CAO BẰNG – VÙNG ĐÔNG BẮC
“Nàng về nuôi cái cùng con/Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng” – Nằm ở phía Đông Bắc của dải đất hình chữ S, Công viên địa chất Toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng được tạo hóa ban tặng những danh thắng tuyệt đẹp làm say đắm lòng người. Vẻ thơ mộng, hữu tình của “viên ngọc xanh” miền biên viễn ẩn chứa sức hấp dẫn không thể chối từ, thôi thúc bao tâm hồn lữ khách, tựa như câu ca dao xưa vẫn mãi ngân nga…
Giới thiệu
Tỉnh Cao Bằng nằm ở vùng đông bắc Việt Nam. Phía bắc và đông bắc giáp với khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (Trung Quốc) với đường biên giới dài 333,125 km, Phía tây và tây nam giáp tỉnh Tuyên Quang, Phía nam giáp các tỉnh Thái Nguyên và Lạng Sơn. Trung tâm hành chính của tỉnh là Thành phố Cao Bằng, cách Hà Nội 279 km.

Tỉnh Cao Bằng có địa hình là cao nguyên đá vôi xen lẫn núi đất, có độ cao trung bình trên 200m, vùng sát biên có độ cao từ 600–1.300m so với mặt nước biển. Núi non trùng điệp. Rừng núi chiếm hơn 90% diện tích toàn tỉnh. Trên địa bàn tỉnh có hai dòng sông lớn là sông Gâm ở phía tây và sông Bằng Giang ở vùng trung tâm và phía đông, ngoài ra còn có một số sông khác như sông Quây Sơn, sông Nho Quế, sông Năng,…
I. Lịch sử đất Cao Bằng
Vùng đất tỉnh Cao Bằng bắt đầu thuộc lãnh thổ Việt Nam vào năm 1039, khi Lý Thái Tông đánh thủ lĩnh châu Thảng Do và châu Quảng Nguyên (sau này là huyện Quảng Uyên) là Nùng Tồn Phúc.
Đến Chiến tranh Tống – Việt 1075-1077, châu Quảng Nguyên bị Quách Quỳ tướng nhà Tống chiếm đóng không trả lại Đại Việt sau chiến tranh. Giai đoạn này châu Quảng Nguyên bị nhà Tống đổi tên thành Thuận châu.
Bằng chiến thuật vừa gây xung đột biên giới (lùng bắt Nùng Trí Hội), vừa ngoại giao triều cống và đàm phán, từ năm 1077 đến năm 1088, vua quan nhà Lý thời Lý Nhân Tông dần thu phục lại gần như hoàn toàn các vùng đất bị nhà Tống chiếm từ nhà Lý trước đó và trong cuộc chiến Tống – Việt. Kết quả đàm phán của phái đoàn Đào Tông Nguyên sứ thần nhà Lý năm 1079, thu lại được toàn bộ các châu nay là đất Lạng Sơn, Cao Bằng (phần đất nhà Tống chiếm trong cuộc chiến 1076-1077), trừ phần đất mất về nhà Tống trước chiến tranh thì nhà Tống không trả.
Năm 1084, phái đoàn Lê Văn Thịnh sứ thần nhà Lý, tiếp tục sang Bằng Tường Quảng Tây Trung Quốc đàm phán đòi lại đất hai động Vật Dương và Vật Ác từ nhà Tống. Nhưng thay vì trả đất hai động Vật Dương và Vật Ác của châu Quảng Nguyên, thì nhà Tống đổi lại trả cho nhà Lý vùng đất 6 huyện và 2 động nay thuộc tỉnh Cao Bằng. Tuy nhiên, nhà Lý vẫn kiên trì tiếp tục đàm phán đòi đất 2 động Vật Dương, Vật Ác cho đến năm 1088, nhưng không thành công. Từ đó đất 2 động Vật Ác, Vật Dương vĩnh viễn thuộc Trung Quốc (ngày nay chúng là vùng đất phía nam của thành phố cấp huyện Tĩnh Tây địa cấp thị Bách Sắc khu Tự trị Dân tộc Choang tỉnh Quảng Tây, tiếp giáp biên giới với vùng Đông Bắc của Cao Bằng).
Thời Lê sơ, Lê Thánh Tông cho lập thừa tuyên Thái Nguyên (Ninh Sóc), thì Cao Bằng là 1 trong 3 phủ của thừa tuyên Thái Nguyên và phần phía tây tỉnh Cao Bằng ngày nay thuộc thừa tuyên Tuyên Quang.
Năm 1499 niên hiệu Cảnh Thống thứ 2, vua Lê Hiến Tông tách phủ Cao Bằng ra khỏi Thái Nguyên lập thành một trấn riêng mang tên Cao Bằng. Từ đây Cao Bằng trở thành đơn vị hành chính tương đương cấp tỉnh ngày nay. Nên hiện nay, Việt Nam lấy năm 1499 là năm thành lập tỉnh Cao Bằng.
Thời kỳ Pháp thuộc từ năm 1886 – 1945, tên gọi, địa giới và số lượng các đơn vị hành chính tỉnh Cao Bằng luôn có sự thay đổi.
Sau năm 1945, năm 1948, Chính phủ quyết định bãi bỏ cấp tổng, phủ, đạo, châu. Cấp trên cấp xã và dưới cấp tỉnh thống nhất gọi là huyện. Tỉnh Cao Bằng lúc đó gồm thị xã Cao Bằng và 10 huyện.
Ngày 3 tháng 10 năm 1950, Cao Bằng hoàn toàn được giải phóng khỏi ách thống trị của thực dân Pháp.
Ngày 1/7/1956, Cao Bằng cùng các tỉnh Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang hợp thành Khu tự trị Việt Bắc.
Ngày 27/12/1975 tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn hợp nhất thành một tỉnh là Cao Lạng, tỉnh lỵ đặt tại thị xã Cao Bằng.
Ngày 29 tháng 12 năm 1978, tái lập tỉnh Cao Bằng từ tỉnh Cao Lạng.
II. Du lịch Cao Bằng thích hợp vào thời điểm nào
Mảnh đất Cao Bằng mỗi mùa lại mang một vẻ đẹp riêng. Nếu muốn khám phá hết những sắc thái riêng của Cao Bằng, có lẽ bạn phải hơn một lần đến đây.
Khoảng tháng 7 đến tháng 9 là mùa mưa ở vùng núi phía Bắc nên thác Bản Giốc là mùa có nhiều nước nhất.
Nếu muốn đuổi theo băng tuyết, bạn phải đợi đến cuối tháng 12, đến Tết Nguyên đán, nhưng thường vào thời điểm này trong năm, miền Bắc bao phủ bởi cái rét đậm, băng giá có thể hình thành trên đỉnh Pia Oắc tạo nên khung cảnh vô cùng ấn tượng.
Hàng năm vào cuối thu, khoảng tháng 12 là thời điểm cây thay lá cho mùa đông. Vào thời kỳ này, nhiều nơi ở Cao Bằng, cả khu rừng chuyển sang màu vàng đỏ bạn đừng bỏ lỡ những bức ảnh tuyệt đẹp này nhé!
III. Nét văn hóa đặc sắc của Non Nước Cao Bằng
Cao Bằng là một vùng văn hoá đa dạng, phong phú với sự giao hòa bản sắc của nhiều dân tộc anh em. Là xứ sở của những cọn nước, các suối nguồn trong vắt…Cao Bằng hấp dẫn du khách bởi những nét sinh hoạt văn hóa đa dạng, đậm đà bản sắc dân tộc không nơi nào có được. Mỗi dân tộc sinh sống ở Cao Bằng đều có những di sản văn hóa truyền thống độc đáo của riêng mình, thể hiện rõ trên trang phục, lễ hội, tín ngưỡng… Đó là những giá trị văn hóa phi vật thể đặc sắc được người dân luôn gìn giữ, phát huy. Đến Cao Bằng, về các bản làng, nhất là dịp mùa xuân, ngày hội, ngày chợ phiên, du khách sẽ không khỏi ngỡ ngàng và thích thú khi được hòa vào vườn hoa đầy màu sắc của các chàng trai, cô gái bản địa với những trang phục độc đáo.

