GIỚI THIỆU
VÙNG CHÂU THỔ SÔNG HỒNG
Vùng châu thổ Sông Hồng là vùng đất lịch sử lâu đời của người Việt, nơi khai sinh của các vương triều Đại Việt. Vùng này là cái nôi hình thành văn hóa, văn minh Việt từ buổi ban đầu, hiện tại cũng là vùng văn hóa bảo lưu được nhiều giá trị truyền thống trên đường xây dựng nền văn hóa hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc. Nơi đây cũng là quê hương của các nền văn hóa Đông Sơn, Thăng Long – Hà Nội…
A. ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
Đồng bằng sông Hồng (hay Châu thổ Sông Hồng) được hình thành chủ yếu bởi sự bồi đắp của hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Thái Bình. Được bao bọc bởi hệ thống đồi núi thấp về hai cánh đông bắc và tây nam, tạo thành một vùng tam giác châu với đỉnh là Việt Trì, Phú Thọ. Cạnh đáy chạy dọc theo đường bờ biển dài gần 150km với 12 cửa sông. Đồng bằng sông Hồng bao gồm các tỉnh thành: Hà Nội, Hải Phòng, Hưng Yên, Ninh Bình. Một phần Phú Thọ, Quảng Ninh, Bắc Ninh. Không giống như vùng Đồng bằng sông Cửu Long, các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Hồng chỉ có tỉnh Hưng Yên là không có núi, do đó khu vực này thường được gọi là “châu thổ sông Hồng”.

Toàn bộ vùng đồng bằng sông Hồng nằm trên một lớp đá kết tinh cổ, loại nền đá ở vùng Đông Bắc. Cách đây 200 triệu năm, vào cuối đại Cổ sinh, lớp đá này bị sụt xuống. Vào thời đó, biển lên đến quá Việt Trì ngày nay, tiến sát các vùng đồi Bắc Giang, Bắc Ninh, Phúc Yên, Nho Quan (cũ). Cửa sông Hồng lúc đó ở Việt Trì. Chế độ biển kéo dài trên 170 triệu năm. Các trầm tích Neogen lắng xuống làm cho vịnh biển thu hẹp lại. Lớp trầm tích này có nơi dày đến 3000 mét. Trên cùng là lớp phù sa Holocen dày từ 80 đến 100 mét ở trung tâm vùng đồng bằng sông Hồng, và càng xa trung tâm thì càng mỏng dần. Trong đồng bằng sông Hồng có nhiều ô trũng tự nhiên, điển hình là ô trũng Hà Nam Ninh, ô trũng Hải Hưng và ô trũng Nho Quan (tên cũ), ngoài ra còn có rất nhiều đầm lầy… Trầm tích và phù sa do các sông vận chuyển ra khỏi lòng sông mỗi mùa lũ đã không lấp được các ô trũng và đầm lầy này do chúng quá xa sông hoặc do bị đê điều nhân tạo ngăn cản. Việc các sông đổi dòng cũng tạo ra những đầm lầy và ao hồ.
Ngày nay địa hình của khu vực này chủ yếu là đồng bằng lớn bằng phẳng. Đồng bằng thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, từ các thềm phù sa cổ 10 – 15m xuống đến các bãi bồi 2 – 4m ở trung tâm rồi các bãi triều hàng ngày còn ngập nước triều. Vị trí địa lý của vùng Đồng bằng Sông Hồng trên bản đồ: Phía Bắc và phía Tây giáp Trung trung du miền núi Bắc Bộ, phía Đông giáp với vịnh Bắc Bộ, phía Nam giáp với Bắc Trung Bộ, nằm ở trung tâm Bắc Bộ, trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc.
B. KHÍ HẬU VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
Khí hậu đồng bằng sông Hồng tiêu biểu cho khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa của cả nước với nền nhiệt cao, lượng mưa phong phú và chịu tác động sâu sắc của gió mùa. Trong đặc điểm chung đó, đồng bằng sông Hồng nổi bật lên với một mùa đông lạnh có mưa phùn và một mùa hạ nóng, ẩm. Do ảnh hưởng của gió mùa cực đới, đồng bằng sông Hồng cùng với miền Bắc có mùa đông lạnh hơn nhiều so với tình hình chung của vùng nhiệt đới, đây là trường hợp độc nhất trên thế giới mà ở những vĩ độ nhiệt đới lại có mùa đông lạnh như vậy. Mùa đông ở đây không liên tục về thời gian và không đồng nhất về nhiệt độ, ảnh hưởng mạnh mẽ đối với sản xuất và đời sống. Nét đặc trưng của mùa đông đồng bằng sông Hồng là thời tiết hanh khô từ tháng 11 đến tháng 1 và có mưa phùn vào tháng 1-2, độ ẩm gây lên hiện tượng Nồm, đến tháng 3 lại xuất hiện các đợt “rét Nàng Bân”. Mùa hè nóng và có mưa lớn với hiện tượng giông bão vào tháng 7 đến tháng 10.
C. CÁCH ĐI ĐẾN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
Để đi đến vùng đồng bằng sông Hồng du khách có thể đi bằng nhiều loại phương tiện khác nhau:
– Du khách trong nước và quốc tế có thể đặt vé đến Sân bay quốc tế Nội Bài – HN, sân bay Cát Bi – HP, sân bay Vân Đồn – QN. Đi tuyến đường sắt Bắc – Nam hay xe khách Bắc Nam ra Hà Nội và các tỉnh phía Bắc. Từ HN làm trung tâm du khách di chuyển tới các tỉnh phía Bắc bằng các tuyến xe khách, xe buýt hoặc bằng xe máy trải nghiệm là vô cùng thuận lợi.
Đi du lịch vùng Châu Thổ Sông Hồng và các tỉnh miền núi phía Bắc theo tour du lịch đây là cách đi du lịch phổ biến và an toàn nhất, khách du lịch nên áp dụng, đặc biệt là khi đi theo đoàn. Nếu đi du lịch theo đoàn, xuất phát từ Hà Nội, giá tour sẽ tùy theo số ngày bạn tham quan du lịch.
D. ĐÔI NÉT VỀ LỊCH SỬ, VĂN HÓA VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG – CHÂU THỔ BẮC BỘ
1. Sơ lược về lịch sử hình thành
Nghe gọi châu thổ nhiều người sẽ nghĩ là một vùng đất bằng phẳng nhưng châu thổ là một cấu trúc địa chất – địa mạo độc đáo, là sản phẩm của quá trình tương tác giữa lục địa với đại dương để tạo nên một trong những không gian sinh tồn quan trọng của nhân loại. Khi biển thoái cũng là lúc châu thổ bắt đầu hình thành tại các vùng cửa sông và nó phát triển liên tục về phía biển, tạo nên hình dạng tam giác. Nước ở sông chảy vào đại dương khiến dòng nước bị cản chậm lại, bề mặt bị bóc mòn của lục địa (phù sa) cuốn theo dòng nước, khi tốc độ nước không đủ mạnh trầm tích sẽ lắng đọng xuống lòng sông và hai bên bờ. Lượng trầm tích lan tỏa theo dòng nước tràn lên bề mặt lục địa tạo thành những lớp đất đai màu mỡ.

Những làng nghề truyền thống, bữa cơm quê đặc trưng Đồng Bằng Sông Hồng
Châu thổ Bắc bộ bắt đầu hình thành từ khoảng 8-9 nghìn năm trước nhưng nó phát triển mạnh nhất là từ khoảng 6 -7 nghìn năm trở lại đây khi mực nước biển bắt đầu rút và ổn định. Châu thổ Bắc bộ tiến ra biển khá nhanh, đặc biệt là trong khoảng 2000 năm trở lại đây đã lấn ra biển 20 – 30km. Bề mặt Châu Thổ có nhiều ô trũng do địa hình cao thấp khác nhau, lượng phù sa được bồi đắp vào mùa mưa lũ khác nhau, đây là điểm quan trọng trong việc hình thành và phân bố các làng ở châu thổ Bắc bộ và nền nông nghiệp kèm theo.
