vụ được hình thành và phát triển; cùng với Hải Phòng và Sài Gòn, Tourane trở thành trung tâm thương mại quan trọng. Cảng Đà Nẵng đã tương đối hoàn chỉnh và đi vào hoạt động từ giai đoạn 1933-1935. Sân bay dân dụng cũng được nhà cầm quyền sớm xây dựng vào năm 1926. Hầu hết các công ty lớn nhất hoạt động ở Đông Dương đều hiện diện ở Đà Nẵng. 

Trong thời gian này, người Pháp vẫn tiếp tục quản lý quần đảo Hoàng Sa. Ngày 8 tháng 3 năm 1925, Toàn quyền Đông Dương tuyên bố quần đảo Hoàng Sa (và Quần đảo Trường Sa) là lãnh thổ của Pháp. Từ năm 1925, Viện Hải dương học và Nghề cá Nha Trang đã thực hiện các cuộc khảo sát ở Hoàng Sa. Năm 1938, Pháp bắt đầu phái các đơn vị bảo an tới các đảo và tiến hành dựng bia chủ quyền, hải đăng, trạm vô tuyến, trạm khí tượng trên đảo Hoàng Sa cùng một trạm khí tượng nữa trên đảo Phú Lâm. Ngày 15 tháng 6 năm 1938, Toàn quyền Đông Dương Jules Brévié thành lập đại lý hành chính ở quần đảo Hoàng Sa. Tháng 6 năm 1938, một đơn vị lính bảo an Việt Nam được phái ra đồn trú Hoàng Sa.

Thời Việt Nam Cộng hòa

Năm 1949, Pháp trao trả Đà Nẵng cho chính phủ Quốc gia Việt Nam dưới thời Quốc trưởng Bảo Đại. Sau Hiệp định Genève 1954 đất nước bị chia cắt làm hai miền, lấy Vĩ tuyến 17 tại Quảng Trị làm ranh giới. Toàn bộ địa giới từ Vĩ tuyến 17 trở vào Nam thuộc quản lý của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Chính quyền Ngô Đình Diệm tiến hành phân chia lại địa giới hành chính. Lúc này, Đà Nẵng trực thuộc tỉnh Quảng Nam. Tháng 9/1955, chính quyền Việt Nam Cộng hòa giải thể thành phố Tourane để thành lập thành phố Đà Nẵng trực thuộc trung ương. Như vậy thành phố Đà Nẵng là một trong 15 tỉnh thành của Nam Phần được chính quyền Việt Nam Cộng Hòa thiết lập. Đến ngày 31/7/1962, tỉnh Quảng Nam được tách thành hai tỉnh, lấy sông Rù Rì (tức sông Ly Ly) làm ranh giới là Quảng Nam ở phía Bắc gồm chín quận: Hòa Vang, Đại Lộc, Điện Bàn, Duy Xuyên, Đức Dục, Hiếu Nhơn, Quế Sơn, Hiếu Đức, Thượng Đức, tỉnh lỵ đặt tại Hội An thuộc quận Hiếu Nhơn. Và tỉnh Quảng Tín ở phía Nam, từ sông Ly Ly vào đến Dốc Sỏi (ranh giới với tỉnh Quảng Ngãi), gồm 6 quận: Thăng Bình, Tam Kỳ, Lý Tín, Tiên Phước, Hậu Đức, Hiệp Đức. Tỉnh lỵ đóng tại Tam Kỳ. 

 

Những hình ảnh lính Mỹ đầu tiền đổ bộ Đà Nẵng với những khí tài hiện đại, thị uy dân chúng. Ảnh: Bảo tàng Đà Nẵng.

Trong khi đó cuộc Chiến tranh Việt Nam ngày càng gia tăng. Tháng 3 năm 1965 các đơn vị thủy quân lục chiến Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng và thiết lập ở đây một căn cứ quân sự hỗn hợp lớn. Sân bay Đà Nẵng được coi là một trong những sân bay “tấp nập” nhất trong chiến tranh. Năm 1967, Đà Nẵng được chính quyền Việt Nam Cộng hòa ấn định là thành phố trực thuộc trung ương và xác định mục tiêu xây dựng Đà Nẵng thành trung tâm chính trị, quân sự, văn hóa cho vùng I và II chiến thuật. Mỹ cho xây dựng ở Đà Nẵng các căn cứ quân sự và kết cấu hạ tầng phục vụ cho mục đích quân sự như sân bay, cảng, kho bãi, cơ sở thông tin liên lạc…

Năm 1973, khi quân Mỹ rút khỏi Việt Nam theo hiệp định Paris, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã cho phân chia lại địa giới hành chính Đà Nẵng, giữ nguyên 3 quận như cũ, chỉ sáp nhập 28 khu phố bên dưới cấp quận thành 19 phường. Thành phố Đà Nẵng được đặt dưới quyền điều hành của Hội đồng thị xã gồm 12 ủy viên và do một Thị trưởng đứng đầu. 

Dưới thời Việt Nam Cộng hòa, Đà Nẵng là đô thị lớn thứ hai miền Nam. Tính đến trước sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, cảng Đà Nẵng là nơi cung cấp hàng hóa cho cả vùng I chiến thuật, đồng thời là trung tâm tiếp tế cho gần 3 triệu dân miền Nam. Toàn thị xã khi đó có hàng chục công ty kinh doanh xuất nhập khẩu. Người dân Đà Nẵng chủ yếu sống bằng nghề buôn bán.

Sau Hiệp định Genève, quần đảo Hoàng Sa được giao cho chính quyền Quốc gia Việt Nam quản lý. Ngày 13 tháng 7 năm 1961, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm ký sắc lệnh 174-NV quy thuộc quần đảo này vào tỉnh Quảng Nam và thiết lập tại đó một đơn vị hành chính lấy tên là xã Định Hải thuộc quận Hòa Vang. Tuy nhiên trên thực tế là từ tháng 2 năm 1956, Trung Quốc đã chiếm quyền kiểm soát đảo Phú Lâm ở nhóm đảo An Vĩnh (phần phía đông của quần đảo). Phần kiểm soát của Việt Nam Cộng hòa chỉ giới hạn ở nhóm đảo Lưỡi Liềm (còn gọi là Nguyệt Thiềm) là phần phía tây của quần đảo với năm đảo san hô là Hoàng Sa, Hữu Nhật, Duy Mộng, Quang Ảnh và Quang Hòa. Đến ngày 19 tháng 1 năm 1974 hải chiến Hoàng Sa diễn ra và Việt Nam Cộng hòa đánh mất hoàn toàn nhóm Nguyệt Thiềm này.

Sau 1975

 

Xe tăng của Lữ đoàn 203, Sư 304, Quân đoàn 2 tiến vào giải phóng Đà Nẵng (29/3/1975). (Ảnh: Hoàng Giang TTXVN)

Sau khi thống nhất đất nước, chính phủ Nhà Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam quyết định sáp nhập 3 tỉnh: Quảng Nam, Quảng Tín và thành phố Đà Nẵng thành lập tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng với Đà Nẵng là tỉnh lị.

Ngày 6 tháng 11 năm 1996, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa 9 đã thông qua nghị quyết cho phép tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng tách thành tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng trực thuộc trung ương. Về địa giới hành chính, thành phố Đà Nẵng mới bao gồm thành phố Đà Nẵng trước đây cộng với huyện Hòa Vang và huyện đảo Hoàng Sa. Trên thực tế thì quần đảo Hoàng Sa đang nằm dưới sự kiểm soát của Trung Quốc chiếm đóng.

Ngày 1 tháng 1 năm 1997, Đà Nẵng chính thức trở thành thành phố trực thuộc trung ương. Ngày 23/1/1997, năm quận Hải Châu, Liên Chiểu, Ngũ Hành Sơn, Sơn Trà, Thanh Khê được thành lập. Ngày 15/7/2003, Đà Nẵng được công nhận là đô thị loại 1 và trở thành đô thị loại 1 trực thuộc trung ương thứ hai của cả nước sau Hải Phòng.

Tỉnh Quảng Nam, ngày 29/9/2006, chuyển thị xã Tam Kỳ thành thành phố Tam Kỳ. Ngày 29/1/2008, chuyển thị xã Hội An thành thành phố Hội An. 

Ngày 12 tháng 6 năm 2025, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 202/2025/QH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh (nghị quyết có hiệu lực từ ngày thông qua và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1 tháng 7 năm 2025). Theo đó, sáp nhập tỉnh Quảng Nam vào thành phố Đà Nẵng.

Văn hóaVùng đất QuảngNam (TP. Đà Nẵng)

1.Văn hóa Quảng Nammột số đặc điểm hình thành

Văn hóa Quảng Nam là một bộ phận nằm trong dòng chảy chung của nền văn hóa dân tộc, những giá trị văn hóa đó do con người tiền Quảng Nam và Quảng Nam sáng tạo ra trong quá trình lao động của mình, vừa phản ánh điều kiện tự nhiên lịch sử, xã hội và con người Quảng Nam đồng thời mang những nét chung thống nhất với những giá trị của văn hóa Việt Nam. Cùng với lịch sử hàng nghìn năm văn hiến của dân tộc, Quảng Nam là một trong những vùng đất có bề dày về truyền thống văn hóa. Trong quá trình khai phá, sáng tạo và tiếp biến của các thế hệ người dân Quảng Nam đã để cho thế hệ sau một kho tàng văn hóa vô cùng phong phú, đa dạng, đặc sắc.