Với gần 40 lễ hội, Cao Bằng còn là miền đất của lễ hội. Các lễ hội của đồng bào các dân tộc nhằm tưởng nhớ hay cầu trời ban điều an lành, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, đời sống ấm no,…Mỗi lễ hội đều có những nét độc đáo riêng, gắn liền với bản sắc văn hóa từng địa phương như:
Lễ hội Lồng Tồng (Hội xuống đồng) diễn ra vào dịp đầu xuân, thường vào tháng Giêng âm lịch tại các vùng cao như Trùng Khánh, Hà Quảng. Lễ hội Lồng Tồng là dịp để người dân cầu mong một năm mùa màng bội thu, mưa thuận gió hòa. Các nghi lễ truyền thống như rước thần nông, cúng tế đất trời được thực hiện trang trọng, tiếp theo là các trò chơi dân gian sôi động như ném còn, kéo co, đẩy gậy. Du khách tham gia lễ hội không chỉ được hòa mình vào không khí lễ hội mà còn có cơ hội thưởng thức những món ăn đặc sản và trải nghiệm văn hóa địa phương.
Lễ hội chùa Đà Quận diễn ra vào ngày 6 tháng Giêng âm lịch hàng năm tại Chùa Đà Quận, phường Thục Phán (mới). Lễ hội là dịp để người dân địa phương và du khách cầu an, cầu phúc. Điểm nhấn của lễ hội là nghi lễ dâng hương tại chùa và các hoạt động văn hóa như hát Then, đàn tính, múa lân.
Lễ hội Pác Bó diễn ra vào khoảng tháng 2 âm lịch tại Khu di tích lịch sử Pác Bó thuộc xã Trường Hà. Lễ hội Pác Bó không chỉ là dịp tưởng nhớ công lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà còn gắn liền với các hoạt động văn hóa, thể thao và trải nghiệm ẩm thực địa phương.
Lễ hội Thanh Minh diễn ra vào tháng 3 âm lịch tại các làng bản của đồng bào Tày, Nùng. Lễ hội Thanh Minh là dịp để người dân tảo mộ, tưởng nhớ tổ tiên.
Lễ hội pháo hoa Quảng Uyên diễn ra vào ngày 2/2 âm lịch hàng năm. Lễ hội là nét văn hóa độc đáo của người Tày, Nùng. Tâm điểm của lễ hội là nghi lễ múa pháo hoa và các trò chơi dân gian truyền thống. Đây là lễ hội thể hiện sự biết ơn đối với các vị thần linh, cầu mong mùa màng tươi tốt và cuộc sống ấm no.
Lễ hội Nàng Hai (Hội cầu phúc) diễn ra vào tháng Giêng âm lịch (dài 3 ngày) tại xã Thạch An (mới). Lễ hội Nàng Hai là nghi lễ tâm linh quan trọng của người Tày, mang ý nghĩa cầu phúc, cầu lộc. Điểm đặc sắc của lễ hội là các tiết mục văn nghệ dân gian, hát Then và những điệu múa truyền thống, có nhiều trò vui như giao lưu, đánh quay, đánh yến… Lễ hội kết thúc gọi là Slống Hai tức là tiễn trăng về trời.
Lễ hội Hát Then, đàn tính diễn ra vào tháng 4 hoặc tháng 11, tùy theo kế hoạch của Ban tổ chức. Lễ hội diễn ra tại thành phố Cao Bằng hoặc các khu du lịch cộng đồng. Đây là dịp để tôn vinh nghệ thuật hát Then, đàn tính – Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Du khách được t hưởng thức những màn trình diễn đặc sắc, đồng thời tham gia giao lưu với nghệ nhân và khám phá văn hóa dân gian địa phương.
Cao Bằng còn có nhiều lễ hội giàu bản sắc văn hóa như: Các lễ hội Xuân, Hội đền Vua Lê, hội đền Kỳ Sầm, chùa Sùng Phúc, Lễ hội chọi bò được tổ chức tại thị trấn Pác Miầu, xã Bảo Lâm hay thị trấn Xuân Hòa, xã Trường Hà…Khung cảnh lễ hội linh thiêng, rộn ràng, náo nhiệt kết hợp với cảnh sắc thiên nhiên thanh bình mang đến trải nghiệm khó quên.