Con người bắt đầu cư trú trên đồng bằng châu thổ Bắc bộ từ khoảng hơn 2000 năm trước, trong đó khoảng 1000 năm trở lại đây các quá trình biến đổi bề mặt địa hình châu thổ bắt đầu chịu ảnh hưởng mạnh bởi quá trình định cư và canh tác nông nghiệp. Hệ thống đê nhân tạo và kênh mương thủy lợi ảnh hưởng mạnh đến quy luật bồi tụ, lắng đọng phù sa ở châu thổ Bắc bộ, gây thay đổi bề mặt địa hình và môi trường tự nhiên. Đặc biệt là từ khi chính quyền nhà Lý được thiết lập ở Thăng Long, triều đình đã chú trọng việc đắp đê ngăn lụt để bảo vệ mùa màng và khai thác bền vững tài nguyên bề mặt châu thổ. Khi châu thổ Bắc Bộ không còn chịu tác động trực tiếp của biển nữa thì các dòng sông cũng biến đổi dòng chảy, hiện tượng uốn khúc, thu hẹp dòng chảy đã để lại các đoạn lòng sông dần dần biến thành hồ. Hệ thống các hồ sót và lòng sông cổ thuộc châu thổ Bắc bộ phân bố rõ rệt nhất ở khu vực trung tâm thuộc Hà Nội và lân cận điển hình như Hồ Tây, hồ Yên Sở, hồ Hoàn Kiếm, hồ Trúc Bạch…
2. Sơ qua các nền Văn hoá Cổ ở miền Bắc Việt Nam
– Mái Đá Ngườm huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên (cũ). Di chỉ Ngườm cho thấy có 4 địa tầng văn hóa khảo cổ. Những di vật đá đặc trưng của các nền văn hóa Bắc Sơn, Hòa Bình, Sơn Vi nằm ở tầng 1, tầng 2… ở tầng thứ 3 là thuần các công cụ đặc trưng của Ngườm. Và ở tầng văn hóa thứ 4 là hàng vạn công cụ đá kiểu Phiêng Tung và Ngườm. Các nhà khoa học đã tìm được một chiếc răng voi hóa thạch, được cho là răng voi châu Á tại khu vực sông Thần Sa đoạn chảy qua di chỉ mái đá Ngườm. Niên đại của răng voi có tuổi từ 30 – 50 nghìn năm. Các nhà khảo cổ cho rằng, loài voi này sống cùng thời với bầy người nguyên thủy, chủ nhân của văn hóa Ngườm nổi tiếng.
Hậu kỳ Thời đại đồ đá cũ
– Văn hóa Tràng An là một trong những nền văn hóa cổ nhất ở Việt Nam, Tràng An là tên một địa điểm ở Ninh Bình, nơi đầu tiên tìm ra những di chỉ của nền văn hóa này. Văn hóa Tràng An kéo dài từ thời kỳ đồ đá cũ sang thời kỳ đồ đá mới cách đây 25 nghìn năm. Trên vùng đất xen núi đá vôi, thuộc phía nam châu thổ sông Hồng.
– Văn hóa Sơn Vi, thuộc hậu kỳ thời đại đồ đá cũ, có niên đại cách đây 14-22 nghìn năm, phân bố rất rộng trong các hang động và thềm sông cổ từ Lào Cai đến Nghệ An. Những nhóm cư dân nguyên thủy này sinh sống bằng săn bắt và hái lượm trong một hệ sinh thái miền nhiệt đới – ẩm với một thế giới động vật và thực vật phong phú, đa dạng. Vào khoảng 20 đến 12 nghìn năm các cư dân Việt cổ đã tụ cư đông đúc tại khu vực trung du Bắc Bộ Việt Nam, phát triển sinh sôi bằng săn bắt hái lượm trên một vùng bán sơn địa dồi dào sản vật: muông thú, các loài chim, các sản vật động thực vật của các vùng sông nước lưu vực sông Hồng ngập nước và rút khô, theo các mùa trong năm.
– Văn hóa Soi Nhụ gọi theo tên địa điểm khảo cổ học Soi Nhụ thuộc vịnh Bái Tử Long, là nền văn hóa của người tiền sử. Theo Ts. Hà Hữu Nga, văn hóa Soi Nhụ có niên đại tương đương với văn hóa Hòa Bình cũng như văn hóa Bắc Sơn của Việt Nam, và có thể có nguồn gốc từ 25 – 7 nghìn năm. Văn hóa Soi Nhụ phân bố trong khu vực các đảo đá vôi của Vịnh Hạ Long và Bái Tử Long, bao gồm cả Cát Bà Hải Phòng, các vùng Vân Đồn, Cẩm Phả, Hoành Bồ, khu vực Hòn Gai, Yên Hưng, Kinh Môn, Đông Triều thuộc Quảng Ninh và (Hải Dương cũ).
Thời đại đồ đá mới
– Văn hóa Hòa Bình Hòa Bình, một địa danh bên dòng sông Đà, là nơi đầu tiên các nhà khảo cổ học khám phá ra một nền văn hóa thuộc cuối thời kỳ đồ đá cũ đến thời kỳ đồ đá mới trên một vùng ảnh hưởng rộng lớn. Lúc đầu, nó chỉ nói về nền văn hóa có khoảng không gian là miền Bắc Việt Nam, và khoảng thời gian không quá 5 nghìn năm. Nhưng khoảng không gian lẫn thời gian trên được nới rộng dần vượt khỏi lãnh thổ Việt Nam, phía Đông Bắc đến Philippines, Nhật Bản, phía Tây đến Thái Lan, Ấn Độ, phía Nam đến tận Úc và phía Bắc bao trùm cả hai nền văn hóa cổ của Trung Hoa là Văn hóa Ngưỡng Thiều và Văn hóa Long Sơn. Về thời gian không định rõ, nhưng tuyên bố không ngạc nhiên nếu thấy việc thuần hóa cây lúa nước đã có tại Hòa Bình từ 15 nghìn năm, và những dụng cụ đá mài có lưỡi bén tìm thấy ở Bắc Úc có tuổi khoảng 20 nghìn năm có nguồn gốc từ nền Văn hóa Hòa Bình. Đấy là chưa kể đến dự phóng về niên đại Hòa Bình lên đến 50 nghìn năm. Riêng trong phạm vi nước Việt Nam ngày nay, Văn hóa Hòa Bình được khoa học khảo cổ phân chia thành ba thời kỳ dựa trên các di chỉ khảo cổ tiêu biểu: Hòa Bình sớm, có niên đại khoảng 32 – 25 nghìn năm TCN. Hòa Bình giữa 20 – 18 nghìn năm TCN. Hòa Bình muộn 12 – 10 nghìn năm TCN.
– Văn hóa Bắc Sơn là tên gọi một nền văn hóa ở Việt Nam vào sơ kỳ thời đại đồ đá mới có niên đại sau nền văn hóa Hòa Bình, cách ngày nay từ 10 – 8 nghìn năm. Các bộ lạc chủ nhân của văn hóa Hòa Bình đã tạo ra nền văn hóa Bắc Sơn. Không gian của văn hóa Bắc Sơn là các miền đất thuộc các tỉnh Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hòa Bình (Phú Thọ), Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An… ngày nay.
– Văn hóa Quỳnh Văn thời đại đồ đá mới, khoảng 6.000 – 3.500 năm cách ngày nay, phân bố ở ven biển Nghệ An và Hà Tĩnh, chủ yếu tập trung xung quanh vịnh biển cổ Quỳnh Lưu.
– Văn hóa Cái Bèo có niên đại trước nền văn hóa Hạ Long. Theo các nhà khảo cổ học, di chỉ Cái Bèo thuộc nền văn hóa Hạ Long, bởi phân tích rõ ra là cư dân Cái Bèo cùng với thời gian và xu hướng chuyển cư của người Hòa Bình – Bắc Sơn từ vùng núi xuống biển. Riêng cư dân đảo Cát Bà, trong đó có người cổ Cái Bèo làm nghề đánh cá là chủ yếu.
– Văn hóa Đa Bút thuộc sơ kỳ thời đại đồ đá mới, cách đây từ 6 đến 5 nghìn năm. Không gian của văn hóa Đa Bút là dải đất nằm từ hữu ngạn sông Đáy đến lưu vực sông Mã thuộc các tỉnh Ninh Bình và Thanh Hóa ngày nay.
Thời đại đồ đá – đồng
– Văn hóa Hạ Long Các di tích “Văn hoá Hạ Long” được phát hiện trên các đảo của Vịnh Hạ Long cũng như dọc bờ biển từ vùng Móng Cái đến Vân Đồn, với đặc trưng chung về loại hình – kỹ thuật chế tác công cụ đá và đồ gốm có từ cách đây 5 – 3 nghìn năm.
– Văn hóa Phùng Nguyên một nền văn hóa thuộc sơ kỳ thời đại đồ đồng, cuối thời đại đồ đá mới, tồn tại từ cuối thiên niên kỷ 3 TCN và kết thúc vào khoảng nửa đầu thiên niên kỷ 2 TCN. Di chỉ văn hóa Phùng Nguyên đã được phát hiện ở Phú Thọ, Bắc Ninh, Ninh Bình, Hà Nội, Hải Phòng và một vài nơi khác trong lưu vực sông Hồng.
– Văn hóa Đồng Đậu là nền văn hóa thuộc thời kỳ đồ đồng ở Việt Nam cách ngày nay khoảng 3.000 năm, sau văn hóa Phùng Nguyên, trước văn hóa Gò Mun. Tên của nền văn hóa này đặt theo tên khu di tích Đồng Đậu, Yên Lạc, Vĩnh Phúc (nay là Phú Thọ), nơi các nhà khảo cổ học đã khám phá ra một nền văn hóa đồ đồng phong phú. Người Đồng Đậu sống ngoài trời trên các đồi gò trung du Bắc Bộ với một nền kinh tế khá ổn định và phát triển dựa trên nông nghiệp trồng lúa và các cây hoa màu. Các dấu tích cho thấy nghề đúc đồng đã có và phát triển thời kỳ này.