Do những đặc thù về địa lý – lịch sử, địa lý – nhân văn, văn hóa Quảng Nam được hình thành trong tổng thể vùng văn hóa miền Trung dựa trên nền văn hóa Sa Huỳnh và nền văn hóa Chămpa. Nền văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Chămpa lại được hình thành là sự phát triển bản địa, nội sinh từ các văn hóa thời Đồng thau trước đó, cùng sự giao thoa, tiếp biến yếu tố từ Đông Sơn, Đồng Nai và các vùng Đông Á/Đông Nam Á/Ấn Độ, tạo nên nền văn hóa Tiền Sa Huỳnh đa dạng trước khi phát triển đỉnh cao thành Văn hóa Sa Huỳnh. Cho nên tìm hiểu văn hóa Quảng Nam ngoài những vấn đề mang tính bản chất chung của nền văn hóa Việt Nam, còn có những bản sắc rất riêng, rất đậm đà – Quảng Nam. Có thể nói, ít nơi nào có được bề dày cũng như sự đa dạng trầm tích văn hóa như ở đây.

 

Thánh địa Mỹ Sơn – Một kiệt tác huyền bí giữa lòng Quảng Nam – Ảnh: BQLDSVH Mỹ Sơn.

Quảng Nam, một trong những vùng đất có dấu tích con người tồn tại, tụ cư và sinh sống lâu đời. Cư dân trên đất Quảng Nam ngày nay và trước đây là những người có mặt từ rất sớm trong lịch sử phát triển của vùng đất như người Chăm bản địa; các dân tộc miền núi Cơtu, Xơđăng, Giẻ – Triêng, Cor…; là cư dân từ nơi khác chuyển đến như các tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa…; các nước Trung Hoa, Nhật Bản…, họ đoàn kết cùng nhau khai phá vùng đất, bảo vệ, xây dựng và phát triển vùng đất Quảng Nam.

Quá trình cộng cư ở Quảng Nam đã dẫn đến một hệ quả tất yếu đó là sự giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng dân cư tạo nên nét văn hóa rất đặc trưng của một vùng đất. Bên cạnh sự giao thoa với nền văn hóa Chămpa, cộng đồng cư dân Quảng Nam còn có sự giao lưu, tiếp biến với nền văn hóa bên ngoài. Cuối thế kỷ 16 đầu thế kỷ 17, chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã mở cửa giao lưu với Châu Á và các nước phương Tây. Để thuận lợi cho việc buôn bán, chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã cho phép người Hoa và người Nhật lựa chọn một địa điểm thuận tiện để xây dựng khu phố riêng, sống theo phong tục, tập quán riêng của nước mình và Hội An địa bàn có vị trí thuận lợi được lựa chọn làm nơi sinh sống của cộng đồng người Hoa và người Nhật. Vì vậy, Hội An trở thành trung tâm của quá trình giao lưu văn hóa trên vùng đất Quảng Nam.

 

Phố cổ Hội An, tọa lạc ở hạ lưu sông Thu Bồn.

Bên cạnh con đường ngoại thương, quá trình giao lưu, tiếp xúc văn hóa trong thời kỳ Pháp thuộc, thời kỳ chiến tranh chống Pháp và Mỹ trên đất Quảng Nam cũng đã làm cho nền văn hóa ở đây có sự chuyển biến nhất định. Trong thời Pháp thuộc phần đất nhượng địa phát triển theo quy hoạch của người Pháp, nhiều công trình kiến trúc và văn hóa Pháp ảnh hưởng rõ rệt. Và sự phản kháng của người dân Quảng Nam đối với nền văn hóa của kẻ thống trị rất quyết liệt, đó là sự khước từ, chống đối, không chịu khuất phục, thể hiện lòng tự trọng, tự tôn dân tộc khi bị xúc phạm. Đó cũng chính là khả năng tự vệ của văn hóa và đạo đức bản địa. Ngoài ý muốn của bọn xâm lược, quá trình xâm lược của chủ nghĩa thực dân cũng có một số tác động tích cực đó là tạo những cơ sở cho quá trình dân chủ hóa xã hội, tạo ra một nếp sống văn hóa mới, du nhập các luồng tư tưởng mới tiến bộ. Người dân đã biết thay đổi cách cư trú, ăn ở, trang phục…điều đó cũng đã dẫn đến sự thay đổi cả cách suy nghĩ và cách làm ăn.

Những giá trị văn hóa truyền thốngQuảng Nam

Giá trị văn hoá truyền thống của một vùng đất là tác nhân trực tiếp và vô cùng quan trọng để hình thành tính cách, nhân cách đặc thù của người Quảng Nam, và họ đã biết phát huy những tính cách đặc thù tốt đẹp đó để làm cho truyền thống địa phương ngày càng phong phú. Tương ứng với từng thời kỳ lịch sử khác nhau, trong điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội khác nhau, dân tộc Việt Nam nói chung và nhân dân Quảng Nam nói riêng luôn biết vận dụng sức mạnh của giá trị văn hoá truyền thống để đạt được mục tiêu của dân tộc. Giá trị văn hoá truyền thống Quảng Nam vừa mang tính thống nhất vừa mang tính đặc thù, đồng thời được dung hợp từ nhiều luồng văn hoá khác trong đó văn hoá Việt là cốt lõi, bên cạnh đó còn mang tính liên kết cộng đồng trong xã hội cao. Chính vì vậy, những giá trị văn hoá ấy mang nhiều giá trị quý giá.

 

Những nét đẹp trong lao động hình thành nên văn hóa người Quảng Nam.

Giá trị nhân văn Văn hóa Quảng Nam thông qua các hình thức biểu hiện của nó đã hàm chứa giá trị nhân văn sâu sắc. Các giá trị văn hóa Quảng Nam mà đặc biệt là các giá trị truyền thống như truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm, truyền thống hiếu học, tính cách và tín ngưỡng tâm linh… đều hướng đến cái tốt, cái thiện, tạo động lực giúp con người vượt qua những khó khăn, thử thách trong cuộc sống. Các hoạt động lễ hội của người dân ở Quảng Nam phong phú và đa dạng cả về hình thức lẫn nội dung. Các lễ hội đã mang trong mình những giá trị tốt đẹp giữa người với người, giữa cá nhân với cộng đồng, giữa con người với thiên nhiên. Các hoạt động lễ hội luôn gắn với các công trình kiến trúc tôn giáo – tín ngưỡng, những dấu vết của tín ngưỡng phồn thực của cư dân nông nghiệp, ngư nghiệp. Ở Quảng Nam, có lễ hội miền núi, miền biển, lễ hội nông nghiệp, lễ hội tôn giáo… những lễ hội tiêu biểu như Lễ hội Quán Thế Âm Đà Nẵng, lễ hội Bà Thu Bồn, lễ hội Chiên Đàn, lễ hội rước Cộ Bà Chợ Được, lễ tế Cá Ông của cư dân miền biển, lễ hội Long Chu ở Hội An, lễ hội Khai Sơn, lễ hội Mừng lúa mới, lễ Cúng máng nước ở các dân tộc thiểu số ở phía Tây… Tất cả đều mang yếu tố tín ngưỡng tâm linh của con người, tạo ra sự cân bằng, thống nhất trong đời sống con người, vun đắp tình làng, nghĩa xóm, đời sống cộng đồng. Thường các lễ hội này đều gắn với nước là để cầu mong bình an cho đời sống, cầu mùa màng, vạn vật luôn phát triển sinh sôi… cầu mong mưa thuận, gió hòa, quốc thái dân an, ngợi ca những bậc tiền nhân, hướng về cội nguồn truyền thống dòng tộc, làng xã, là khát vọng của con người vươn tới chân – thiện – mỹ.  Các lễ hội luôn gắn bó với không gian vật chất thiêng liêng, tráng lệ như Mỹ Sơn, Hội An, Ngũ Hành Sơn… Và cũng trong điều kiện không gian này các hình thức lễ hội có điều kiện thể hiện một cách rõ nét nhất. Ngược lại các ngày lễ vía, vọng, giỗ kỵ, múa hát… đã làm cho các di tích ở đây trở nên lung linh, huyền ảo, trang trọng, có hồn hơn. Các hình thức lễ hội được lưu giữ để khơi dậy thuần phong mỹ tục, nuôi dưỡng cái thiện, cái mỹ trong đời sống hiện thực của cộng đồng dân cư, phục vụ đời sống tâm linh của người dân. 

 

Nghi thức rước Thần Nông, từ Cồn Thần về Đình Thần Nông. Ảnh: Ông Văn Sinh

Cùng với những sinh hoạt lễ hội dân gian, Quảng Nam còn là cái nôi sản sinh nhiều làn điệu dân ca, hò, vè, hát ru, hát bội… Tính cách con người Quảng Nam được bộc lộ một cách sinh động và tập trung nhất qua các sinh hoạt văn nghệ dân gian, những bài hát ru, những câu chuyện cổ tích của các dân tộc Cơ Tu, Cor, Xơ Đăng, Gié Triêng biểu hiện đời sống tâm linh của cộng đồng dân cư khi phải đối mặt với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt của núi rừng…, những điệu hò, điệu lý của cư dân vùng đồng bằng, vùng sông nước, ven biển biểu hiện sự cần cù, nhẫn nại, chịu thương, chịu khó nhưng đầy vẻ trữ tình, lãng mạn. Tiêu biểu trong đó như các câu hát bả trạo của ngư dân miền biển, phản ánh cuộc sống đi biển đầy bất trắc nhưng qua đó thể hiện tinh thần lạc quan và niềm tin yêu cuộc sống, yêu nghề. Gắn với tín ngưỡng thờ cá Ông, hát bả trạo tuy thấm đượm màu sắc bi ai nhưng không hề bi lụy, thể hiện tâm tư, cảm xúc, nguyện vọng của những người dân sông nước trước cảnh đẹp, sự trù phú của biển cả, sự biết ơn đến đức Ông đã cứu nhân độ thế cho con người vượt qua sóng gió, hiểm nguy. Qua các hoạt động lễ hội, trò chơi dân gian, những câu ca điệu hát là dịp để cho cộng đồng dân cư vui chơi, giải trí, hưởng thụ các giá trị văn hóa do mình sáng tạo ra, đồng thời còn giúp cho họ bày tỏ những khát vọng tâm linh siêu thực, làm cho con người vui tươi, lạc quan, hăng say hơn trong quá trình lao động, sáng tạo trong sản xuất, xóa bỏ được những lo âu, phiền muộn trong cuộc sống đời thường. 