Trong đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân các dân tộc ở Cao Bằng có thể nói không thể thiếu được các loại hình văn nghệ dân gian. Mỗi dân tộc, mỗi địa phương đều có những loại hình văn nghệ dân gian đặc trưng riêng.
Về dân ca, người Tày có lượn, gồm: Lượn slương, Lượn cọi, Lượn ngạn, hát Then – đàn tính; người Nùng có Lượn phủ, Lượn tại, Lượn Hèo phưn Nùng An, Sli giang, Nàng ới…; người Dao có Páo dung…
Về sân khấu, người Tày có Phướng lỵ; người Nùng có xướng Dá Hai – một dạng tuồng cổ có lịch sử hơn 300 năm.
Về múa, người Tày có múa Sluông, múa chầu; người Nùng có múa quạt, múa khăn; người Dao có múa chuông, múa trống; người Mông múa ô, múa khèn…
Nhạc cụ biểu diễn, người Tày có cây đàn tính; người Nùng có cây nhị và bộ xóc đồng lục lạc; người Mông có khèn ống trúc bè ngang, khèn lá, khèn môi…
Đặc sắc nhất trong số những loại hình dân ca kể trên là hát Then – đàn tính, một hình thức sinh hoạt có vị thế quan trọng trong tín ngưỡng của người Tày. Then có thể hiểu là “thiên”, tức là trời, vì thế điệu hát Then được người Tày coi là điệu hát của thần tiên. Xuất xứ nguồn gốc của Then từ tín ngưỡng của đồng bào về một thế giới thần bí, nơi có những nhân vật và sức mạnh diệu kỳ, như: bụt, giàng, trời, mà chỉ có bà Then, ông Then mới có khả năng tiếp cận. Khi các bà Then, ông Then dâng lên mường trời những sản vật con người làm ra thì họ hát. Hát Then không chỉ là một làn điệu dân ca mà nó còn tổng hòa nhiều môn nghệ thuật và phong tục khác, như múa, đàn và giao duyên. Lúc đầu hát Then chỉ có một người tay đệm đàn, miệng hát, chân xóc nhạc. Chính lời bài hát Then, hòa trong nhịp đàn tính dập dìu, cùng tiếng xóc lúc khoan, lúc nhặt sẽ đưa bà Then, ông Then, đại diện cho cộng đồng đến với mường trời để cầu xin các vị thần linh giúp con người.
Về truyền thuyết, sự tích, cổ tích có truyền thuyết Báo Luông – Slao Cải của người Tày, giải thích nguồn gốc vũ trụ, con người và các hiện tượng thiên nhiên, xã hội. Truyền thuyết “Cẩu chủa cheng vùa” (Chín chúa tranh vua) kể về quá trình hình thành nhà nước Nam Cương và quá trình làm vua nước Nam Cương của Thục Chế và con trai là Thục Phán, người sau này trở thành vua của nhà nước hợp nhất Âu Lạc và dời đô đến Cổ Loa (nay thuộc Đông Anh, Hà Nội). Sự tích cây đàn tính (hay tính tẩu), nhằm mô tả, thể hiện cảm nhận của con người trước những hiện tượng tự nhiên, cũng như tình cảm của họ đối với non sông, con người…
Cao Bằng cũng là mảnh đất của các làng nghề thủ công truyền thống, được hình thành từ thế kỷ 11 – 16, thường tập trung theo từng nhóm dân tộc. Các nghề thủ công truyền thống của Cao Bằng đa dạng và phong phú nhưng chủ yếu vẫn chỉ là những nghề phụ của gia đình. Hoạt động của nghề chưa tách khỏi sản xuất nông nghiệp và mang tính tự cung, tự cấp là chính, như: nghề rèn, làm hương, làm giấy dó, giấy bản, làm ngói máng, dệt vải thổ cẩm, làm đường phên, làm miến, đan lát mây tre, làm bánh nướng…
Trong lĩnh vực kiến trúc, những ngôi nhà mái chảy chất lợp ngói nung hoặc gỗ ván, dựa theo sườn núi thu hút sự quan tâm của du khách. Đó là những ngôi nhà mang đậm chất văn hóa riêng ở những bản người Mông, Dao, Tày, Nùng… với đời sống sinh hoạt còn lưu giữ các giá trị văn hóa đặc sắc.
Đến với Cao Bằng, du khách sẽ được hòa vào cuộc sống muôn sắc màu của đồng bào các dân tộc nơi non cao để cùng cảm nhận và khám phá những nét văn hóa độc đáo mà không nơi nào có được. – Theo Minh Hòa –
IV. Điểm đến hấp dẫn ở Cao Bằng
Danh LamThắng cảnh
1. Thác Bản Giốc nằm tại xã Đàm Thủy. Trung Quốc gọi là cặp thác Đức Thiên-Bản Ước, là một nhóm thác nước nằm trên sông Quây Sơn tại biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc. Nếu nhìn từ phía dưới chân thác, phần thác bên trái và nửa phía tây của thác bên phải thuộc chủ quyền của Việt Nam; nửa phía đông của thác bên phải thuộc chủ quyền của khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc. Thác nước này cách trung tâm Trùng Khánh khoảng 25 km về phía đông đông bắc, cách thủ phủ Nam Ninh của Quảng Tây khoảng 208 km.