– Văn hóa Gò Mun ước chừng trong khoảng thời gian từ năm 1.000 – năm 700 TCN, cuối thời kỳ đồ đồng. Nền văn hóa này được đặt tên theo địa điểm khảo cổ học đã khai quật được nhiều di chỉ của nền văn hóa này ở Phong Châu, tỉnh Phú Thọ. Văn hóa Gò Mun được nhìn nhận như là nền văn hóa tiền Đông Sơn. Thời kỳ này, người Việt cổ đã có những chuyển biến rõ rệt về một xã hội phức tạp và giàu có, thúc đẩy việc ra đời nhà nước sơ khai của người Việt. Người Gò Mun ở trên những gò đồi cao nổi lên giữa vùng đồng bằng và trung du. Họ bắt đầu thích tập trung ở những vùng chân gò, những vùng gò thấp ven các sông Hồng, Cầu, Đáy, Cà Lồ… Cuộc sống định cư lâu dài của họ đã để lại những tầng văn hóa khá dày.
Thời đại đồ đồng – sắt
– Văn hóa Đông Sơn là một nền văn hóa cổ đã xuất hiện vào khoảng năm 800 TCN, từng tồn tại ở rất nhiều tỉnh miền Bắc và Bắc Trung bộ Việt Nam vào cuối thời kỳ đồ đồng và thời kỳ đồ sắt sớm. Nền văn hóa này được đặt tên theo địa phương nơi các dấu tích đầu tiên của nó được phát hiện, gần sông Mã, Thanh Hóa. Nhiều dấu tích đặc trưng cho văn hóa Đông Sơn cũng được tìm thấy ở một số vùng lân cận Việt Nam như ở Vân Nam, Quảng Tây, Hải Nam của Trung Quốc, ở Lào hay ở Thái Lan…
Có những nghiên cứu cho rằng trên cơ sở văn hóa Đông Sơn, nhà nước văn minh đầu tiên của người Việt, nhà nước Văn Lang của các Vua Hùng và nối tiếp là nhà nước Âu Lạc của An Dương Vương đã phát triển, nước Nam Việt của Triệu Đà trước khi bị ảnh hưởng của nền văn minh Hán. Văn hóa Đông Sơn là một giai đoạn trong nền Văn minh sông Hồng, kế thừa và phát triển từ Văn hóa Hòa Bình, Phùng Nguyên, Đồng Đậu và Gò Mun.
3. Nét văn hoá vùng Đồng Bằng Bắc Bộ
Đồng bằng Bắc Bộ là vùng đất mang nhiều nét truyền thống của văn hóa Việt Nam. Đây được coi là cái nôi của văn hoá-lịch sử dân tộc, nơi sinh ra các nền văn hóa lớn, phát triển nối tiếp lẫn nhau Văn hóa Đông Sơn, văn hóa Đại Việt và văn hóa Việt Nam. Xét về lãnh thổ vùng này có nhiều ý kiến khác nhau nhưng hầu hết các ý kiến cho rằng văn hoá vùng đồng bằng Bắc Bộ là khu vực của ba hệ thống sông lớn sông Hồng, sông Thái Bình và sông Mã. Như vậy thì có thể xác định vùng văn hoá bao gồm các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, phần đồng bằng của các tỉnh trung du Bắc Bộ vào đến cả Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh. Vùng văn hoá có những điểm không đồng nhất với vùng hành chính, vùng quân sự…Việc xét Thanh-Nghệ-Tĩnh vào vùng văn hóa đồng bằng Bắc Bộ là dựa trên những căn cứ về văn hoá và lịch sử.
Cư dân ở đồng bằng Bắc Bộ là cư dân sống với nghề trồng lúa nước, làm nông nghiệp một cách thuần túy, người nông dân Việt Bắc Bộ là người dân đồng bằng đắp đê lấn biển trồng lúa, làm muối và đánh cá ở ven biển. Mặt khác, Bắc Bộ là một châu thổ có nhiều sông ngòi, nên người dân có nghề chài lưới khai thác thủy sản. Tuy nhiên, phương thức canh tác chính của cư dân là trồng lúa nước, cùng cây lúa, diện mạo cây trồng ở Bắc Bộ còn nhiều loại cây khác phù hợp với khí hậu và xen canh giữa các mùa vụ.
Đất đai ở Bắc Bộ không nhiều, dân cư đông, người nông dân đã làm thêm những nghề thủ công, ở đồng bằng sông Hồng có hàng trăm nghề thủ công, nhiều làng nghề đã rất phát triển với những người thợ có tay nghề cao, có lịch sử phát triển lâu đời như nghề gốm, nghề dệt, luyện kim, đúc đồng vv…

Những làng nghề truyền thống lưu giữ tinh hoa vùng Đồng bằng châu thổ
Đặc điểm xã hội, những người nông dân sống quần tụ thành làng. Làng là đơn vị xã hội cơ sở của nông thôn Bắc Bộ, tế bào sống của xã hội Việt. Nó là kết quả của các công xã thị tộc nguyên thủy sang công xã nông thôn. Các vương triều phong kiến đã chụp xuống công xã nông thôn ấy tổ chức hành chính của mình và nó trở thành các làng quê. Tiến trình lịch sử đã khiến cho làng Việt Bắc Bộ là một tiểu xã hội trồng lúa nước. Về mặt sở hữu ruộng đất, suốt thời phong kiến, ruộng công, đất công nhiều là đặc điểm của làng Việt Bắc Bộ. Do vậy, quan hệ giai cấp ở đây “nhạt nhòa” chưa phá vỡ tính cộng đồng, tạo ra một lối sống ngưng đọng của nền kinh tế tự cấp tự túc. Sự gắn bó giữa con người và con người trong cộng đồng làng quê, không chỉ là quan hệ sở hữu trên đất làng, trên những di sản hữu thể chung như đình làng, chùa làng v.v…, mà còn là sự gắn bó các quan hệ về tâm linh, về chuẩn mực xã hội, đạo đức. Đảm bảo cho những quan hệ này là các hương ước, khoán ước của làng xã. Các hương ước, hay khoán ước này là những quy định khá chặt chẽ về mọi phương diện của làng từ lãnh thổ làng đến sử dụng đất đai, từ quy định về sản xuất đến quy định về tổ chức làng xã, ý thức cộng đồng làng xã, vì thế trở thành một sức mạnh tinh thần không thể phủ nhận, nhưng cũng vì thế mà cá nhân, vai trò cá nhân bị coi nhẹ. Chính những đặc điểm ấy của làng Việt Bắc Bộ góp phần tạo ra những đặc điểm riêng của vùng văn hóa Bắc Bộ.
Văn hoá cư trú, Nhà ở của cư dân Việt Bắc Bộ xưa thường là loại nhà không có chái, hình thức nhà vì kèo phát triển. Có đến 10 loại nhà vì kèo khác nhau, sử dụng vật liệu nhẹ là chủ yếu sau có kết hợp gạch, ngói, vữa vôi, sau tiếp thu kĩ thuật sử dụng các vật liệu bền như xi măng, sắt thép. Người nông dân Bắc Bộ thường muốn xây dựng ngôi nhà của mình theo kiểu bền chắc, to đẹp, tuy nhiên vẫn hòa hợp với cảnh quan. Thường là người Việt Bắc Bộ muốn trồng cây cối quanh nơi cư trú, tạo ra bóng mát cho ngôi nhà.
Ẩm thực của cư dân Việt trên châu thổ Bắc Bộ vẫn cơ bản chung của người Việt gồm “cơm – rau – cá”, nhưng thành phần cá ở đây chủ yếu các loại cá nước ngọt. Hải sản đánh bắt ở biển chủ yếu giới hạn ở các làng ven biển, còn các làng ở sâu trong đồng bằng, hải sản chưa phải là thức ăn chiếm ưu thế. Thích ứng với khí hậu ở châu thổ Bắc Bộ, người Việt Bắc Bộ có chú ý tăng thành phần thịt và mỡ để giữ nhiệt cho cơ thể. Các gia vị có tính cay, chua, đắng, quen thuộc với cư dân Trung Bộ, Nam Bộ lại có mặt hạn chế trong bữa ăn của người Việt Bắc Bộ.
Cách mặc của người dân Bắc Bộ cũng là một sự lựa chọn thích ứng với thiên nhiên châu thổ Bắc Bộ, đó là màu nâu. Đàn ông với y phục là chiếc quần lá tọa, áo cánh màu nâu sồng, đàn bà với chiếc váy thâm, chiếc áo nâu khi đi làm. Ngày hội hè hay lễ tết thì trang phục này có khác hơn, đàn bà với áo dài mớ ba mớ bảy, đàn ông với chiếc quần trắng, áo dài the, chít khăn đen. Ngày nay y phục của người Việt Bắc Bộ đã có sự thay đổi rất nhiều.