 

Hò bả trạo trong lễ hội cầu ngư truyền thống. Ảnh: Bảo tàng Đà Nẵng

Các trò chơi dân gian mà đặc biệt là hô bài chòi, ca ngợi tình yêu, tình phụ mẫu, tình thầy trò, theo những chuẩn mực đạo đức truyền thống của dân tộc thể hiện tâm tư tình cảm, ước vọng, hoài bão của con người. Họ không chỉ cầu mong cho cha mẹ, cho bản thân, gia đình mà còn cho tất cả cộng đồng. Đấy cũng chính là chuẩn mực đạo đức của dân tộc ta, hướng con người đến đỉnh cao của cái thiện. Nội dung bài chòi cũng ca ngợi tình yêu đôi lứa, ca ngợi sự thủy chung, gắn bó chia sẻ những niềm vui, nỗi buồn, sự ngang trái,… nhưng cái mà họ muốn hướng đến là những giá trị nhân văn trong tình yêu, ca ngợi những đức tính tốt đẹp của con người. Một số câu hò điệu hát còn thể hiện lòng hiếu nghĩa, lòng nhân ái, sự bao dung, chia sẻ, cái tâm trong sáng của giá trị đạo đức truyền thống dân tộc.

Những điệu hát trong bài chòi tuy khẳng khái, rắn rõi nhưng cũng mượt mà, sâu lắng, như chính tính cách của con người Quảng Nam vừa cứng cỏi, kiên định vừa uyển chuyển, linh hoạt. Có lẽ vì thế mà bài chòi đã trở thành một phần không thể thiếu của người dân nơi đây. Để rồi cứ mỗi lúc đi xa có những phút chạnh lòng nhớ về những giai điệu sâu lắng. Nó vừa duy trì tình cảm thân thiện, gắn bó, cởi mở, hòa đồng giữa mọi người với nhau, vừa bồi đắp tình cảm thắm thiết quê hương, làng xóm, làm cho các cộng đồng dân cư tham gia sáng tạo, thưởng thức và giao lưu cũng như đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng trong sinh hoạt tinh thần của mọi người, tạo thêm niềm tin vào cuộc sống, hăng hái lao động và xây dựng quê hương.

 

Bài chòi là một loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo và hấp dẫn.

Tinh thần yêu nước Quảng Nam vốn là vùng đất có truyền thống yêu nước thể hiện tinh thần độc lập tự chủ, sự hy sinh cao cả, tình đoàn kết trong chiếu đấu, thể hiện sức sống mãnh liệt. Trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ và giải phóng dân tộc, đất Quảng Nam đã có nhiều nhà yêu nước và canh tân lỗi lạc như Phạm Phú Thứ, Hoàng Diệu, Nguyễn Duy Hiệu, Trần Cao Vân, Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Văn Trỗi, Trần Dưỡng, Võ Chí Công… Quảng Nam là nơi có nhiều đơn vị, cá nhân đạt danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân nhất, có nhiều liệt sĩ, có nhiều mẹ Việt Nam anh hùng nhất cả nước. Đặc biệt, Mẹ Nguyễn Thị Thứ có 11 người thân là liệt sĩ, 1 người con còn lại của mẹ cũng là mẹ Việt Nam anh hùng, hình tượng của mẹ đã trở thành bất tử, là lòng kiêu hãnh, là niềm tự hào về đức hy sinh về truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm.

 

Tượng đài mẹ Thứ, một biểu tượng bất diệt của sức mạnh dân tộc Việt Nam.

Truyền thống hiếu học, cầu tiến, phẩm chất thông minh, người Quảng Nam quý cái chữ, kính trọng thầy cô, trọng trí thức,… Trong sinh hoạt giao tiếp hằng ngày, người Quảng Nam ưa nói chữ, có thể xem Quảng Nam là địa phương tiêu biểu nhất của vùng Trung Trung Bộ về các nhà khoa bảng là chí sĩ, sĩ phu yêu nước lừng danh. Năm 1890, vua Thành Thái đã từng xuống chiếu phong tặng danh hiệu “Ngũ phụng tề phi” khi 5 người gốc Quảng Nam cùng đậu tiến sĩ, phó bảng trong một kỳ thi Đình ở Huế. Trong các kỳ thi hương, thi hội, thi đình dưới thời nhà Nguyễn tổ chức, nhiều người đã đỗ đạt cao và chính truyền thống hiếu học đó nên Quảng Nam trở thành vùng đất học nổi tiếng, sản sinh ra nhiều khoa bảng, nhiều trí thức cho đất nước.

Như vậy, văn hóa Quảng Nam được sinh ra, tồn tại và phát triển từ thực tiễn cuộc sống sinh hoạt, lao động sản xuất, đấu tranh sinh tồn với thiên nhiên với xã hội của con người. Sau đó giá trị văn hóa quay trở lại phục vụ đời sống tinh thần của con người, đó cũng là điều lý giải tại sao những giá trị văn hóa thường có sức sống mãnh liệt và trường tồn trong suốt chiều dài lịch sử.

Sắc màuvăn hóa Quảng Nam

Quảng Nam (TP. Đà Nẵng) với 37 dân tộc cùng sinh sống, trong đó người Kinh chiếm khoảng 91,1%; người Cơ Tu 3,2%; người Xơ Đăng 2,7%; người Giẻ Triêng 1,3%; 29 dân tộc còn lại khoảng 0,9%. Trong số các dân tộc thiểu số còn có thêm nhiều nhóm, ví như người Xơ Đăng có nhóm Mơ Nâm, Ca Dong, Xơ Teng, người Giẻ Triêng có nhóm Ve, Tà Riềng, Bh’Noong. Các dân tộc thuộc nhiều nhóm ngôn ngữ, ngữ hệ khác nhau có sự giao lưu về nhân chủng cũng như văn hóa – xã hội… cùng quá trình giao lưu, hội nhập văn hóa diễn ra liên tục giúp vùng đất này có sự đa dạng dân tộc đặc trưng. Bên cạnh đó, Quảng Nam còn có sự đa dạng về tôn giáo, tín ngưỡng, với 11 tôn giáo, trong đó Công giáo, Phật giáo, Tin Lành, Cao Đài chiếm số đông, còn lại là các tôn giáo khác.

 

Nét văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số Cơ Tu.

Đa dạng các biểu đạt văn hóa

Đi cùng với đa dạng dân tộc là sự đa dạng các biểu đạt văn hóa của đất Quảng Nam, thể hiện tập trung ở sự đa dạng của các loại hình văn hóa. 

Hệ thống tri thức dân gian Tri thức dân gian được tất cả các tộc người trên vùng đất Quảng sáng tạo trong quá trình thích ứng với tự nhiên, lịch sử và xã hội, trở thành di sản quý báu giúp người dân ổn định và phát triển trong điều kiện khó khăn. Hệ thống tri thức này vô cùng phong phú, liên quan đến hầu hết khía cạnh của đời sống xã hội, từ hệ tri thức liên quan đến sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp, làm nghề cho đến tri thức liên quan đến ứng xử, từ tri thức tạo dựng ra các công cụ, vật dụng trong đời sống đến tri thức về phòng, chữa bệnh, từ kinh nghiệm dự đoán thời tiết, luồng sản vật đến các kỹ năng ra khơi, kỹ thuật chế tạo công cụ.

Các di tích khảo cổ học Với nhiều cuộc khai quật khảo cổ Quảng Nam đã thu nhận được nhiều phát hiện khảo cổ có giá trị. Các di tích khảo cổ học nổi tiếng ở Quảng Nam như Dinh trấn Thanh Chiêm; Gò Miếu Bà, Gò Mả Vôi, phế tích tháp Chăm Gò Gạch, phế tích Chăm Gò Chùa, An Hòa; di chỉ Bàu Trám, Bàu Dũ, Gò Dừa, An Phú, Chiên Đàn; 12 di tích khảo cổ ở Hội An. Hay cuộc khai quật khảo cổ dưới nước nổi tiếng – khai quật con tàu đắm tại vùng biển Cù lao Chàm, ẩn chứa nhiều thông điệp ý nghĩa về các nền văn hóa thời kỳ đồ đá mới, đồ đồng, đồ sắt cùng các nền văn hóa Sa Huỳnh, văn hóa Đông Sơn, Chăm Pa…

 

Tượng Laskmindra Lokeshvara  Bảo tàng Nghệ thuật Điêu khắc Chăm Đà Nẵng.