Thác Bản Giốc là thắng cảnh nổi tiếng, nổi bật với dòng chảy tự nhiên, trắng xóa với nhiều cung bậc thác. Dòng thác không chỉ mang vẻ đẹp của thiên nhiên hùng vĩ, mà còn mang nét kiêu hùng của miền biên cương.
Thác Bản Giốc bao gồm cả thác chính và phụ với tổng chiều rộng là 208 m. Thác Bản Giốc được chia thành hai phần, phần ở phía Nam gọi là thác Cao, đây là thác phụ vì lượng nước không lớn. Thác Thấp là thác chính nằm ở phía Bắc trên biên giới Việt Trung.
Thác Bản Giốc là thác nước lớn thứ tư thế giới trong các thác nước nằm trên một đường biên giới giữa các quốc gia (sau thác Iguazu giữa Brasil – Argentina, thác Victoria giữa Zambia – Zimbabwe và thác Niagara giữa Canada và Hoa Kỳ). Là thác nước tự nhiên lớn nhất khu vực Đông Nam Á.
Thác Bản Giốc là một thắng cảnh du lịch nổi tiếng, đã đi vào nghệ thuật tạo hình với những tác phẩm hội họa và nhiếp ảnh đặc sắc. Được mệnh danh là một trong những thác nước đẹp nhất Việt Nam, là thác nước tự nhiên lớn nhất khu vực Đông Nam Á , thác Bản Giốc – điểm đến vô cùng hấp dẫn, đem lại những trải nghiệm thực sự tuyệt vời.
2. Động Ngao hay Ngườm Ngao đôi khi gọi là Động Ngườm Ngao là một hang động nằm ở bản Gun, xã Đàm Thủy. Động này toạ lạc trong lòng một quả núi, cách thác Bản Giốc 5 km. Theo khảo sát của Hiệp hội Hang động Hoàng gia Anh năm 1995, hang động có tổng chiều dài 2144 mét, có 3 cửa chính Ngườm Ngao, Ngườm Lồm và Bản Thuôn. Trong động có nhiều nhũ đá và măng đá với các hình dạng phong phú đa dạng, là một trong những hang động đẹp nổi tiếng tại Cao Bằng. “Ngườm Ngao” theo tiếng Tày có nghĩa là động Hổ. Do tương truyền rằng ngày xưa trong động có nhiều hổ dữ sinh sống. Tuy nhiên cũng có một sự tích khác về cái tên Ngườm Ngao, đó là do một dòng suối ngầm với tích tụ cuội sỏi cao đến hàng mét thoát ra sông Quây Sơn chảy rì rầm ngày đêm, phát ra âm thanh vọng vào vách hang nghe như tiếng hổ gầm, vì thế mà thành tên động.

Theo các nhà nghiên cứu khoa học, hang động này là hang động đá vôi chứa nhiều hóa thạch San hô, Huệ biển, được thành tạo ở vùng biển cổ cách ngày nay khoảng 400 triệu năm…Kết quả khảo sát năm 2016 động Ngườm Ngao dài 2.769,6m, sâu 61,1m, có 2 tầng hang hoạt động (ngang mức suối và hóa thạch cao hơn suối khoảng 50m). Động có 5 cửa ở các khoảng độ cao 420-507m trên mực nước biển.
Bước vào trong động, cảnh quan thiên nhiên với nhiều khối nhũ đá lạ mắt sẽ làm du khách cảm thấy choáng ngợp. Trong động có nhiều buồng, tầng, bậc thang, hành lang đủ mọi kích cỡ; nhiều nhũ đá, măng đá, cột, rèm, riềm đá… đủ mọi hình dáng. Tất cả đều do thiên nhiên tạo nên mang đến một cảnh quan tuyệt sắc và kỳ ảo có “một không hai.” Đặc biệt nhũ đá trong động có màu khác hẳn với những hang động ở địa phương khác bởi lượng canxi pha nhiều tạp chất, phản chiếu ánh sáng lung linh, huyền ảo.
Nổi bật trong số các khối nhũ đá là khối đài sen úp ngược và cột đá cô đơn. Chuyện kể rằng, ngày xưa có một vị phật ngồi trên đài sen tu mãi mà không thành chính quả. Vì quá buồn chán, nản chí nên ngài đã úp ngược đài sen xuống, còn mình thì biến thành cột đá đứng bên cạnh. Càng đi sâu vào trong lòng động, vẻ đẹp càng lung linh, quyến rũ. Nhiều ngóc ngách chỉ một người đi lọt, hay có đoạn nhũ đá từ trần hang đột ngột chắn ngang lối đi, phải cúi gập người mới qua được.
Nét độc đáo tạo thành điểm nhấn của danh thắng Ngườm Ngao còn là những thửa ruộng bậc thang do sàn đá vôi bị xâm thực và phong hóa nhiều triệu năm tạo thành. Đôi khi, du khách sẽ bắt gặp những con suối nhỏ trong động, nước chảy róc rách. Với vẻ đẹp hoang sơ hoàn toàn được tự nhiên tạo nên, động Ngườm Ngao càng trở nên cuốn hút, mang vẻ đẹp hùng vĩ, tráng lệ.
Mặc dù tỉnh Cao Bằng mới chỉ đưa vào khai thác gần 1km phục vụ khách du lịch khám phá, tham quan nhưng động Ngườm Ngao vẫn là một địa điểm du lịch không thể bỏ qua khi đến với Cao Bằng. Đến với động Ngườm Ngao, du khách không những được khám phá vẻ đẹp thiên nhiên kỳ bí, sinh động mà còn thưởng thức nhiều đặc sản Trùng Khánh như vịt quay, rau dạ hiến, hạt dẻ, măng chua, lạp xưởng.
3. Đèo Mã Phục Nằm cách trung tâm Cao Bằng hơn 20km về phía Đông, đèo Mã Phục với chiều dài hơn 3,5km, ở độ cao 700m so với mực nước biển, quanh co với 7 tầng dốc uốn lượn và được mệnh danh là một trong những con đèo hiểm trở, kỳ vĩ bậc nhất Cao Bằng. Đèo là điểm dừng chân đầu tiên của tuyến du lịch cụm phía Đông của Công viên địa chất UNESCO Non nước Cao Bằng, đồng thời là tâm điểm của nhiều cung đường, từ đây có thể tỏa ra các nhánh chính của toàn tỉnh Cao Bằng. Từ điểm dừng chân này, du khách có thể tiếp tục hành trình khám phá tuyến đường đi bộ vào núi thủng Nặm Trá, hồ Thang Hen (Trà Lĩnh); tham quan làng hương Phja Thắp, làng rèn xã Phúc Sen (Quảng Uyên); trải nghiệm mô hình “homestay”, thưởng thức sản vật địa phương tại làng đá cổ Khuổi Ky của người Tày, hay khám phá hệ thống hang động Ngườm Ngao (Đàm Thủy), Hang Dơi; hoặc chiêm ngưỡng vẻ đẹp kỳ vĩ đầy mê hoặc của thác Bản Giốc.