Cùng với các di sản văn hóa hữu thể, các di sản văn hóa vô thể của đồng bằng Bắc Bộ cũng khá đa dạng và phong phú. Kho tàng văn học dân gian Bắc Bộ từ thần thoại đến truyền thuyết, từ ca dao đến tục ngữ, từ truyện cười đến truyện trạng, mỗi thể loại đều có một tầm dày dặn, mang nét riêng của Bắc Bộ, trong truyện sử dụng các hình thức câu đố, câu đối, nói lái, chơi chữ nhiều. Ca dao xứ Bắc trau chuốt, tỉa gọt. Các thể loại thuộc nghệ thuật biểu diễn dân gian cũng khá đa dạng và mang sắc thái vùng đậm nét, đó là hát quan họ, hát xoan, hát trống quân, hát chầu văn, hát chèo, múa rối v.v…
Đáng kể nhất là những sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của cư dân Việt Bắc Bộ như thờ Thành hoàng, thờ Mẫu, thờ các ông tổ nghề,…có mặt trên hầu khắp các làng quê Bắc Bộ. Khởi nguyên, các lễ hội ấy đều là các hội làng của cư dân nông nghiệp, nói khác đi là các lễ hội nông nghiệp. Tiến trình lịch sử đã lắng hội nông nghiệp. Tuy nhiên, những trò diễn trong các lễ hội vẫn gợi lại các nghi lễ nông nghiệp. Chính vì vậy mà lễ hội ở đồng bằng Bắc Bộ có thể ví như một bảo tàng văn hóa tổng hợp lưu giữ khá nhiều các sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp. Với cư dân ở làng quê Việt Bắc Bộ, lễ hội là môi trường cộng cảm văn hóa.
Cùng với văn hoá dân gian, vùng châu thổ Bắc Bộ còn là “nơi phát sinh nền văn hóa bác học”. Sự phát triển của giáo dục, truyền thống trọng người có chữ trở thành nhân tố tác động tạo ra một tầng lớp trí thức ở Bắc Bộ. Thời tự chủ, Thăng Long với vai trò là một kinh đô cũng đảm nhận vị trí một trung tâm giáo dục. Năm 1078, Văn Miếu đã xuất hiện, năm 1076 đã có Quốc Tử Giám, chế độ thi cử để kén chọn người hiền tài v.v.. đã tạo ra cho xứ Bắc một đội ngũ trí thức đông đảo. Trong lịch sử 850 năm (l065-1915) khoa cử dưới các triều vua, cả nước có 56 trạng nguyên thì 52 người là ở vùng đồng bằng miền Bắc”. Thời thuộc Pháp, Hà Nội là nơi có các cơ sở giáo dục, khoa học, thu hút các trí thức mọi vùng. Chính sự phát triển của giáo dục ở đây tạo ra sự phát triển của văn hóa bác học, bởi chủ thể sáng tạo nền văn hóa bác học này chính là đội ngũ trí thức được sinh ra từ nền giáo dục ấy. Đội ngũ này, tiếp nhận vốn văn hóa dân gian, vốn văn hóa bác học Trung Quốc, Ấn Độ, phương Tây, tạo ra dòng văn hóa bác học. Đơn cử, chữ Nôm, chữ Quốc ngữ chính là sản phẩm được tạo ra từ quá trình sáng tạo của trí thức, thể hiện rõ đặc điểm này. (theo Nguyễn Bá Tùng)
E. DU LỊCH VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG & DUYÊN HẢI ĐÔNG BẮC
Vùng du lịch đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc có tiềm năng rất phong phú và đa dạng như du lịch biển đảo, du lịch văn hóa – tâm linh, du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái, du lịch thể thao mạo hiểm, du khảo đồng quê…Bên cạnh đó, hệ thống di tích lịch sử, văn hóa với hàng nghìn đình, đền, chùa, miếu mạo cùng kho tàng kiến trúc, mỹ thuật độc đáo, là quê hương của nhiều lễ hội truyền thống điển hình cùng nhiều loại hình nghệ thuật đặc sắc có sức hấp dẫn rất lớn đối với khách du lịch trong và ngoài nước. Trong số các di tích Việt Nam thì vùng này chiếm hơn 90% về số lượng. Số lượng các danh hiệu thế giới do UNESCO xếp hạng cũng đứng đầu với quần thể danh thắng Tràng An, vịnh Hạ Long, Hoàng thành Thăng Long, Bia tiến sĩ Văn Miếu Thăng Long, ca trù, dân ca quan họ, khu dự trữ sinh quyển quần đảo Cát Bà, khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng…

Khuê Văn Các “gác vẻ đẹp của sao Khuê” công trình biểu tượng của Hà Nội.
Các Địa Danh Du Lịch Nổi Tiếng
1. Thành Phố Hà Nội
Hoàng thành Thăng Long Là di sản văn hóa thế giới nằm giữa lòng Hà Nội và đã có bề dày lịch sử hơn 1300 năm, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới năm 2010.
Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh Đối với người Việt, đây là một trong những điểm tham quan quan trọng nhất trong nước. Du khách tới để bày tỏ lòng thành kính với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Dự lễ thượng cờ vào buổi sáng là trải nghiệm đặc biệt tại lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Chùa Một Cột một trong những ngôi chùa cổ nhất ở Hà Nội. Chùa được xây
trên một trụ cách đây hơn 1.000 năm.
Hồ Hoàn Kiếm hồ nước ngọt tự nhiên, là trái tim của thành phố Hà Nộ, Dạo quanh hồ, ngoài tận hưởng thiên nhiên trong lành giữa phố thị, bạn có thể ghé thăm đền Ngọc Sơn, phố cổ…
Phố cổ Cứ để đôi chân dẫn đường, bạn sẽ khám phá được nhiều nhất về những con phố đầy màu sắc hoài niệm của thủ đô. Cứ thế 1.000 năm lịch sử của Hà Nội chảy qua những con phố như dòng khí huyết len lỏi trong từng tĩnh mạch, thổi vào cuộc sống hơi thở của cả quá khứ lẫn hiện tại.
Cầu Long Biên Không chỉ đơn thuần bắc qua hai bờ sông Hồng, cầu Long Biên còn chính là dấu ấn nối liền giữa hiện tại và ký ức xưa của những người dân yêu Hà Nội.
Chùa Trấn Quốc Nằm trên hòn đảo phía đông Hồ Tây, chùa Trấn Quốc từng vào top những ngôi chùa đẹp nhất thế giới. Chùa có lịch sử 1.500 năm, là trung tâm Phật giáo của kinh thành Thăng Long vào thời Lý, Trần.
Văn Miếu – Quốc Tử Giám Đây là trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Du khách sẽ cảm nhận được sự hài hòa giữa cổ và kim khi tới đây qua những bức tường nghìn năm tuổi.
Bảo tàng Điểm đến không thể bỏ qua khi tới bất cứ thành phố nào chính là các bảo tàng, di tích lịch sử. Một trong những nơi được du khách check-in nhiều nhất chính là bảo tàng Dân tộc học. Bảo tàng Quân Sự, bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, bảo tàng Hà Nội, bảo tàng Lịch sử Quốc gia hay nhà tù Hỏa Lò, di tích Cột cờ Hà Nội… để tìm hiểu văn hóa, lịch sử của thành phố.
Nhà hát Lớn Nhà hát Lớn Hà Nội được người Pháp xây dựng dựa trên hình mẫu nhà hát Opera Garnier (Paris), Nhà hát lớn hiện nay là địa điểm chính cho các sự kiện, hoạt động quan trọng của thủ đô.
Nhà thờ Lớn Mang kiểu kiến trúc Gothic đặc trưng, cùng mảng tường vôi đã ngả màu do thời gian, nhà thờ lớn mang đến không khí cổ xưa cho khu vực xung quanh.
Hồ Tây Hà Nội với những điểm khám phá vẻ đẹp và văn hóa đặc trưng nhất phải kể đến hồ Tây, với Phủ Tây Hồ. Xung quanh khu vực hồ Tây là các làng cổ và những làng nghề truyền thống như trồng hoa, làm giấy dó…
Khám phá: Trung tâm triển lãm quốc gia VEC, Phố sách 19/12, Phố đi bộ Hồ Gươm, Phố bia trong Phố cổ, Chèo SUP trên hồ Tây hay Ngắm toàn cảnh Hà Nội từ trên cao từ đài quan sát Lotte hay Keang Nam;…
Tham quan các làng nghề ở Hà Nội – Điểm nhấn văn hóa đặc sắc của Thủ đô Làng lụa Vạn Phúc; Làng gốm Bát Tràng; Làng đúc đồng Ngũ Xã; Làng hương Quảng Phú Cầu; Làng nón Chuông; Làng rối nước Đào Thục; Làng mây tre đan Phú Vinh; Làng nghề thêu tay Quất Động; Làng nhạc cụ dân tộc Đào Xá; Làng chuồn chuồn tre Thạch Xá; Làng quạt Chàng Sơn; Làng miến Cự Đà,…Các làng nghề ở Hà Nội đã đi vào trong thơ ca, sử sách, đồng thời kiến tạo nên giá trị của một nền văn hóa.