Các di tích lịch sử Với địa phương có bề dày lịch sử trong công cuộc dựng nước và giữ nước, Quảng Nam còn lưu giữ trên 213 di tích lịch sử cần bảo vệ, trong đó có các di tích đình, đền, miếu, nhà thờ, nhà ở, lăng, mộ… ghi dấu ấn lịch sử tụ cư, khai khẩn vùng đất Quảng Nam; các di tích ghi dấu ấn lịch sử đấu tranh cách mạng kiên cường, các căn cứ cách mạng trong kháng chiến; các di tích ghi dấu ấn lịch sử di cư của các nhóm người nước ngoài đến Quảng Nam, như Hội quán của người Hoa, ngôi nhà cổ của người Nhật, dinh thự hay tòa công sứ của người Pháp…

Các di tích tôn giáo – tín ngưỡng Những di tích, như tháp chàm Khương Mỹ, Chiên Đàn, Bàng An, Phật viện Đồng Dương, các nhà thờ giáo xứ, chùa Linh Ứng, chùa Quán Thế Âm, chùa Nam Sơn, chùa Cầu, chùa Chúc Thánh, chùa Cổ Lâm, Phước Lâm, Hải Tạng,… là những không gian thực hành tôn giáo, tín ngưỡng từ lâu đời của cư dân vùng Quảng Nam, ghi dấu đời sống tâm linh phong phú của cư dân. Mỗi di tích hàm chứa những câu chuyện lịch sử, những truyền thuyết, huyền thoại liên quan đến những chủ nhân tạo dựng và duy trì nó.

Các di tích kiến trúc nghệ thuật Trong Danh mục Di tích có tới hơn 80 di tích kiến trúc nghệ thuật. Đó là những ngôi chùa, nhà thờ, bảo tàng, tòa nhà, cây cầu, nhà cổ, các nhà thờ tộc họ, các ngôi đình tập trung ở phố cổ Hội An, TP. Đà Nẵng và vùng Tiên Phước. Các di tích này thể hiện rõ các phong cách nghệ thuật cũng như ghi dấu quá trình giao lưu hội nhập văn hóa diễn ra sâu sắc và liên tục.

 

Công trình kiến trúc Nhà thờ chính tòa Pink, Đà Nẵng

Hệ thống bảo tàng Quảng Nam có hệ thống bảo tàng đa dạng, gồm Bảo tàng Nghệ thuật Điêu khắc Chăm Đà Nẵng, Bảo tàng Đà Nẵng, Bảo tàng Khu 5, Bảo tàng Hồ Chí Minh (chi nhánh Quân khu 5), Bảo tàng Mỹ thuật Đà Nẵng, Bảo tàng Quảng Nam, Bảo tàng Điện Bàn, Bảo tàng văn hóa Sa Huỳnh, Bảo tàng Lịch sử – văn hóa, Bảo tàng Văn hóa dân gian Hội An, Bảo tàng gốm sứ Mậu Dịch… Hệ thống bảo tàng này lưu giữ số lượng lớn hiện vật, thường xuyên diễn ra các hoạt động trưng bày chuyên đề, hoạt động, sự kiện văn hóa gắn với du lịch.

Hệ thống nhà lưu niệm, bộ sưu tập Là mảnh đất sinh ra nhiều danh nhân, chí sĩ yêu nước, nhà văn, nhà thơ, nhà hoạt động cách mạng nổi tiếng, Quảng Nam có nhiều nhà lưu niệm, tiêu biểu như mộ Ông Ích Khiêm, Nhà lưu niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng, cụ Phan Châu Trinh; Khu lưu niệm Tổng đốc Hoàng Diệu, chí sĩ Trần Cao Vân, Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi, Chủ tịch Hội đồng nhà nước Võ Chí Công, Khu lưu niệm và Tượng đài Mẹ Nhu, Tượng đài Mẹ Thứ… Quảng Nam cũng nổi tiếng với các bộ sưu tập, như bộ sưu tập tem, bộ sưu tập đèn cổ, bộ sưu tập cổ vật Chăm…

Hệ thống chợ phiên, chợ quê rất phong phú, trải rộng từ các thành phố đến thôn quê, trong đó có các chợ nổi tiếng và độc đáo, như chợ heo Bà Rén, phiên chợ sâm Ngọc Linh, chợ phiên Hội An… Các chợ phiên, chợ quê thể hiện sinh động và đa sắc màu văn hóa.

Sinh hoạt nghệ thuật Gắn với từng ngôi nhà, làng quê, góc phố của Quảng Nam, trong đó gồm có sinh hoạt nghệ thuật truyền thống, như bài chòi, tuồng, cồng chiêng, nói lý, hát lý, hò bả trạo cùng các loại hình dân ca, múa, nhạc, văn thơ…; sinh hoạt nghệ thuật đương đại, như Nhà hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh, nhà hát Trưng Vương nơi thường xuyên tổ chức biểu diễn các loại hình nghệ thuật sân khấu truyền thống như tuồng, cải lương và nghệ thuật sân khấu hiện đại vũ kịch, múa ba lê, opera, nhạc giao hưởng…, các rạp chiếu phim. Làng nghệ thuật cộng đồng Tam Thanh, các sinh hoạt nghệ thuật đường phố. Các hình thức sinh hoạt nghệ thuật diễn ra rất phong phú, sinh hoạt theo nhóm, hội, câu lạc bộ, theo làng, bản, buôn hoặc theo các sự kiện, các ngày lễ quan trọng của gia đình, cộng đồng và các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo.

 

Giao lưu nghệ thuật đến từ các nước

Các biểu đạt văn hóa đa dạng đó không phải chỉ tồn tại trong quá khứ, mà vẫn đang sống động và được tiếp tục bồi đắp thêm bằng những sáng tạo đương đại. Ở loại hình văn hóa nào cũng tồn tại thực tế này, có những lễ hội mới được sáng tạo, như Lễ hội Pháo hoa Quốc tế Đà Nẵng, Lễ hội Đêm rằm phố cổ, Lễ hội sâm núi Ngọc Linh, có những trình diễn mới, như Ký ức Hội An, Festival Di sản Quảng Nam, Đêm văn hóa Cơ Tu… Có những trưng bày mới, như Vinahouse Space, Công viên Ấn tượng Hội An, Bảo tàng ẩm thực xứ Quảng và Dinh trấn mỳ Quảng…

Như vậy, Quảng Nam trong bức tranh văn hóa đầy sắc màu luôn có sự đan xen, hòa quyện giữa văn hóa truyền thống và văn hóa đương đại, xưa và nay, mới và cũ, thậm chí có loại hình văn hóa mới phá vỡ các “đường biên” thể loại, làm giàu thêm cho sự đa dạng văn hóa của vùng đất này.

Danh thắngQuảng Nam – TP. Đà nẵng

Đà Nẵng là một thành phố có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch, là trung tâm du lịch và cực tăng trưởng du lịch lớn hàng đầu của Việt Nam. Phía bắc thành phố được bao bọc bởi núi cao với đèo Hải Vân được mệnh danh là “Thiên hạ đệ nhất hùng quan”, xa hơn một chút nữa là Vườn Quốc gia Bạch Mã. Khu nghỉ dưỡng Sun World Bà Nà Hills nằm ở độ cao trên 1.400m với hệ thống 8 tuyến cáp treo có tổng công suất phục vụ 9.500 khách/giờ, tuyến cáp treo Thác Tóc Tiên – Indochine đạt bốn kỷ lục thế giới, cùng khu vui chơi giải trí trong nhà Fantasy Park lớn nhất Đông Nam Á và khu làng Pháp lớn nhất Việt Nam, mỗi ngày khu nghỉ dưỡng Sun World Bà Nà Hills phục vụ hơn 30.000 lượt khách, các ngày cao điểm lên tới hơn 40.000 lượt khách.

 

Bãi biển An Bàng và Mỹ Khê được người dùng TripAdvisor chọn vào top 25 biển đẹp nhất châu Á năm 2021

Phía đông bắc là bán đảo Sơn Trà với 400 ha rừng nguyên sinh gồm nhiều động thực vật phong phú. Là danh thắng Ngũ Hành Sơn. Trên địa bàn thành phố còn có một hệ thống các đình, chùa, miếu theo kiến trúc Á Đông, các nhà thờ theo kiến trúc phương Tây như Nhà thờ chính toà Đà Nẵng (Nhà thờ Con Gà),…các bảo tàng mà tiêu biểu nhất là Bảo tàng Nghệ thuật Điêu khắc Chăm. Đây là bảo tàng trưng bày hiện vật Chăm quy mô nhất ở Việt Nam. Ngoài ra thành phố còn có 2 Di sản Văn hóa Thế giới: Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn… Các bãi biển Mỹ Khê, Nam Ô, An Bàng, Hà My, Cửa Đại, Bình Minh, Tam Thanh, Bãi Rạng, Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm, lòng hồ thủy điện Sông Tranh 2, hồ Phú Ninh, Khe Lim, suối Tiên, suối Nước Ví, thác Đèo Liêu, thác Ồ – Vực Vin, suối Long, Vũng Dội, đập Hố Quờn, đập Đá Vác… Mỗi danh thắng gắn liền với vẻ đẹp riêng của trời biển, sông hồ, núi non.

Đà Nẵng đã xây dựng các sự kiện du lịch lớn, trong đó Lễ hội pháo hoa quốc tế Đà Nẵng được tổ chức liên tục từ năm 2008. Năm 2012, Đà Nẵng lần đầu triển khai Cuộc thi Dù bay Quốc tế. Ngoài ra còn có các sự kiện được diễn ra hàng năm như: Ironman 70.3, Danang International Marathon, Điểm hẹn mùa hè,… Tháng 6 là sự kiện “Điểm hẹn mùa hè” thường niên, quy tụ những hoạt động giải trí biển.