Đến tham quan đèo, du khách ấn tượng bởi thấy hai bên đường là hai khối đá vôi dựng đứng chầu vào nhau như hai con ngựa nằm phủ phục. Đỉnh đèo Mà Phục bị kẹp bởi hai ngọn núi tựa như một cổng thành trước khi ra khỏi Thành phố đi về vùng phía Đông của tỉnh gồm: Trà Lĩnh, Quảng Uyên, Trùng Khánh, Hạ Lang, Phục Hòa…Khung cảnh xung quanh đèo Mã Phục đẹp hút hồn, một bên là vách núi cheo leo, một bên lại là vực sâu thăm thẳm. Chính độ hiểm trở tạo nên nét kỳ thú có một không hai ở đây.
Đến đây, mọi người sẽ được nghe kể về huyền tích thủ lĩnh người dân tộc Nùng Trí Cao đã lãnh đạo nhân dân địa phương chống lại nhà Tống xâm lược vào thế kỷ 11. Trong một lần tuần tra biên giới trở về, đến đây gặp đèo cao quanh co, dốc đứng án ngữ trước mặt, ngựa của Nùng Trí Cao bị khuỵu chân không thể đi tiếp được nữa. Từ đó dãy núi được đặt tên là Án Lại và con đèo được đặt tên là Mã Phục (ngựa quỳ).

Theo các chuyên gia địa chất, đèo Mã Phục là điểm di sản địa chất độc đáo. Khoảng 260 triệu năm trước, khu vực này có nhiều núi lửa hoạt động ngầm dưới biển. Dung nham núi lửa phun lên trong nước biển bị nguội đột ngột tạo thành các cầu gối xếp chồng lên nhau với nhiều kích thước và màu sắc. Tại đèo Mã Phục, chỗ tiếp xúc với đá vôi (màu trắng) có thể thấy một loại đá khác màu xanh đen hình cầu (bazan cầu gối) là minh chứng tuyệt vời cho sự tiến hóa và thay đổi của trái đất.
Con đèo quanh co và hùng vĩ, ở mỗi thời điểm trong ngày với thời tiết khác nhau để ngắm cảnh đẹp phía xa với những dãy núi điệp trùng. Du khách cũng có thể dừng chân lưng chừng đèo ngắm nhìn những bản làng nhỏ đẹp như tranh vẽ nép mình dưới chân núi hay những thửa ruộng bậc thang đậm sắc màu nông thôn miền núi. Chinh phục đèo Mã Phục, ngắm nhìn thiên nhiên toàn cảnh và mua đặc sản địa phương là một trải nghiệm thú vị đối với du khách.
4. Quần thể danh lam thắng cảnh hồ Thang Hen Nằm trên độ cao hơn 1.000 m so với mực nước biển, hồ Thang Hen như một hòn ngọc trên núi với cảnh đẹp kỳ vĩ và thơ mộng. Đó là sản phẩm thiên tạo tô điểm thêm bức tranh thủy mặc của cảnh sắc non nước Cao Bằng.