Các làng nghề và nghệ thuật biểu diễn ở Hà Nội. Ảnh: Sưu tầm
Ngoài tham quan danh thắng, làng nghề,…du khách nên thưởng thức các show diễn nghệ thuật đậm bản sắc dân tộc tại Hà Nội hay vui chơi ở những trung tâm giải trí.
Múa rối nước: là nghệ thuật sân khấu du khách nên xem khi tới Hà Nội. Nghệ thuật này đã có truyền thống hơn 1.000 năm ở Việt Nam.
Nghe ca trù: Ca trù có nguồn gốc từ thế kỷ 11, phong cách mang nhiều nét giống nghi lễ geisha của Nhật Bản và các màn trình diễn opera. Ca trù có năm không gian trình diễn chính: Ca trù cửa đình (hát ở cửa đình tế thần), ca trù cửa quyền (thưởng thức ca trù của giới quyền chức), ca trù tại gia, ca trù hát thi, ca trù ca quán.
Show thực cảnh: Tinh hoa Bắc Bộ là vở diễn thực cảnh trên sân khấu ở chùa Thầy, dưới chân núi Thầy, Hà Nội. Vở diễn diễn ra trên mặt hồ nước rộng 4.300 mét vuông, đưa du khách du hành vào đời sống của nông dân Bắc Bộ.
Những trung tâm vui chơi, giải trí: Trung tâm Chiếu phim Quốc gia; TT Nghệ thuật Đương đại VCCA; Thuỷ cung Lotte World Hà Nội; VinKE & Thủy cung Times City Hà Nội; Hanoi Creative City; Công viên nước VinWonders Hà Nội Water Park; Công viên sóng VinWonders Hà Nội Wave Park; Công viên Thiên Đường Bảo Sơn,… với đủ mọi loại hình vui chơi, giải trí được giới trẻ yêu thích nhất hiện nay.
Ngoài các địa điểm kể trên, vẫn còn không ít những địa điểm du lịch nội, ngoại thành Hà Nội như: Vườn quốc gia Ba Vì; núi Hàm Lợn; Đền Sóc; Thành Cổ Loa; Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam; Làng cổ Đường Lâm; Việt Phủ Thành Chương,…Có nhiều ngôi chùa nổi tiếng cổ kính ở đây như chùa Quán Sứ; Chùa Hương; Bối Khê (Thanh Oai), Chùa Đậu (Thường Tín), Chùa Trăm Gian (Chương Mỹ), Chùa Tây Phương (Thạch Thất), Chùa Mui (Thường Tín), Chùa Thầy (Quốc Oai), Chùa Mía (Sơn Tây), Chùa Giáng (Phú Xuyên)…
2. Du lịch Ninh Bình
Ninh Bình có tiềm năng du lịch rất lớn, là nơi có tới 5 danh hiệu UNESCO với quần thể di sản thế giới Tràng An, ca trù, tín ngưỡng thờ Mẫu. Nơi đây sở hữu nhiều danh lam, thắng cảnh và di tích lịch sử văn hoá nổi tiếng:
Cố đô Hoa Lư là kinh đô của nhà nước phong kiến tập quyền đầu tiên ở Việt Nam, hiện còn nhiều di tích cung điện, đền, chùa, lăng mộ… liên quan đến các triều đại Đinh, Tiền Lê và Lý. Nơi đây được Chính phủ Việt Nam xếp hạng là di tích quốc gia đặc biệt.
Quần thể danh thắng Tràng An với hệ thống các hang động, thung nước, rừng cây và các di tích lịch sử gắn với kinh thành xưa của cố đô Hoa Lư. Nơi đây có 3 vùng lõi đã được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt và được Unesco công nhận là di sản thế giới.
Du lịch Tam Cốc – Bích Động Nối liền với quần thể danh thắng Tràng An, được công nhận di tích thắng cảnh hạng đặc biệt với các điểm du lịch như: Tam Cốc – chùa Bích Động, đền Thái Vi, Hang Múa, động Tiên cá, hang Bụt hiện, Thung Nắng, Thung Nham vườn chim v.v..
Chùa Bái Đính là một quần thể gồm khu chùa cổ và khu chùa mới với quy mô là ngôi chùa lớn ở Đông Nam Á, là ngôi chùa sở hữu nhiều kỷ lục nhất Việt Nam.
Vườn quốc gia Cúc Phương với diện tích rừng nguyên sinh khoảng 22.000 ha, là rừng quốc gia đầu tiên của Việt Nam. Nơi đây có nhiều động thực vật quý hiếm, có động Người Xưa, cây chò ngàn năm tuổi,…
Nhà thờ Phát Diệm là công trình kiến trúc tôn giáo kết hợp hài hòa giữa kiến trúc phương đông và phương tây. Là một công trình kiến trúc đá độc đáo.
Đan viện Thánh Mẫu Châu Sơn Đan viện nằm giữa một khung cảnh rừng núi yên tĩnh, hai bên là cánh đồng lúa mênh mang. Sở hữu cảnh quan xanh mát, thiết kế đẹp mắt tựa như không gian ở trời Âu mang vẻ đẹp thanh cao, huyền bí và tôn nghiêm. Là một công trình có kiến trúc độc đáo, tuy nhiên nơi đây không mở cửa khách tham quan rộng rãi, Đan viện chỉ mở cửa vào những ngày cuối tuần để đảm bảo tính tôn nghiêm, yên tĩnh.
Đầm Vân Long là đầm nước nhân tạo và cũng là khu bảo tồn thiên nhiên ngập nước lớn nhất ở khu vực phía Bắc. Xung quanh đầm là những núi đá vôi hùng vĩ và rất nhiều hang động chưa được khám phá.
Đền Trần – Nam Định Khu di tích Đền Trần Nam Định thờ 14 vị vua nhà Trần cùng gia quyến và các quan lại có công phù tá. Nơi đây còn nổi tiếng với Lễ khai ấn Đền Trần đầu xuân và Hội Đền Trần tháng tám.
Nhà thờ Bùi Chu Dừng chân tại nhà thờ Bùi Chu, bạn sẽ có cơ hội chiêm ngưỡng nét kiến trúc đầy ấn tượng được tạo nên bởi gam màu thổ hoàng, cột gỗ lim đen bóng và mái vòm hình ô-van mang đậm phong cách Ba-rốc. Ngoài ra ở phía đầu của nhà thờ là tháp đồng hồ cổ – nơi có chiếc đồng hồ được sản xuất riêng vào năm 1922, đến nay vẫn hoạt động tốt và là niềm tự hào của cả công trình.
Chùa Cổ Lễ, thị trấn Cổ Lễ, Nam Định là một trong những danh lam thắng cảnh nổi tiếng, một di tích lịch sử – văn hoá đặc biệt cấp Quốc gia của vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng. Chùa được xây dựng từ thời Lý Thần Tông thế kỷ 12. Ngôi chùa linh thiêng này ngoài thờ Phật, còn thờ Đức Thánh Tổ Nguyễn Minh Không. Chùa Cổ Lễ ngoài kiến trúc mái vòm độc đáo, kiên cố… nơi đây còn lưu giữ 1 quả chuông nặng 9 tấn, nằm giữa hồ trước chính điện.
Vương cung thánh đường Phú Nhai một trong những công trình tôn giáo đẹp nhất tại vùng Nam Định, vương cung thánh đường Phú Nhai cuốn hút du khách bởi nét đẹp huyền bí, ma mị qua lối kiến trúc cổ kính, uy nghi.
Chùa Địa Tạng Phi Lai Tự – Hà Nam Hay còn gọi là chùa Đùng, ngôi chùa được xây dựng theo kiểu chữ “Tam”. Không chỉ có kiến trúc đẹp, chùa Địa Tạng Phi Lai Tự còn có không gian yên tĩnh và thanh bình để du khách tìm về với sự tĩnh lặng và thư thái tâm hồn.

Tam thế phật chùa Tam Chúc. Ảnh: Sưu tầm
Chùa Tam Chúc Hà Nam Tam Chúc là ngôi chùa lớn nhất nhì Việt Nam, là một trong những điểm du lịch tâm linh thu hút nhiều du khách nhất cả nước, nối giữa khu du lịch chùa Hương, khu du lịch Bái Đính và khu bảo tồn thiên nhiên Vân Long.