Năm 2016, Đà Nẵng lọt vào Top 10 điểm đến nghỉ dưỡng hàng đầu châu Á do độc giả Tạp chí Smart Travel Asia bình chọn. Năm 2018, Đà Nẵng cũng đã lọt danh sách những điểm đến nên ghé thăm trước khi trở nên quá nổi tiếng trên trang Business Insider.

 

Cầu Vàng Đà Nẵng.

Theo báo Nikkei Nhật Bản, trong bảng xếp hạng các điểm đến du lịch năm 2018 của Airbnb – trang web đặt phòng nghỉ lớn nhất thế giới, Đà Nẵng đứng thứ 5 toàn cầu và số 1 tại Đông Nam Á về thu hút khách du lịch. Và cũng năm 2018, hiện tượng Cầu Vàng đã trở thành tâm điểm trên các trang báo nổi tiếng trên thế giới.

Năm 2019, tờ báo uy tín hàng đầu của Mỹ-The New York Times bình chọn Đà Nẵng được ngợi ca như “Miami của Việt Nam” đứng thứ 15 trong danh sách 52 điểm phải đến trên thế giới.

Những lễ hội– Phong tục tiêu biểu ở đất Quảng Nam

Lễ hội dân gian ở Quảng Nam rất đa dạng, phong phú với 120 lễ hội tiêu biểu, bao gồm lễ hội gắn với cư dân nông nghiệp, ngư nghiệp, làm nghề thủ công; lễ hội gắn với cư dân các dân tộc vùng đồng bằng, vùng núi, vùng biển; lễ hội tôn giáo, lễ hội dân gian, lễ hội du nhập, lễ hội mới… Trong đó, có nhiều lễ hội nổi tiếng, như lễ hội Bà Thu Bồn, lễ hội Cầu Bông, lễ vía Bà Thiên Hậu, lễ tế cá Ông, lễ rước Thần Nông, lễ đâm trâu hoa làng Ông Tía, lễ giỗ tổ nghề Yến, lễ hội làng gốm Thanh Hà, lễ hội chùa Chúc Thánh…

 

Lễ hội Quán Thế Âm mang đậm màu sắc đạo Phật. Nguồn ảnh: Internet

Lễ hội Quán Thế Âm Một lễ hội lớn ở Đà Nẵng, được tổ chức lần đầu tiên vào năm 1960. Sau một thời gian bị gián đoạn, lễ hội được khôi phục từ năm 1991, đến năm 2000 thì được công nhận là lễ hội cấp quốc gia và hiện là một trong 15 lễ hội lớn nhất cả nước. Lễ hội được tổ chức vào các ngày từ 17 – 19 tháng 2 âm lịch hàng năm tại Chùa Quán Thế Âm, nằm trong quần thể danh thắng Ngũ Hành Sơn. Trong phần lễ, đặc sắc nhất là lễ rước tượng Quán Thế Âm. Ngoài ra còn có hội hoa đăng, hội đua thuyền truyền thống, biểu diễn võ thuật, chơi hô hát bài chòi…

Lễ vía Bà Thiên Hậu là lễ hội do cộng đồng Hoa kiều tại Hội An tổ chức vào ngày 23 tháng 3 Âm lịch hàng năm tại Hội quán Phúc Kiến và hội quán Ngũ Bang. Lễ hội nhằm tưởng nhớ, bày tỏ lòng biết ơn đến Bà Thiên Hậu và thể hiện ước mong về một cuộc sống bình an, no đủ. Tương truyền, tổ tiên của cộng đồng người Hoa đã được Bà Thiên Hậu che chở trên các cuộc hải trình nguy hiểm, giúp họ thành lập và ổn định cuộc sống ở vùng đất mới. 

Lễ hội pháo hoa quốc tế Đà Nẵng (DIFF) Đã đưa Đà Nẵng trở thành “Điểm đến sự kiện và lễ hội hàng đầu châu Á. Hằng năm, sự kiện sẽ diễn ra ở sân khấu bên bờ sông Hàn và được trang trí với các hình ảnh biểu tượng cho từng chủ đề của mỗi năm. Lễ hội quy tụ sự tham gia của các đội đến từ nhiều quốc gia khác nhau, mỗi đội sẽ trình diễn pháo hoa trong khoảng thời gian quy định theo chủ đề. Bên cạnh đó, trong khoảng thời gian 1 tháng diễn ra DIFF, Đà Nẵng sẽ tổ chức nhiều hoạt động hấp dẫn khác như các lễ hội, sự kiện âm nhạc nhằm phục vụ khán giả trong nước và quốc tế đến tham quan.  

 

Lễ hội pháo hoa quốc tế Đà Nẵng. Ảnh: Vnexpress

Lễ hội Rước Cộ Bà Chợ Được được tổ chức hằng năm vào ngày 11 tháng Giêng (âm lịch) tại xã Bình Triều, huyện Thăng Bình cũ. Đây là một kiểu lễ hội tâm linh để tỏ lòng tôn kính với bà Nguyễn Thị Của. Theo tài liệu “Thần Nữ Linh Ứng Truyện”, bà sinh năm 1799 tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Bà mất năm 1817, hưởng dương 18 tuổi. Theo cư dân địa phương, bà rất linh thiêng. Trong một lần ngao du đến làng Phước Ấm (nay là Chợ Được, xã Bình Triều), thấy cảnh sông nước hữu tình, bà chọn nơi này họp chợ để giúp cư dân có cuộc sống sung túc hơn. Bà hóa thân thành một thiếu nữ xinh đẹp chừng 18 tuổi làm nghề bán nước đổi trầu. Dần dần cư dân xung quanh tập trung buôn bán, Chợ Được được hình thành và phát triển. Để ghi nhớ công ơn bà, cư dân trong vùng lập đền thờ “Lăng Bà” và được triều đình phong tặng sắc phong “Thần Nữ Linh Ứng-Nguyễn Thị Đẳng Thần”.

Lễ hội Bà Chiêm Sơn là lễ hội của cư dân làm nghề nuôi tằm dệt vải của xã Duy Trinh, huyện Duy Xuyên cũ. Lễ được tổ chức ngày 10-12 tháng Giêng âm lịch tại Dinh bà Chiêm Sơn. Lễ hội là dịp bày tỏ niềm tôn kính với người đã khai sinh ra nghề ươm tằm dệt lụa cho địa phương. Người tham gia lễ hội có cơ hội thưởng thức các món ăn đặc trưng của người Quảng Nam. Lễ hội còn là dịp để tham gia các trò chơi dân gian như đá gà, ném bóng vào rổ, hát bài chòi, đua thuyền…

 

 

 

Hội đua thuyền tại Lễ hội Bà Chiêm Sơn. Ảnh: VTTTDL

Lễ hội Nguyên tiêu, Tết Nguyên tiêu ở Hội An là một lễ hội truyền thống, có ý nghĩa tâm linh quan trọng đối với cộng đồng người Hoa gốc bang Triều Châu và Quảng Đông. Vào ngày 15/01 Âm lịch, người Hoa thường tụng kinh và cầu an cho người sống, cầu siêu cho người đã khuất và cúng lễ vật như hoa quả, áo giấy, chè, xôi. Ngày chính của lễ hội 16/1 Âm lịch sẽ diễn ra các nghi lễ thiêng liêng với lễ vật trang trọng. Lễ hội còn bao gồm các hoạt động vui chơi như: múa lân, xổ số, biểu diễn du hồ, đốt pháo và ca hát. Tết Nguyên tiêu cũng là dịp quan trọng trong năm của người theo đạo Phật. Các chùa thường tổ chức các nghi lễ đặc biệt, nhằm cầu mong một năm mới tốt lành, quốc thái dân an. 

 

Người dân và du khách hào hứng xuống đường tham gia các hoạt động lễ hội trong Tết Nguyên Tiêu.

Lễ hội Bà Thu Bồn Quảng Nam là một lễ hội truyền thống được tổ chức vào ngày 12 tháng 2 Âm lịch tại dinh Bà Thu Bồn, xã Thu Bồn. Lễ hội có ý nghĩa tưởng nhớ và bày tỏ lòng kính trọng đối với Bà Thu Bồn. Bà là người Chăm đã có công gây dựng nghề nông, ngư nghiệp cho vùng đất phù sa này. Lễ hội Bà Thu Bồn diễn ra trong không khí tưng bừng và náo nhiệt từ sáng đến tối, bao gồm các hoạt động tế lễ, đua thuyền tranh tài, rước cộ, hát bội, cờ người, làm bánh và nhiều trò chơi dân gian khác. Đặc biệt, đêm cuối lễ hội ở Quảng Nam này còn diễn ra lễ rước đuốc, thả hoa đăng, đốt lửa trại, hát tuồng… 

 

Nghi thức rước kiệu trong lễ hội Bà Thu Bồn ở Quảng Nam. Ảnh: Lê Trung

Lễ hội đua thuyền ở Quảng Nam là sự kiện truyền thống được tổ chức đầu tháng Giêng hàng năm, thường là mùng 6 Tết. Không chỉ là hoạt động trẩy hội, vui xuân, lễ hội ở Quảng Nam này còn có ý nghĩa cầu an, mong cho mưa thuận gió hòa. Lễ hội đua thuyền có phần lễ và phần hội. Phần lễ được gọi là cúng sông với tục dựng cây nêu cầu an nơi hành lễ. Sau đó là phần hội với cuộc đua thuyền thú vị diễn ra trong không khí sôi động giữa các thôn xã, tạo nên sân chơi đầy phấn khích.