Từ Thành phố Cao Bằng dọc theo quốc lộ 3 đến địa phận đèo Mã Phục, theo tỉnh lộ 205 về Trà Lĩnh gần 10 km, du khách đến hồ Thang Hen sẽ được chiêm ngưỡng cảnh sắc thiên nhiên tuyệt đẹp. Với vách đá dựng đứng thuộc địa hình cacxtơ của những dãy núi trùng điệp bao quanh hồ, nhiều khối đá bị xẻ tạo thành những chiếc răng bừa khổng lồ. Có nơi, núi lô xô một sườn dựng đứng, một sườn thoai thoải tạo cảm giác như những dãy nhà một mái nối tiếp nhau. Hồ Thang Hen là một chuỗi liên hoàn các hồ nhỏ chạy dọc theo thung lũng đá vôi. Do quá trình đá trên trần kênh động ngầm của con sông Trà Lĩnh bị sụt xuống tạo thành hồ. Thang Hen có phong cảnh sơn thủy hữu tình với những hàng cây xanh vươn mình trên vách đá cheo leo, soi bóng xuống mặt nước xanh ngát, uốn vòng theo lòng thung lũng mấp mô những mỏm đá ngầm. Mặt hồ được ví như chiếc gương màu ngọc bích, nằm gọn gàng giữa những tán rừng phủ xanh triền núi, cảnh quan sơn thủy hữu tình, thơ mộng. Trông xa, dáng hồ còn tựa như một cái “đuôi ong” khổng lồ đúng như ý nghĩa của từ “Thang Hen” trong tiếng dân tộc Tày.
Hồ chính có hình thoi, rộng tới 500m, dài 2.000m, có chỗ sâu đến hàng trăm mét. Bồng bềnh theo những con thuyền trên mặt nước, du khách có thể dạo chơi từ hồ này sang hồ khác để ngắm cảnh non xanh nước biếc. Nếu ghé thăm hồ trong buổi sớm mai, giữa làn sương lam mờ ảo như dải lụa quyện sắc mây trời, cảnh vật thơ mộng với hương rừng thơm ngát xen lẫn tiếng chim, du khách có thể thả hồn mình theo dòng nước mênh mang và nghe những người chèo thuyền kể về sự tích hồ Thang Hen.

Khi mặt trời lên cao, những tia nắng vàng như rót mật xuống mặt hồ lấp lánh, phản chiếu bóng cây vươn mình trên vách đá cheo leo, điểm tô bóng thuyền neo đậu yên bình trên mặt nước tĩnh lặng… xa xa, vài ngôi nhà sàn mang vẻ đơn sơ, mộc mạc của miền sơn cước.
Dọc theo phía Tây, trong sắc trời man mác của bóng chiều tà, tiếng nhịp mái chèo đuổi cá của dân chài càng làm cho lòng người thêm lưu luyến. Xa hơn nữa về phía Đông, bờ hồ trải rộng thoai thoải với nhiều mỏm đá tai mèo có hình thù vui mắt. Mạn Đông Bắc, hang Thang Hen nhô ra mặt nước như đầu rồng mê ngủ hàng ngàn năm. Giữa mùa mưa, nước hồ trở nên ầm ầm dữ dội đổ vào lòng hang, va vào các nhũ đá tạo âm thanh trầm bổng như dàn nhạc với đủ trống, chiêng, thanh la, não bạt rền vang, theo dân gian đó là lúc thần hồ mở hội.
Vẻ đẹp tựa tranh vẽ của hồ Thang Hen gợi cho du khách có cảm giác thích thú, muốn chìm đắm ở đó mãi không thôi. Khung cảnh non xanh nước biếc hữu tình chẳng khác nào cõi tiên. Sự xuất hiện của những áng mây bay lơ lửng quanh núi lại càng làm cho nơi đây thêm bí ẩn, huyền ảo.
Khu vực hồ có bờ vực đá dựng đứng cho phép du khách có thể dễ dàng quan sát những cây gỗ nghiến tuổi đời hàng trăm năm cùng nhiều giống hoa lan rừng. Môi trường tự nhiên tuyệt vời còn trở thành nơi lý tưởng để các loài động vật hoang dã sinh sống như chim gáy, gà gô, khỉ vàng.

Trong chuyến tham quan của mình, bạn đừng quên trải nghiệm việc ngồi thuyền, trôi theo dòng nước hồ xanh biếc. Thỏa thích để thu trọn thiên nhiên tươi đẹp vào tầm mắt. Hoặc chỉ đơn giản là tản bộ quanh hồ, tận hưởng không khí khoáng đạt, trong lành cũng đủ thấy sự bình yên.
Đến Cao Bằng, thăm hồ Thang Hen, du khách nghỉ lại một đêm trong những ngôi nhà sàn của đồng bào dân tộc bên rừng nghiến cổ thụ với những trải nghiệm thú vị. Bên ánh lửa bập bùng, mùi ngô nếp nướng quyện với chén rượu nồng càng khiến lòng người thêm ấm áp. Đặc biệt, thưởng thức các món ăn dân tộc chế biến từ sản vật vùng hồ như cá rầm xanh om trám, cá anh vũ xào ớt, tôm núi kho me… hay gà đồi, lợn quay, rau bò khai thơm ngon có tiếng… cùng hương vị rượu nồng ấm chưng cất từ ngô và men lá theo phương pháp cổ truyền của người Tày.