Những điểm du lịch nổi tiếng khác: Vùng Ninh Bình cũ có Nhà thờ giáo xứ Lãng Vân; khu dự trữ sinh quyển thế giới Bãi ngang – Cồn Nổi, Nhà thờ Tôn Đạo,…; Vùng Nam Định: Chợ Viềng; Hội Phủ Dầy; Vườn quốc gia Xuân Thủy; Bảo tàng – cột cờ Nam Định; Tượng đài Trần Hưng Đạo; Chùa Tháp Phổ Minh; Nhà thờ đền thánh Hưng Nghĩa; Nhà thờ Kiên Lao; Bảo tàng Dệt – Nam Định; Bảo tàng đồng quê – Giao Thủy; Cánh đồng muối Bạch Long,…; Vùng Hà Nam: Nhà thờ Sở Kiện; Chùa Bà Đanh; Đền Lảnh Giang; Đền Trần Thương; Kẽm Trống; Ao Dong – Hang Luồn; Bát Cảnh Sơn; Núi Cấm – Ngũ Động; Chùa Long Đọi Sơn; Nhà Bá Kiến – Làng kho cá Vũ Đại; Làng Trống Đọi Tam; Làng nghề dệt lụa tơ tằm Nha Xá; Làng thêu ren Thanh Hà; Làng mây tre đan Ngọc Động…
3. Du lịch Hải Phòng
Đảo Cát Bà – Điểm du lịch Hải Phòng tuyệt đẹp vào mùa hè Đảo Cát Bà được gọi là hòn ngọc của vịnh Bắc Bộ, nằm ở phía nam Vịnh Hạ Long, đẹp và thơ mộng. Bãi biển xanh trong, hải sản trù phú. Ở đảo bạn có thể tham quan nhiều nơi như Vịnh Lan Hạ, làng chài cổ, Đảo Khỉ, vườn quốc gia Cát Bà…Bạn sẽ được thỏa chí ngắm biển, ngắm san hô, chèo thuyền, leo núi… giữa làn nước biển xanh trong cùng bãi cát trắng mịn. Đến với Cát Bà du khách còn được tham gia các lễ hội độc đáo, mang màu sắc riêng của người dân bản địa. Bên cạnh đó khu vực này còn nổi tiếng với nhiều loại đặc sản biển như tu hài, bề bề rang muối, sam trứng nướng…

Vịnh Lan Hạ nơi đã quá nổi tiếng với khách du lịch trong và ngoài nước
Biển Đồ Sơn Đến với thành phố Hoa phượng đỏ, bạn đừng quên ghé thăm Đồ Sơn – bãi biển có nhiều khu nghỉ dưỡng, thư giãn vô cùng tuyệt vời, phong cảnh đẹp nhất nhì ở miền Bắc…Đồ Sơn còn có Đảo Hòn Dấu, Hải đăng Hòn Dấu, chùa tháp Tường Long, Biệt thự Bảo Đại hay Khu du lịch Đồi Rồng…Là những địa điểm tuyệt đẹp nơi đây thu hút nhiều du khách đến tham quan.
Quần thể danh thắng Tràng Kênh Một trong các điểm du lịch Hải Phòng mang ý nghĩa lịch sử nổi bật. Khu di tích Bạch Đằng Giang nằm trong quần thể danh thắng Tràng Kênh, là địa danh nổi tiếng với 3 trận thủy chiến vang động chống quân xâm lược trong lịch sử nước ta.
Khu di tích Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm nằm tại thôn Trung Am, là nơi khắc hoạ rõ nét cuộc đời, sự nghiệp của danh nhân, nhà học giả, nhà tiên tri, nhà triết học nổi tiếng ở thế kỷ 16.
Đảo Vũ Yên – VinWonders Vũ Yên Không chỉ sở hữu vị trí đắc địa và không gian thiên nhiên trong lành, còn gây ấn tượng bởi thiết kế hiện đại, trải nghiệm đa dạng và không khí lễ hội sôi động quanh năm.
Nhà hát Lớn Hải Phòng được hoàn thành vào năm 1912. Công trình do kiến trúc sư Pháp mô phỏng theo các nhà hát Pháp thời trung cổ, coi trọng sự hiệu quả của thị giác, sự hòa hợp giữa thực và ảo, bóng tối và ánh sáng…Hiện nay, nhà hát Lớn là nơi sinh hoạt chính trị, văn hóa, điểm biểu diễn văn nghệ TP,…
Những địa điểm khác như: Đảo Bạch Long Vĩ, Đảo Long Châu, Bảo tàng Hải
Phòng, Ga Hải Phòng, Nhà thờ Chính tòa Hải Phòng, Chùa Dư Hàng, Chợ Hàng độc đáo, Hồ Tam Bạc, Tuyệt Tình Cốc, Khu du lịch sinh thái rừng ngập mặn Đại Hợp,…
Danh Thắng Côn Sơn – Hải Dương Côn Sơn không chỉ là một danh lam thắng cảnh Hải Dương nổi tiếng mà còn là vùng đất gắn liền với tên tuổi của nhiều danh nhân như: Trần Nguyên Đán, Nguyễn Trãi, Chu Văn An…Nằm giữa vùng núi non xanh ngát, Côn Sơn mang vẻ đẹp hùng vĩ, bạn sẽ cảm nhận được không khí linh thiêng và yên bình. Đặc biệt, mùa xuân là thời điểm lý tưởng để du xuân Côn Sơn, hòa mình vào lễ hội truyền thống và khám phá nét đẹp văn hóa dân tộc.
Đền Kiếp Bạc – Hải Dương là nơi thờ Đức Thánh Trần – vị tướng tài ba của dân tộc. Đền mang vẻ cổ kính và uy nghiêm, nằm trên một khu đất bằng giữa thung lũng núi Rồng. Tam quan đền Kiếp Bạc như bức cuốn thư “Lưỡng long chầu nguyệt” bề thế. Đền Kiếp Bạc nhìn ra con sông Thương (còn gọi là sông Lục Đầu). Thời Trần, nơi đây là bến Bình Than. Sau lưng đền Kiếp Bạc, là núi Trán Rồng sừng sững, bên tả có núi Bắc Đẩu, bên hữu là núi Nam Tào ba bề ôm lấy Kiếp Bạc hùng vĩ.
Văn miếu Mao Điền Việt Nam có Văn miếu lâu đời nhất là Văn miếu Quốc Tử Giám tại Hà Nội, thứ hai là Văn miếu Mao Điền, Hải Dương. Di tích này được khởi lập cách đây hơn 500 năm vào thời Lê sơ, được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt. Xưa kia nơi đây là trường thi Hương của trấn Hải Dương.
Đền thờ Chu Văn An Đền thờ thầy Chu Văn An tọa lạc trên núi Phượng Hoàng, thuộc thị xã Chí Linh, Hải Dương (cũ). Nơi đây với phong cảnh tuyệt đẹp, cũng là nơi nhiều người dân đến xin chữ mỗi khi dịp Tết đến xuân về, cầu mong một năm mới gặp nhiều may mắn, học hành thi cử đỗ đạt.
Trò chơi dân gian vùng Hải Dương Những trò chơi dân gian độc đáo được duy trì phải kể đến như đánh pháo đất ở vùng Ninh Giang, Tứ Kỳ, Gia Lộc; thả diều ở Kinh Môn; thổi cơm thi ở Thanh Hà; nặn tò he ở Nam Sách; đánh bệt ở đền Sượt; múa lễ chữ ở Bình Giang…
Xứ Hải Dương còn nhiều địa danh nổi tiếng đó là: Đền Đươi, ngôi đền cổ từ thời nhà Lý thế kỷ 11, thờ Nguyên phi Thái hậu Ỷ Lan; Chùa Trăm Gian, ngôi cổ tự nghìn năm linh thiêng lưu giữ nhiều cổ vật; Đền Quan Lớn Tuần Tranh; Quần thể An Phụ – Kính Chủ – Nhẫm Dương; Chùa Giám; Bảo Tàng Hải Dương; Đảo Cò Chi Lăng Nam; Làng gốm Chu Đậu; Làng rối nước Thanh Hải; Rừng Phong Lá Đỏ; cánh đồng hoa Rễ…
4. Du lịch Quảng Ninh
Kỳ quan thiên nhiên thế giới – Vịnh Hạ Long Trở thành 1 trong 7 kỳ quan thiên nhiên thế giới do UNESCO công nhận. Du lịch Vịnh Hạ Long với 1.900 hòn đảo đá vôi lớn nhỏ và các hang động kỳ thú, bãi cát trắng mịn, làng chài ban sơ,… Ngoài ra, đi thủy phi cơ hay ngủ đêm trên thuyền cũng là những trải nghiệm thú vị du khách nên thử khi tới vịnh Hạ Long.
Biển Bãi Cháy – Tắm biển và trải nghiệm các trò chơi mạo hiểm, Bãi Cháy là một trong những điểm đến sôi động nhất tại Quảng Ninh, nhiều hoạt động giải trí đặc sắc như lướt ván, chèo thuyền kayak hay bay dù xuồng cao tốc.