Lễ hội Cá Ông. “Ông” là tiếng gọi tôn kính của ngư dân dành riêng cho cá voi, loài cá thường giúp họ vượt qua tai nạn trên biển cả. Lễ tế cá Ông thường được lồng ghép dưới hình thức lễ hội cầu ngư và lễ ra quân đánh bắt vụ cá Nam. Tại Đà Nẵng, lễ hội được tổ chức trong hai ngày vào trung tuần tháng Giêng âm lịch ở những vùng ven biển như Thọ Quang, Nam Ô, Mân Thái, Thanh Lộc Đán, Xuân Hà, Hòa Hiệp… Trong ngày lễ, bên cạnh việc cúng tế cầu mong một mùa đánh bắt bội thu, thuyền bè đi khơi về lộng an toàn, dân làng còn làm lễ rước trên biển. Trong phần hội, có các trò chơi dân gian đặc trưng của vùng biển như lắc thúng, đua thuyền, bơi lội, kéo co… Một hình thức múa hát đặc trưng diễn ra trong lễ hội là múa hát bả trạo diễn tả tinh thần đoàn kết giữa các thành viên trong một con thuyền, vượt qua sóng to gió cả, mang về một mùa bội thu cho ngư dân.

 

Lễ hội Cá Ông ở Quảng Nam Ảnh: Sưu tầm

Lễ hội Long Chu là lễ hội truyền thống diễn ra vào ngày 15 tháng 7 Âm lịch hàng năm tại các ngôi làng ven biển ở Đà Nẵng. Lễ hội có ý nghĩa tống ôn và đuổi dịch bệnh vào lúc chuyển mùa. Theo tín ngưỡng dân gian, Long Chu là thuyền rồng – biểu tượng oai linh có khả năng trừ ôn, tống dịch. Điểm nhấn của lễ hội là hoạt động rước Long Chu từ đình làng đến bến nước, các thuyền, bè được làm từ cót tre, voi, giấy vải. Thuyền, bè sau đó được đẩy trôi ra sông, biển. Lễ hội ở Quảng Nam này còn bao gồm nhiều hoạt động như: hát bộ, hát hò khoan, xô cô và các trò chơi dân gian…

Lễ hội Đêm Rằm Phố Cổ được tổ chức vào ngày 14,15 âm lịch hàng tháng tại đô thị cổ Hội An. Tại thời điểm đó, thành phố sẽ tắt hết điện chiếu sáng, thay vào đó là ánh sáng lung linh từ những chiếc đèn lồng treo cao. Dòng sông Hoài càng thêm thơ mộng, lãng mạn với muôn vàn hoa đăng rực rỡ. Thành phố sống trong không gian tĩnh mịch của quá khứ. Các phương tiện có động cơ không được tham gia lưu thông. Đường phố được dành cho người đi bộ thưởng lãm.

 

Đêm phố cổ 14 âm lịch- thương hiệu đặc sắc của Hội An.

Lễ rước Thần Nông còn được gọi là “Hội của trẻ chăn trâu”. Đây là lễ hội truyền thống được tổ chức vào ngày 01/03 Âm lịch hàng năm tại các địa phương thuộc Hội An. Lễ hội ở Quảng Nam này nhằm tôn vinh Thần Nông và cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt. Nhiều nghi thức truyền thống được thực hiện trang trọng trong ngày chính hội như: lễ tế, thỉnh thần, lễ rước kiệu Thần Nông, cúng xứ đất Cồn Thần… Ngoài ra, lễ hội còn gây ấn tượng với hoạt động trẻ mục đồng diễu quanh cánh đồng làng vô cùng sôi nổi.

Lễ rước Mục đồng làng Phong Lệ Diễn ra trong các ngày từ 29/3 đến mồng 1/4 âm lịch. Lễ hội mục đồng là nét văn hóa đặc sắc trong tín ngưỡng nông nghiệp ở xứ Quảng. Nội dung lễ có nhiều phần hướng về giới trẻ chăn trâu, trân trọng và tôn vinh một thành phần thấp bé trong xã hội xưa.

Lễ hội đâm trâu hoa Làng Ông Tía Sự kiện thường niên được tổ chức vào ngày 13 tháng 3 tại nhà Rông thôn 6, xã Phước Trà cũ. Đây là hoạt động văn hóa, tín ngưỡng của đồng bào vùng cao, giúp người dân trong làng giao lưu, gắn kết. Đồng thời, lễ hội còn là dịp kỷ niệm ngày khởi nghĩa vũ trang của làng vào ngày 13/3/1960. Lễ hội ở Quảng Nam này được chuẩn bị trước nhiều tháng. Đến ngày hội, dân làng sẽ dựng nêu, làm lễ cúng thần nước, thần đất và cúng đường nơi trâu đi qua. Tiếp đến là những màn múa, hát, đánh cồng chiêng và nghi thức đâm trâu. Thịt trâu sau đó sẽ được chia cho dân làng cùng ăn lễ. 

 

Dân làng trong trang phục dân tộc Cadong tham gia lễ hội đâm trâu hoa Làng Ông Tía. Ảnh: Sưu tầm

Lễ cúng tổ Minh Hải được diễn ra hàng năm tại chùa Chúc Thánh vào ngày 7/11 Âm lịch. Đây cũng là ngày mất của thiền sư Minh Hải – người đã có công dựng chùa Chúc Thánh, truyền bá Phật giáo. Lễ giỗ tổ của ngài được tổ chức trọng thể, linh đình theo các nghi thức Phật giáo.

Lễ hội Quảng Nam – Hành trình Di sản Là sự kiện trọng thể được tổ chức quy mô tại các địa điểm du lịch nổi tiếng như: Mỹ Sơn, Hội An, Cù Lao Chàm, hồ Phú Ninh và một số làng nghề truyền thống. Lễ hội bắt đầu tổ chức vào năm 2003 và diễn ra định kỳ hai năm một lần nhằm tôn vinh, quảng bá giá trị văn hoá và sản phẩm du lịch tiêu biểu. Không khí lễ hội vô cùng sôi nổi với sự góp mặt của nhiều nghệ sĩ, diễn viên, vận động viên cũng như du khách từ nhiều quốc gia. Một số hoạt động đặc sắc trong khuôn khổ lễ hội có thể kể đến như: trình diễn nghệ thuật truyền thống, trò chơi dân gian, thi đấu thể thao… 

 

Chương trình văn nghệ đặc sắc trong lễ hội Quảng Nam – Hành trình Di sản (Ảnh: Sưu tầm)

Carneval Hội An Sự kiện mang đến không khí rộn ràng, vui tươi với chuỗi chương trình đậm chất sắc màu hè rực rỡ, mang lại điểm nhấn đầy sắc màu cho du lịch Hội An. Chương trình diễu hành đường phố (carnival) đầy sắc màu quy tụ hàng trăm diễn viên, với các trang phục độc đáo, gọi mời du khách bước vào thiên đường giải trí bất tận. Những vũ điệu mùa hè sôi động cùng các hoạt động tương tác thú vị đưa du khách lạc vào không gian nghệ thuật đầy hứng khởi. Bên cạnh diễu hành Carnival, du khách còn được chiêm ngưỡng những màn xiếc, ảo thuật, hóa trang độc đáo. 

Lễ giỗ tổ làng nghề Mộc Kim Bồng Đây là lễ hội truyền thống diễn ra hàng năm vào ngày mùng 6 tháng Giêng tại làng mộc Kim Bồng, thuộc địa phận phường Hội An. Lễ giỗ tổ làng mộc Kim Bồng được tổ chức để tưởng nhớ công ơn tổ tiên đã có công dựng làng và cầu cho một năm mới mưa thuận gió hòa, làm ăn thuận lợi. 

Lễ giỗ tổ nghề Yến được tổ chức vào ngày mùng 10 tháng 3 Âm lịch hàng năm tại hai ngôi miếu tổ nghề ở thôn Bãi Hương, xã Tân Hiệp (Cù Lao Chàm) và thôn Thanh Đông, phường Hội An Đông cũ. Lễ giỗ tổ nghề Yến được diễn ra trang trọng với lễ nghinh thần, rước vọng bằng kiệu có cờ hoa lộng lẫy và chiêng trống rộn ràng. Tiếp đến là phần hội với nhiều hoạt động sôi nổi như: đua thuyền, hội Bài chòi, trò chơi dân gian, biểu diễn nghệ thuật, giao lưu văn nghệ… 

Lễ hội Cầu Bông diễn ra hàng năm vào ngày mùng 7 tháng giêng Âm lịch tại thôn Trà Quế, phường Hội An Tây. Đây là một trong những lễ hội ở Hội An nổi tiếng, có ý nghĩa tri ân các bậc tiền nhân đã khai lập làng rau Trà Quế và cầu cho gió mưa thuận hòa, mùa màng tươi tốt. 

 

Lễ hội Cầu Bông là dịp để người dân tôn vinh công lao của các thế hệ đã tạo nên làng rau Trà Quế

Lễ hội làng gốm Thanh Hà diễn ra vào ngày 10/7 Âm lịch hàng năm tại miếu Tổ nghề ở làng Nam Diêu, phường Hội An Tây. Đến ngày này, người dân làng gốm thành kính tổ chức lễ tế, dâng cúng tổ nghề, chư thần và các bậc tiền nhân cầu mong một năm mới bình an, làng nghề thịnh vượng. Ngày lễ còn đánh dấu bằng nhiều hoạt động văn hóa dân gian đặc sắc. Du khách cũng được mời tham gia vui hội với các trò chơi dân gian như: cõng nàng về dinh, thi chuốt gốm, lái buôn xuất sắc, thi đập nồi, bịt mắt đánh trống… Không khí lễ hội càng thêm sôi nổi với hội đua thuyền, hát bội, hô hát bài chòi diễn ra xuyên suốt từ đêm trước đến khi tàn hội. 