Giữa không gian mênh mông, bức tranh sơn thủy hữu tình của non nước Cao Bằng, những điệu Then, câu lượn được các thiếu nữ cất lên làm say lòng biết bao du khách thập phương.
5. Núi Mắt Thần Nằm trong quần thể danh lam thắng cảnh hồ Thang Hen của Công viên địa chất UNESCO Non nước Cao Bằng, với hệ thống 36 hồ liên thông nhau. Đây là điểm đến “chữa lành” thu hút đông đảo du khách ghé thăm hàng năm nhờ sở hữu khung cảnh hoang sơ, xanh mát với nhiều hoạt động thú vị, hòa mình vào thiên nhiên.
6. Khau Cốc Chà Không được xếp vào trong danh sách Tứ đại đỉnh đèo của Việt Nam cùng với Mã Pí Lèng, Ô Quy Hồ, Khau Phạ hay Pha Đin nhưng con đèo nằm tại Quốc Lộ 4A, thuộc địa phận vùng Bảo Lạc, Cao Bằng lại gây ấn tượng bởi độ dốc đứng đặc biệt. Tính theo khoảng cách quãng đường, từ chân đèo lên tới đỉnh chỉ dài chừng 2,5km nhưng để chinh phục được thì dù có đi xe máy hay ô tô, ta cũng phải mất chừng 1 tiếng mới có thể vượt qua. Chẳng thế mà, nhiều người còn ví Khau Cốc Chà là “đường lên đỉnh trời”. Thông thường, người ta thường di chuyển theo hướng QL4C – QL34 – QL4A, cung đường từ Mèo Vạc về tới Bảo Lạc – Cao Bằng, qua đèo Khau Cốc Chà, từ đó dễ dàng tìm đến các địa điểm như suối Lê Nin, hang Pác Pó vùng Hà Quảng rồi đi hồ Thang Hen, thác Bản Giốc và xuôi về thành phố Cao Bằng.

7. Vườn Quốc gia Phja Oắc – Phja Đén Nằm trong Công viên địa chất Toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng, Vườn Quốc gia Phja Oắc – Phja Đén thuộc huyện Nguyên Bình (cũ) với cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, khí hậu trong lành, mát mẻ. Nơi đây đã từng được người Pháp xây dựng khu nghỉ dưỡng từ đầu thế kỷ 20. Nơi đây được tạo thành bởi các dãy núi trùng điệp và những thảm thực vật xanh mang đậm nét hoang sơ của núi rừng có mây mù bao phủ. Phân bố xung quanh Vườn là những làng bản, những dòng suối, những triền đồi, những thửa ruộng bậc thang được đồng bào dân tộc trồng lúa, ngô, sắn, chè… tạo nên những bức tranh thiên nhiên vô cùng tươi đẹp. Du khách đến đây còn được tìm hiểu thêm về nền văn hóa bản địa nhiều sắc mầu thể hiện trong trang phục, lễ hội truyền thống của đồng bào các dân tộc Dao, Nùng, Tày, Mông.
Đến Phja Oắc – Phja Đén mùa nào cũng đẹp, nhưng đặc trưng nhất vào mùa xuân du khách còn được chiêm ngưỡng nhiều loài hoa mọc tự nhiên như đỗ quyên, lan rừng nở rực rỡ hay vào mùa đông, có thể chứng kiến những bông hoa tuyết phủ đầy dãy núi, cành cây và khám phá những khác biệt về địa chất, địa mạo, địa tầng của tự nhiên. Ngoài ra du khách có thể tham quan các điểm du lịch khác như di tích đồn Khai Phắt, làng dệt thổ cẩm in sáp ong của dân tộc Dao Tiền, đồi chè Kolia, trang trại cá hồi…
Du lịch văn hóa Cao Bằng là vùng đất có truyền thống cách mạng lâu đời, là nơi cội nguồn của cách mạng Việt Nam.
8. Khu Di tích Pác Bó Cách thành phố Cao Bằng 52 km về phía Bắc, Khu di tích quốc gia đặc biệt Pác Bó thuộc địa phận xã Trường Hà, là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn làm căn cứ địa lãnh đạo Cách mạng (giai đoạn 1941-1945) sau hơn 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước. Trải qua gần 80 năm, nơi đây vẫn luôn lưu giữ nguyên vẹn những chứng tích về cuộc đời, sự nghiệp Cách mạng của Người.

Mang đến cho bạn những trải nghiệm thú vị. Hang Pác Bó hay Cốc Bó là di tích có ý nghĩa lớn lao về mặt lịch sử. Đến đây, bạn sẽ được chứng kiến nơi nghỉ ngơi và làm việc của Bác Hồ trong những ngày ở đây. Khung cảnh xung quanh là những chiếc bàn đá chông chênh bác đã từng làm việc và bàn chuyện chính sự. Du khách ấn tượng nơi tấm phản gỗ Bác nằm nghỉ, với bếp lửa sưởi ấm hang lạnh hay tảng đá Bác ngồi câu cá ngoài suối…. Hiện tại, di tích lịch sử này vẫn còn lưu lại những tài liệu lịch sử rất quan trọng trong hang.

Suối Lê Nin trong vắt như một dải lụa uốn lượn dưới chân núi Các Mác hùng vĩ. Dòng suối hiền hòa xanh màu ngọc bích tuôn chảy từ đầu nguồn Pác Bó, được người dân bản địa gọi là suối Giàng hay Dòng Trừng. Trong những ngày sống và làm việc tại đây, dấu chân Bác đã in khắp chốn.
Ngoài các điểm di tích ngoài trời, du khách có thể dâng hương tại đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh; tham quan nhà trưng bày để hiểu rõ hơn về phong trào cách mạng của Cao Bằng, cũng như quá trình lãnh đạo cách mạng của Bác sau khi trở về nước thông qua lời thuyết minh của hướng dẫn viên tại Khu di tích.