Đảo Rều – “Dubai thu nhỏ” Cách Bãi Cháy chỉ 600m, Với khung cảnh thơ mộng, nơi đây mang đến cảm giác như một “Dubai thu nhỏ” của Quảng Ninh, thu hút ngày càng nhiều du khách ghé thăm để thưởng ngoạn cảnh đẹp, tham gia các hoạt động vui chơi thú vị và thưởng thức ẩm thực độc đáo.
Công viên Sun World Hạ Long là một trong những khu vui chơi lớn nhất nước. Ngoài tắm biển, du khách có thể vui chơi tại Công viên nước Typhoon Water Park,, công viên Rồng Dragon Park, Cáp treo Nữ hoàng, Vòng quay Mặt trời, Khu đồi huyền bí,…

Vẻ đẹp Quảng Ninh. Ảnh: Sưu tầm
Chợ đêm Hạ Long chính là thiên đường mua sắm, ăn uống về đêm. Chợ nằm trên đại lộ Hạ Long Marine, Bãi Cháy, mở cửa từ 18h đến 24h.
Bán đảo Tuần Châu Tuần Châu cách khu du lịch Bãi Cháy 5km, là hòn đảo với các khu resort 5 sao, các khách sạn sang trọng, khu vui chơi giải trí rộng lớn và cảng tàu du lịch lớn nhất Đông Nam Á. Đây là nơi xuất phát của các chuyến du thuyền đưa du khách trong và ngoài nước khám phá vịnh Hạ Long.
Bảo tàng Quảng Ninh Đây là địa điểm du lịch Quảng Ninh được xây dựng với ý tưởng từ hình tượng than đá và nghệ thuật kiến trúc độc đáo. Bảo tàng Quảng Ninh hiện tại đang trưng bày các triển lãm về văn hóa, lịch sử và thiên nhiên Việt Nam.
Thiên đường của những hòn đảo đẹp – Vân Đồn Vân Đồn là khu du lịch Quảng Ninh, nơi đây có rừng, có biển và có nhiều hòn đảo nhỏ nằm rải rác bao quanh ôm trọn vịnh Bái Tử Long.
Du lịch đảo Quan Lạn Quảng Ninh – Vùng biển hoang sơ, yên bình Thuộc địa phận Vân Đồn, đảo Quan Lạn là một trong những hòn đảo còn giữ được nét hoang sơ, yên bình cho đến nay.
Tận hưởng vẻ đẹp hoang sơ tại Đảo Ngọc Vừng Không chỉ hấp dẫn bởi cảnh sắc, Ngọc Vừng còn là nơi lưu giữ nhiều dấu ấn lịch sử và văn hóa, các địa danh nổi tiếng như Thành Cổ Ngọc Vừng, Bến Cống Yên và Cột Cờ Quốc Gia, bạn sẽ cảm nhận vẻ đẹp đầy tự hào của hòn đảo này.
Đảo Cô Tô – Một trong những hòn đảo đẹp nhất Việt Nam Không chỉ có bãi biển trong xanh mê đắm lòng người, mà còn có rất nhiều hoạt động vui chơi giải trí với mức giá khá rẻ.
Bãi biển Trà Cổ -Móng Cái là một trong những đường bờ biển đẹp nhất Việt Nam. với chiều dài đường bờ biển lên tới 15km, Vốn nổi tiếng với bãi cát vàng cùng làn nước xanh ngắt.
Mũi Sa Vĩ Nằm phía Đông Bắc của biển Trà Cổ, cực Đông Bắc của Tổ quốc, là điểm đến đặc biệt dành cho những ai muốn cảm nhận niềm tự hào thiêng liêng khi đặt chân lên vùng địa đầu Tổ quốc.
Bình Liêu là vùng miền núi biên giới phía Đông Bắc Quảng Ninh. Đến với Bình Liêu, du khách sẽ có cơ hội ngắm nhìn khung cảnh thiên nhiên núi đồi trùng trùng điệp điệp, những thác nước cao trắng xóa, những thửa ruộng bậc thang bên ngôi làng nhỏ có các con đường nở trắng hoa lau.
Khu danh thắng Yên Tử Khu du lịch Yên Tử là nơi lưu giữ các di tích lịch sử, văn hóa gắn liền với sự hình thành và phát triển của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Cùng với phong cảnh núi non tuyệt đẹp, khí hậu mát mẻ, thiên nhiên trong lành, nơi đây trở thành địa điểm du lịch tâm linh thu hút du khách xa gần.
Quảng Ninh còn nhiều những điểm du lịch đẹp đó là Núi Bài Thơ, Bãi tắm Hòn Gai, Công viên hoa Hạ Long, Yoko Onsen Quang Hanh, Khu du lịch Cẩm Phả, Đền Cửa Ông, Chùa Cái Bầu, Chùa Ba Vàng, Mua sắm tại cửa khẩu Quốc tế Móng Cái,…
5. Du lịch Bắc Ninh
Làng quan họ Bắc Ninh Dân ca Quan họ Bắc Ninh là di sản văn hóa phi vật thể do UNESCO công nhận. Với hơn 300 làn điệu được gìn giữ và lưu truyền qua nhiều thế hệ, Quan họ Bắc Ninh mang đậm bản sắc văn hóa vùng Kinh Bắc. Những làng Quan họ nổi tiếng như Viêm Xá (làng Diềm), Thị Cầu, Đào Xá, Bò Sơn, Y Na, Thị Chung chính là cái nôi của nghệ thuật Quan họ. Đặc biệt, ngoài Hội Lim mỗi làng Quan họ đều có lễ hội riêng cũng là nơi thi tài nghệ thuật ca hát đối đáp trong sinh hoạt Quan họ mỗi ngày, mang đến không gian đậm đà bản sắc dân tộc.

Hội Lim, Hội Đền Đô, Tranh Đông Hồ những nét văn hóa vùng Kinh Bắc
Đền Đô tên chữ là Cổ Pháp điện, còn được gọi là Đền Lý Bát Đế, là một quần thể kiến trúc tín ngưỡng thờ tám vị vua đầu tiên của nhà Lý. Nơi đây cùng với khu lăng mộ các Vua nhà Lý đã được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt.
Đình Đình Bảng tên Nôm là đình Báng được xây dựng vào đầu thế kỷ 18. Đình Đình Bảng là một trong những ngôi đình có kiến trúc đẹp nhất còn tồn tại đến ngày hôm nay.
Chùa Dâu còn có tên là Diên Ứng, Pháp Vân, hay Cổ Châu,..Đây là trung tâm Phật giáo cổ xưa nhất của Việt Nam. Là ngôi chùa được coi là có lịch sử hình thành sớm nhất Việt Nam mặc dù các dấu tích vật chất không còn, nó đã được xây dựng lại. Chùa là một danh lam bậc nhất của xứ kinh Bắc xưa nay. Chùa Dâu được xem là ngôi chùa cổ nhất Việt Nam.
Chùa Phật Tích (Phật Tích tự) còn gọi là chùa Vạn Phúc (Vạn Phúc tự) là một ngôi cổ tự nghìn năm tuổi nằm ở sườn phía Nam núi Phật Tích. Chùa nằm trong 62 Di tích quốc gia đặc biệt của Việt Nam
Chùa Bút Tháp tên chữ là Ninh Phúc tự, được biết đến là một trong những danh lam cổ tự đẹp nhất ở vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ, vẫn bảo tồn được tương đối nguyên vẹn cho đến ngày nay. Trong chùa còn lưu giữ được rất nhiều cổ vật và tượng Phật giáo.
Những địa danh nổi tiếng khác: Đền thờ Kinh Dương Vương; Thành cổ Luy Lâu; Thành cổ Bắc Ninh; Văn miếu Bắc Ninh; Chùa Tiêu; Đền Bà Chúa Kho; Đền Cùng – Giếng Ngọc; Khu di tích Lệ Chi Viên; Làng tranh Đông Hồ; Làng gốm Phù Lãng; Làng nghề đúc đồng Đại Bái…
Tây Yên Tử – Bắc Giang Khu tâm linh Tây Yên Tử vùng Sơn Động, gồm chùa Trình, chùa Hạ (chùa Phật Quang), chùa Trung và chùa Thượng (chùa Kim Quy), kết nối với chùa Đồng, tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông trên đỉnh Yên Tử. Cùng các di tích nổi tiếng như chùa Vĩnh Nghiêm, thiền viện Trúc Lâm Phượng Hoàng, chùa Bổ Đà, chùa Am Vãi, quần thể này nối với nhau dọc theo đường tỉnh 293 tạo nên tuyến du lịch tâm linh nổi tiếng ở vùng Bắc Giang.