 

Lễ hội hóa trang Carnival đẹp mắt, ấn tượng. Nguồn ảnh: Internet

Ngoài ra ở Đà Nẵng còn có một loạt các lễ hội gắn liền với các đình làng như: lễ hội Đình làng Hòa Mỹ (Liên Chiểu), Đình làng An Hải (Hòa Vang), Đình làng Túy Loan (Hòa Vang),… Các lễ hội này đều nhằm thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, cầu cho quốc thái dân an, nhân dân trong làng được hanh thông an lạc. Những năm gần đây, Đà Nẵng đã tạo cho mình những lễ hội mới như lễ hội đua thuyền được tổ chức vào ngày quốc khánh 2 tháng 9 hàng năm trên sông Hàn. Các lễ hội Bà Nà Hill với Lễ hội Hoa Bà Nà Hill sở hữu vườn hoa diện tích 21.000m2 với đa dạng các loài hoa nổi tiếng, vẻ đẹp của các loài hoa đang nở rộ tràn ngập màu sắc cực kỳ đẹp. Lễ hội hóa trang Carnival – Bà Nà Hill được lấy cảm hứng từ đất nước Brazil, lễ hội quy tụ hàng trăm nghệ sĩ đến từ châu Âu với những bộ trang phục đẹp mắt và trình diễn dưới nền nhạc sôi nổi. Lễ hội rượu vang, đã gây ấn tượng mạnh mẽ với khách du lịch trong nước và bạn bè quốc tế, vv… 

 

Sự kiện diễu hành biểu diễn sôi động trong lễ hội Bà Nà Hill

Các phong tục, nghi lễ liên quan đến vòng đời người Với sự đa dạng của các tộc người, nhóm tộc người nên phong tục, nghi lễ liên quan đến vòng đời người ở tỉnh Quảng Nam rất phong phú. Chỉ tính riêng phong tục và nghi lễ hôn nhân đã có rất nhiều sự khác nhau giữa các dân tộc, tiểu vùng. Ví dụ, phong tục đấu chiêng trong đám cưới người Cor, bó củi hứa hôn của người Bh’noong (một nhóm của Giẻ Triêng), tục “ngủ duông” hay hát lý đối đáp trong đám cưới của người Cơ Tu…

Các phong tục, nghi lễ của cộng đồng và đời sống văn hóa Với người Kinh ở Quảng Nam, các phong tục, nghi lễ cộng đồng gắn với ngày Tết Nguyên đán, rằm tháng bảy, trung thu hay lễ cúng tá thổ với nhiều nét đặc sắc. Ngoài ra, các tộc người thiểu số có nhiều phong tục, nghi lễ cộng đồng, như lễ cúng hồn lúa, cúng máng nước của người Xơ Đăng, lễ cúng cơm mới ở nhiều tộc người, lễ làm trống đất cầu mưa của người Cor, lễ kết nghĩa của người Cơ Tu, ngày hội đại đoàn kết các dân tộc… Mỗi làng, bản, buôn lại có những đặc trưng riêng, tạo nên sự đa dạng, phong phú trong đời sống văn hóa tinh thần của cư dân nơi đây.

Những Làng nghề truyền thống

Trải qua những thử thách khốc liệt của thời gian, chiến tranh loạn lạc, những làng nghề Đà Nẵng (đất Quảng Nam) vẫn giữ cho mình nét hồn hậu, chân chất. Hết đời nọ đến đời kia, họ sống với nghề không chỉ bởi miếng cơm, tấm áo mà còn vì cái tâm của con người trên mảnh đất đã nuôi sống họ.

Làng nghề Nước mắm Nam Ô Gắn với nghề cá và truyền thống đi biển của ngư dân, ở Đà Nẵng còn có Làng nghề Nước mắm Nam Ô chuyên sản xuất các loại nước mắm Đặc Sản được hình thành vào đầu thế kỷ 20. Nam Ô là làng đánh cá nhỏ nằm ở cửa sông Cu Đê. Đặc trưng nhất của nước mắm Nam Ô là được chế biến từ cá cơm than, đánh bắt vào tháng ba âm lịch. Chum để muối cá phải bằng gỗ mít, dưới đáy chum phải chèn sạn, đót và phải lọc nước mắm bằng chuộc mới đảm bảo nước mắm tinh chất, thơm đậm.

 

Nghề làm mắm. Ảnh: Sưu tầm

Làng đá Mỹ nghệ Non Nước. Làng đá nằm dưới chân núi Ngũ Hành Sơn thuộc phường Hòa Hải – quận Ngũ Hành Sơn. Nghề chế tác đá ở đây được hình thành vào thế kỷ 18 do một nghệ nhân đến từ Thanh Hóa tên là Huỳnh Bá Quát sáng lập. Từ vật liệu là đá cẩm thạch, những nghệ nhân nơi đây chế tác thành các tác phẩm tượng Phật, tượng người, tượng thú, vòng đeo tay,… 

Làng chiếu Cẩm Nê nằm cách trung tâm thành phố 14 km về phía tây nam. Nơi đây từ lâu đã nổi tiếng với các loại chiếu hoa truyền thống. Nghề chiếu Cẩm Nê có nguồn gốc từ Hoằng Hóa, Thanh Hóa theo chân các cư dân người Việt đến cư trú ở vùng đất này vào thế kỷ 15. Chiếu hoa Cẩm Nê đã từng được hiện diện trong cung vua nhà Nguyễn, những nghệ nhân Cẩm Nê xưa cũng đã từng được các triều đại vua sắc phong, ban thưởng.

Làng gốm Thanh Hà Điểm du lịch cộng đồng tốt nhất” năm 2025, nằm ở địa phận Tổ dân phố Nam Diêu, phường Hội An Tây, thành phố Đà Nẵng hiện nay. Đây là làng nghề thủ công truyền thống có gần nửa ngàn năm qua. Đến với làng gốm Thanh Hà không chỉ được chứng kiến các nghệ nhân trình diễn những kỹ năng điêu luyện qua các công đoạn làm gốm, chiêm ngưỡng những sản phẩm gốm độc đáo mà còn được chìm đắm trong một khung cảnh yên bình của một làng quê còn giữ được nét cổ truyền hiếm gặp.

 

Tham quan công viên đất nung Thanh Hà.

Làng đúc đồng Phước Kiều Cách đây hơn 400 năm, có một người tên Dương Tiền Hiền gốc Thanh Hóa di cư vào Quảng Nam khai sinh và truyền dạy nghề đúc đồng truyền thống. Ban đầu, người dân đúc binh khí, đồ gia dụng bằng đồng để phục vụ vua chúa, quân nhà Nguyễn, cũng từ đó làng chú tượng Phước Kiều ra đời. Đến cuối thế kỷ 18, quân Tây Sơn dừng chân tại xã Điện Bàn, tổ chức rèn đúc vũ khí và thành lập làng tạc tượng Đông Kiều. Năm 1832, làng chú tượng Phước Kiều và làng tạc tượng Đông Kiều được vua Minh Mạng sáp nhập, lấy tên là làng đúc đồng Phước Kiều. Cái tên này vẫn tồn tại cho đến ngày nay, đem đến nhiều giá trị văn hóa to lớn cho vùng đất Quảng Nam nói riêng và đất nước Việt Nam nói chung.

Làng mộc Kim Bồng Nghề mộc Kim Bồng được hình thành từ cuối thế kỷ 15, bởi những người thợ tài hoa từ đồng bằng Bắc Bộ vào khai khẩn vùng đất Kim Bồng (Hội An). Nằm bên dòng sông Thu Bồn thơ mộng, là một trong những làng nghề truyền thống nổi tiếng nhất của Hội An. Nơi đây không chỉ là cái nôi của nghệ thuật điêu khắc gỗ tinh xảo mà còn là điểm đến hấp dẫn du khách bởi vẻ đẹp cổ kính, bình yên và những giá trị văn hóa độc đáo. 

 

Làng mộc Kim Bồng – Địa điểm du lịch trải nghiệm hấp dẫn. Ảnh: Báo Công Thương

Làng lụa Mã Châu, một nét chấm phá truyền thống giữa lòng xứ Quảng, là điểm đến hấp dẫn cho những ai muốn tìm hiểu về nghề dệt lụa lâu đời của Việt Nam. Nằm bên bờ sông Thu Bồn thơ mộng, làng lụa Mã Châu đã có lịch sử hơn 600 năm, từ thời Chúa Nguyễn Hoàng khai khẩn vùng đất phía Nam. Nơi đây nổi tiếng với những sản phẩm lụa tơ tằm cao cấp, mềm mại, óng ả. Đặc biệt, làng lụa Mã Châu vẫn lưu giữ những nét văn hóa truyền thống độc đáo trong quy trình sản xuất lụa, từ khâu nuôi tằm, ươm tơ đến dệt vải và nhuộm màu. Trong thời kỳ hưng thịnh nhất của nghề, cả làng Mã Châu đều dệt lụa, hơn 4.000 khung cửi đưa thoi ngày đêm. Có thời điểm, diện tích trồng dâu tằm cho làng lụa Mã Châu lên đến hàng nghìn hecta trải dài dọc sông Thu Bồn.