Với cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, cùng các điểm di tích mang đậm dấu ấn lịch sử, Khu di tích quốc gia đặc biệt Pác Bó là niềm tự hào của bao thế hệ người dân nơi đây nói riêng và nhân dân cả nước nói chung.
9. Khu di tích Kim Đồng được xây dựng gồm có mộ anh Kim Đồng và tượng đài khang trang tại chân Rặng núi đá cao đồ sộ, tượng đài anh Kim Đồng với bộ quần áo nùng và tay nâng cao con chim bồ câu đưa thư, trước tượng đài có 14 bậc đá và 14 cây lát vươn cao xanh ngắt. Nơi đây có một khoảng sân rộng, hàng năm thiếu niên và Nhi đồng của tỉnh Cao Bằng, cả nước thường tụ hội tại đây cắm trại, vui chơi ca hát.
10. Khu di tích lịch sử Rừng Trần Hưng Đạo, xã Tam Kim, nơi đây đã thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam, hay được gọi là Việt Minh. Ở gần đây có Di tích về chiến thắng của Việt Minh trước quân đội Pháp đã chiếm đóng ở hai đồn Phai Khắt và Nà Ngần.
11. Khu di tích Đông khê thuộc xã Đông Khê tỉnh Cao Bằng: Là chứng tích ghi lại chiến thắng lịch sử thời kỳ đầu kháng chiến của Việt Nam dân chủ cộng hòa chống lại chính quyền Pháp để giải phóng đất nước: Đồn Đông Khê và khu tưởng niệm Hồ Chí Minh đã chỉ huy mặt trận.
12. Chùa Phật tích Trúc Lâm bản Giốc tọa lạc tại xã Đàm Thủy, Cao Bằng. Đây là ngôi chùa đầu tiên được xây dựng trên mảnh đất biên cương phía bắc của Tổ quốc. Khánh thành vào ngày 15/12/2014, Chùa Phật tích Trúc Lâm Bản Giốc tựa vào núi Phia Nhằm, cách thác Bản Giốc khoảng 500m, có hướng chính nhìn ra toàn cảnh thác Bản Giốc. Ở vị trí chùa tọa lạc có thể nhìn ngắm những cánh đồng lúa, dòng nước trắng xóa của thác Bản Giốc hùng vĩ giữa núi non mây trời trùng điệp. Ngôi chùa được thiết kế theo lối kiến trúc thuần Việt với kết cấu gỗ lim, vật liệu gạch ngói cổ truyền, mái đao truyền thống, hệ thống câu đối bằng tiếng Việt. Chùa được xây dựng với đầy đủ các hạng mục: Tam quan, khuôn viên Tượng Quan Âm Bồ Tát, Tòa Tam Bảo, Nhà thờ Tổ, đền Mẫu thờ Việt Nam Triệu Tổ Hùng Vương, Đức Thánh Trần, vườn địa đàng, vườn tượng La Hán, đền thờ anh hùng Nùng Trí Cao – một nhân vật, biểu tượng văn hóa thế kỷ 11 tại Cao Bằng, người có tài thao lược quân sự và ngoại giao, có công lớn trong việc gìn giữ bảo vệ biên cương phía Bắc của Tổ quốc Việt Nam. Điểm nhấn của ngôi chùa là lầu chuông Đại hồng chung Thiên Bảo bằng đồng nặng 1,5 tấn.

13. Đền Xuân Lĩnh ở xã Thạch An thờ Trần Quyết. Năm 1682, ông làm tướng tiên phong đi đánh nhà Mạc bị trọng thương và mất. Ông được phong làm Phúc thần, tên hiệu là Kỳ Lịch Đại Vương được dân bản dựng đền thờ phụng. Di tích có ý nghĩa lịch sử về truyền thống đấu tranh, khát vọng hòa bình thống nhất của dân tộc trên vùng cao biên cương địa đầu Tổ quốc.
14. Chùa Đà Quận tọa lạc tại phường Thục Phán. Chùa được xây dựng từ thời Lê đầu đời Cảnh Hưng, chùa từng bị hoang phế. Đến lúc yên hàn chùa được mở rộng tiền đường Phật điện, đúc chuông lớn chu vi 7 thước 5 tấc. Chùa là điểm văn hóa tâm linh và điểm du lịch của vùng.
15. Làng rèn Phúc Sen là một làng nghề truyền thống ở một vùng sơn cước núi đá vôi thuộc xã Quảng Uyên đã có cách đây hơn một trăm năm.
16. Thành Bản Phủ thời nhà Mạc ở phường Thục Phán.
V. Ẩm thực đất Cao Bằng
Các đặc sản, ẩm thực nổi tiếng ở vùng đất Cao Bằng đó là: miến rong Phia Đén, đường phên Bó Tờ, bánh khẩu si Nà Giàng, chè Đoỏng Lẹng, phở chua Cao Bằng, trám đen, lợn Hạ Lang, bí hương Thạch An, măng ngâm ớt, cốm Nà Pò, lê mắc cọp, bánh khảo Thông Huề, thịt chua, rau sắng, vịt cỏ Trùng Khánh, quả mắc kham, bún khô ngũ sắc Hồng Quang, bánh ngô non, giảo cổ lam, bánh bò Cao Bằng, rượu báng Lũng Cải, bánh trứng kiến, vịt quay Cao Bằng, quýt Quang Hán, bánh chưng đen Bảo Lạc, rau bò khai, bò u Bảo Lâm, rượu men lá Thông Nông, mía vàng Thể Dục, bánh cuốn Cao Bằng, bánh coóng phù, hạt dẻ Trùng Khánh, chè dây, bánh pẻng khua Đông Khê, lạp xưởng hun khói, gạo nếp Pì Pất, măng, gà đen Bảo Lạc, khâu nhục, tương Mẹc Cảng, rau dớn, đường phên Vinh Quý, thịt bò gác bếp, rượu mía Phục Hòa, bánh coóc mò, mận máu Xuân Trường, bánh áp chao, rượu ngô, thạch đen Thạch An, mắc mật, lợn Hương, cá trầm hương Trùng Khánh, bánh cuốn canh Cao Bằng, hoa hồi, nếp cẩm Yên Thổ, chè xanh, đậu phụ chao Thông Huề, lợn sữa quay Cao Bằng, xôi trám, gạo nếp ong Trùng Khánh.
KPVN Nguồn: Tổng hợp