Chùa Vĩnh Nghiêm Chùa nằm trong một khuôn viên rộng, xung quanh là rừng tre. Không chỉ là nơi thờ Phật, chùa Vĩnh Nghiêm còn thờ Trúc Lâm Tam Tổ ở đời nhà Trần. Hiện chùa lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị như tượng phật, đồ thờ, bia đá. Đây cũng là địa điểm nổi tiếng, thu hút khách du lịch tìm đến tham quan.
Chùa Bổ Đà Chùa Bổ Đà tọa lạc trên núi Phượng Hoàng (Bổ Đà sơn), vùng Việt Yên. Khuôn viên chùa có vườn tháp được đánh giá là đẹp và lớn nhất Việt Nam, nơi yên nghỉ của hơn 2.000 vị tăng ni. Chùa vẫn giữ nguyên nét kiến trúc truyền thống Việt cổ, khác biệt so với các ngôi chùa truyền thống ở miền Bắc.

Cây gạo hơn 100 tuổi nổi tiếng ở Bắc Giang. Ảnh: Trần Văn Tuấn
Các Điểm du lịch nổi tiếng khác vùng Bắc Giang Thành cổ Xương Giang; Chùa Vẽ; Thiền viện Trúc Lâm Phượng Hoàng; chùa Am Vãi; Đồi dứa Bảo Sơn; Cây gạo cổ Lãng Sơn; Làng và đình Thổ Hà – không gian làng quê Bắc Bộ thuần Việt; Cao nguyên Đồng Cao; Thác Ba Tia; Suối Mỡ; Đồng Thông Tuấn Mậu; Rừng nguyên sinh Khe Rỗ – vẻ đẹp hoang sơ, sự hùng vĩ của thiên nhiên núi rừng. Hay Hồ Cấm Sơn – nguồn cảm hứng cho cố nhạc sĩ Phó Đức Phương sáng tác ca khúc “Hồ trên núi”.
6. Du lịch Hưng Yên
Đền Chử Đồng Tử – Một trong tứ bất tử của Việt Nam Đền Chử Đồng Tử là một công trình lịch sử nổi tiếng tại Khoái Châu, Hưng Yên. Các hoạt động văn hoá tại đây rất phong phú. Trong đó, lễ hội Chử Đồng Tử diễn ra từ ngày 10 đến 12 tháng 2 Âm lịch là một trong 16 lễ hội lớn nhất Việt Nam.

Lễ hội đền Chử Đồng Tử Tiên Dung
Phố Hiến – Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến Khu di tích quốc gia đặc biệt – Phố Hiến nằm trong lòng thành phố Hưng Yên, là một điểm đến tuyệt vời cho những ai yêu thích khám phá văn hoá và lịch sử Việt Nam. Nơi đây là biểu tượng cho sự đa dạng và hòa quyện giữa nền văn hoá đặc trưng của Việt Nam, Trung Hoa và phong cách kiến trúc phương Tây. Quần thể di tích Phố Hiến bao gồm 16 di tích nổi bật, tiêu biểu có thể kể đến như chùa Chuông, Văn Miếu Xích Đằng, Đền Mẫu…
Làng Nôm Có ba giếng cổ tuổi đời hàng nghìn năm. Ba giếng cổ không chỉ nổi bật với những hàng gạch và phiến đá cổ nguyên khối mà còn là nguồn nước tinh khiết, quý giá cho cả làng. Đặc biệt còn có Chùa Nôm, hay còn gọi là Linh Thông Cổ Tự, là nơi linh thiêng với hơn 100 bức tượng cổ được làm từ đất nung. Những bức tượng này là những tác phẩm nghệ thuật có giá trị lịch sử và văn hoá dân tộc, thể hiện sự khéo léo và tinh tế của người nghệ nhân xưa.
Làng Thủ Sỹ – Làng nghề đan đó hơn 200 năm tuổi, Làng nghề Thủ Sỹ nổi tiếng với hình ảnh đậm chất truyền thống làng quê Bắc Bộ với những ngôi nhà mái ngói đỏ, nếp nhà ba gian cổ kính và những luỹ tre xanh.
Làng nghề Tương Bần Yên Nhân – Nơi gìn giữ tinh hoa ẩm thực với truyền thống làm nghề tương tồn tại hàng trăm năm được bảo tồn từ đời này sang đời khác, nổi tiếng với hương vị đậm đà, thơm ngon.
Mega Grand World Quần thể vui chơi phức hợp nằm ở khu trung tâm mới, hiện đại của tỉnh, liền Hà Nội. Đây là điểm đến được xây dựng theo phong cách cổ điển châu Âu, mang đến cho du khách trải nghiệm như đang lạc vào thành phố Venice thơ mộng. Dãy phố với những ngôi nhà rực rỡ sắc màu và dòng kênh đào yên ả tạo nên không khí lãng mạn. Cuối dòng Venice là cầu đi bộ Đông Tây nối liền với phân khu K-Town, nơi du khách có thể tận hưởng không khí sôi động của khu mua sắm và chiêm ngưỡng văn hoá Hàn Quốc cực “swag”.

Quần thể Mega Grand World, Show diễn The Grand Voyage đầy ấn tượng Ảnh: Vinhomes
Những địa danh du lịch nổi tiếng khác: Chùa Phúc Lâm – “Chùa Vàng” của Việt Nam; Làng hương Cao Thôn – Lưu giữ nét đẹp tín ngưỡng; Chùa Hương Lãng – Chứng nhân lịch sử nghệ thuật thời Lý; Cánh đồng hoa Cúc Chi – Rực rỡ một góc trời,…
Đền Đồng Bằng – Thái Bình thuộc An Lễ, Quỳnh Phụ được biết đến là ngôi đền linh thiêng đã được xây dựng từ thời vua Hùng Vương thứ 18. Ngôi đền này nhận được sắc phong “Tam Kỳ Linh Ứng – Vĩnh Công Đại Vương Tối Thượng Đẳng Linh Thần”. Đến nay, Đền Đồng Bằng đã trở thành điểm du lịch nổi tiếng bậc nhất tại Thái Bình.
Chùa Keo Thái Bình Chùa Keo một địa điểm tâm linh nổi tiếng tại Thái Bình, đây là một trong những ngôi chùa cổ tại Thái Bình có tuổi đời nên đến 400 năm. Đến nay ngôi chùa vẫn giữ được nét đẹp nguyên vẹn kiến trúc cổ kính phong cách đặc trưng của ngôi chùa Việt. Chùa Keo được biết là một công trình chùa cổ lớn tại Việt Nam.
Đền Trần Thái Bình mang nét kiến trúc đặc sắc. Vào dịp đầu năm đền Trần đón đông đảo du khách đến tham quan, chiêm bái, lễ hội với nhiều những trò chơi dân gian mang bản sắc dân tộc.
Nhà thờ Bác Trạch Thái Bình Nhà thờ Bác Trạch là một trong những địa điểm du lịch Thái Bình nổi bật, thu hút du khách không chỉ bởi giá trị lịch sử mà còn vì vẻ đẹp kiến trúc độc đáo.
Nhà thờ chính tòa Thái Bình Nhà thờ không chỉ là nơi thu hút người theo đạo đến để tham gia các hoạt động mà nơi đây còn được biết tới là một trong những nhà thờ có lối kiến trúc đẹp và độc đáo nhất tại Việt Nam. Với vẻ đẹp vừa hiện đại vừa cổ kính, mang đậm phong cách kiến trúc của phương Tây (Gothic) và Phương Đông, nhà thờ có sự hấp dẫn riêng và là lựa chọn du lịch của rất nhiều du khách khi đến Thái Bình.
Biển vô cực Thái Bình hay còn được biết đến là biển Quang Lang, bãi biển khác biệt so với những địa điểm khác. Khi đặt chân đến đây ai cũng phải ngạc nhiên trước vẻ đẹp bình yên mang lại, biển vô cực được nhiều du khách yêu thích mang nét đẹp hoang sơ, như một tấm gương khổng lồ phản chiếu bầu trời. Khoảng thời gian đẹp nhất là vào tháng 7 – 10 thời tiết mát mẻ, dễ chịu, thư giãn.

Biển Vô Cực kỳ ảo với đường chân trời hòa vào sóng nước. Biển Đồng Châu, với vẻ đẹp mộc mạc, làng chài yên bình.
Những điểm du lịch khác: Khu di tích A Sào; Đền thờ Chúa Muối; Biển Cồn Vành, Đồng Châu, Cồn Đen; Làng nghề mây tre đan Thượng Hiền, bánh cáy Nguyên Xá; chiếu hới Hải Triều, Đúc Đồng An Lộc; Làng vườn Bách Thuận…
Đồng bằng Bắc Bộ, là một vùng đất giàu văn hóa và lịch sử với nhiều địa điểm du lịch hấp dẫn, nổi bật với các di tích lịch sử, cảnh quan thiên nhiên đa dạng và ẩm thực phong phú.
KPVN Tổng hợp
Khám Phá Các Tỉnh Thuộc Vùng Châu Thổ Sông Hồng