“Chiêm Sơn là, lụa, mỹ miều/Mai vang tiếng cửi, chiều chiều tơ giăng…”. Lần theo câu hát cổ, tìm về Duy Xuyên – nơi được mệnh danh là xứ sở tằm tang. Làng nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt vải Mã Châu, Thi Lai – Đông Yên đã nổi danh thời quá vãng và bây giờ đã hồi sinh.

Làng rau Trà Quế được hình thành từ thế kỷ 16, cách phố cổ Hội An 3 km. Làng nằm trên đảo, bao bọc bởi sông Cổ Cò và đầm Trà Quế. Thổ nhưỡng lợi thế là đất phù sa pha cát, khí hậu ôn hòa nên người dân phát triển nghề trồng rau hữu cơ lâu đời.Tháng 4/2022, nghề trồng rau tại Trà Quế đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia, thuộc loại hình tri thức dân gian, nghề thủ công truyền thống.

 

Làng rau Trà Quế ở Hội An từng được Tổ chức Du lịch Liên Hợp Quốc vinh danh Làng du lịch tốt nhất thế giới.

Trống Lâm Yên là làng nghề nổi tiếng từ xưa tại Quảng Nam, có lịch sử hơn 200 năm. Dân gian lưu truyền câu: “Nhất trống Lâm Yên, nhì chiêng Phước Kiều” như sự ghi nhận “đẳng cấp” của trống Yên Lâm. Tổ nghề là cụ Phan Công Thiên, gốc gác từ Hải Dương trên đường “Nam tiến” đã dừng chân ở đất Lâm Yên và mưu sinh bằng nghề này. Đã qua 6, 7 đời, các thế hệ người tộc Phan tiếp nối nhau giữ nghề làm trống. Trống có nhiều loại với nhiều kích cỡ đa dạng, to thì có trống chầu, nhỏ thì có trống tổng, trống lịnh, trống nhạc. Gỗ để làm thân trống (tang trống) có 2 kiểu làm, kiểu thứ nhất là trống dăm ghép, thường sử dụng gỗ mít to già, người thợ xẻ gỗ thành những dăm trống. Kiểu thứ 2 là trống dăm liền. Dăm trống làm bằng cách đục rỗng những thân cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi.

 

Nghệ nhân làng trống Lâm Yên.

Làng chiếu Bàn Thạch: Chiếu cói Bàn Thạch nức tiếng từ bao đời nay. Chiếu ở làng nghề được sản xuất ngày càng đa dạng về mặt mẫu mã, màu sắc. Phương pháp làm chiếu ở làng nghề ngày càng đa dạng, người ta in dệt chữ nổi và cả hình ảnh của chùa Cầu Hội An trên chiếu.

 

Làng dệt chiếu cổ Bàn Thạch lưu giữ văn hóa truyền thống xứ Quảng.

Làng nghề làm đèn lồng Nhắc đến Hội An về đêm, mọi người sẽ liên tưởng ngay đến hình ảnh khu phố cổ được thắp sáng lung linh bằng những ngọn đèn lồng đủ màu sắc, tạo nên khung cảnh nên thơ đáng nhớ. Nhằm góp phần quảng bá và tạo nên thương hiệu cho phố cổ Hội An, nhiều cơ sở đèn lồng có xưởng nằm ngay tại khu vực phố cổ, rất dễ dàng cho du khách tham quan và mua sắm. Chiếc đèn lồng phố Hội là kết tinh văn hoá Việt – Hoa – Nhật ở nơi thương cảng sầm uất từ hơn 400 năm trước. Nhiều người cho rằng, đèn lồng có mặt ở Hội An là do những người Triều Châu, Phúc Kiến, Quảng Đông mang theo khi đến đây sinh cơ lập nghiệp. Họ mang theo đèn lồng treo trước cửa nhà để thoả nỗi nhớ cố hương, rồi dần lan toả tạo nên tập quán đặc trưng. Giờ đây, du khách dễ dàng bắt gặp những đèn lồng khung tre bọc vải nhiều màu sắc và hoạ tiết treo trước các cửa hàng, nhà hàng hay kể cả các di tích lịch sử.

 

Thổ cẩm Cơ Tu.

TP. Đà Nẵng – Đất Quảng Nam còn rất nhiều làng nghề truyền thống nổi tiếng khác như Làng nghề làm bún phường Tân Thạnh, Làng nghề truyền thống nước mắm Cửa Khe, Làng bích họa Tam Thanh, Làng nghề dệt thổ cẩm Zara, Làng chiếu chẻ Triêm Tây, Làng nghề dó trầm hương Quế Trung,…

Văn hóa ẩm thựcxứ Quảng

Ẩm thực Quảng Nam trở thành loại hình di sản đặc sắc, ẩm thực truyền thống của xứ Quảng là sự giao thoa giữa văn hóa Chăm – Việt, phương Đông – phương Tây. Các món ăn đặc sản Quảng Nam sẽ được tóm gọn với cụm từ “đầy đặn và đậm vị”, khi ăn là phải ăn cho no, nêm nếm gia vị phải thật đậm mới thỏa mãn khẩu vị. 

Từ lâu, mỳ Quảng là món ăn nổi tiếng cả nước, đặc biệt là gần đây mỳ Quảng là một trong 12 món ăn Việt Nam đạt kỷ lục ẩm thực châu Á. Các món ăn, như cơm gà, Cao lầu, Phá lấu, Xí mà, bánh Canh, bánh mỳ Hội An, hoành thánh, bánh bao, bánh vạc thường được gắn với phố cổ Hội An. Bên cạnh đó, các món ăn gắn với địa danh Quảng

 

Các món ẩm thực Cao lầu, cơm Gà, Mì Quảng, bánh Mì gắn liền với phố cỏ Hội An.

Nam có Gỏi cá Nam Ô, bê thui Cầu Mống,  gà tre Đèo Le, hải sản, mực một nắng, mực cơm bãi Ngang, tam hữu Trà Quế, cá chuồn Núi Thành, ram tôm, zơ rá Cơ Tu, cá niên, Chả Cá, Ốc hút, ốc đá sông Tiên, 

 

Những món ăn mang đậm nét Đà Nẵng như Mực 1 nắng, gỏi cá Nam Ô, chả cá, Tam hữu Trà Quế.

Cơm gà Tam Kỳ, Bún chả cá, bún Bò, phở sắn Đông Phú, bánh Canh ruộng, bánh Tráng kẹp, bánh bèo, bánh bột lọc, bánh xèo, bánh Căn, bánh tráng cuốn thịt heo, bánh tráng Đại Lộc, bánh tráng Phú Triêm, bánh tráng nhúng đường, nem nướng, bánh tráng đập, bánh nậm, món Hến, xôi đường, cháo lươn xanh, rau sen nấu hến Nông Sơn, rong biển Mỹ Khê, nộm dưa chuối chát, gỏi bòong boong Tiên Phước, măng núi trộn Đông Giang, Mít trộn, chả Bò, Tré bà Đệ, rong biển cháy tỏi, rau, măng rừng, rau xương rồng, dưa kiệu Thăng Bình, củ nén, yến sào Cù Lao Chàm.

 

Các món bún Mắm Nêm, bánh Canh ruộng, bánh Bột Lọc, bánh Tráng Đập.

Chè Sầu, chè Hội An, mít hông Tam Kỳ, bánh tổ Hội An, bánh đậu xanh mặn, bánh sừng trâu Cơ Tu, kẹo đậu phộng (bánh cu đơ), bánh thuẫn, bánh khô mè Cẩm Lệ. Hải sản khô, bò khô, mực cán cay, cá Bò lát rim, cá bống rim cay, Ghẹ sữa rim mặn, bánh Dừa nướng, Bắp sấy bò khô, mắm nêm, mắm ruốc, nước mắm Tam Thanh, nước mắm Cửa Khe. 

 

Chè Hội An, bánh Sừng trâu Cơ Tu, bánh Tổ, bánh Đậu Xanh Đà Nẵng.

Nếp đắng Lộc Đại, sâm ngọc linh Nam Trà My, đường bát Quảng Nam, rượu Hồng Đào, ớt a riêu Đông Giang, bưởi trụ lông Đại Bình, ba kích tím, khoai lang xứ Quảng, mía Điện Bàn, hạt tiêu Tiên Phước, cam Tây Giang, chuối mốc Tiên Phước, dứa Đại Lộc, rượu tr’đin Tây Giang, trà sâm dứa, chè dây ra den Đông Giang, táo mèo Nam Trà My, rượu tà vạt, nấm lim xanh, quế Trà My, 

Với đa dạng hoạt động hấp dẫn, các phong tục, tập quán, lễ hội, làng nghề, danh lam thắng cảnh, ẩm thực ở Vùng đất Quảng Nam – TP. Đà Nẵng nay hứa hẹn sẽ mang lại cho bạn những dấu ấn đáng nhớ trong hành trình du lịch.

KPVN Tổng Hợp

Những Tour Du Lịch Hot Ở Ninh Thuận

-7%
Thời gian: 1 ngày
Ngày khởi hành: Hàng ngày
Giá gốc là: 1.500.000 ₫.Giá hiện tại là: 1.400.000 ₫.
-7%
Thời gian: 1 ngày
Ngày khởi hành: Hàng ngày
Giá gốc là: 1.500.000 ₫.Giá hiện tại là: 1.400.000 ₫.
Thời gian: 1 ngày
Ngày khởi hành: Hàng ngày
Thời gian: 1 ngày
Ngày khởi hành: Hàng ngày

Những Tour Du Lịch Hot Ở Ninh Thuận