XỨ HUẾ – VÙNG BẮC TRUNG BỘ

Huế từng là kinh đô của nhiều đời vua, chúa. Dù đã trải qua bao thăng trầm của thời gian cùng với những biến chuyển của lịch sử, Huế vẫn bảo lưu được những công trình kiến trúc cổ, những tác phẩm nghệ thuật tuyệt mỹ, vừa biểu trưng cho trí tuệ và tâm hồn của dân tộc Việt, đồng thời cũng mang lại những giá trị đặc biệt về lịch sử và văn hóa của cố đô.

Giới thiệu Về Huế

Nằm ở dải đất hẹp của miền Trung Việt Nam, đa dạng về cảnh quan thiên nhiên và có bề dày truyền thống lịch sử – văn hoá, Huế thực sự là một thành phố đẹp và là nơi lý tưởng để du lịch. Ngày nay, Huế được biết đến là thành phố Festival của Việt Nam, với thường kỳ hai năm một lần. Thành phố Huế có cả vùng gò đồi và vùng đồng bằng. Là trung tâm khoa học kỹ thuật và đào tạo của miền Trung, trung tâm văn hoá du lịch Việt Nam. Đặc biệt Huế có dòng sông Hương đi qua giữa thành phố và nhiều sông nhỏ: An Cựu, An Hoà, Bạch Đằng, Bạch Yến tạo ra sự hấp dẫn của thiên nhiên. 

Toàn cảnh Hoàng Thành Huế, nhìn về phía Nam

Sông Hương – núi Ngự được coi là biểu tượng cho thiên nhiên thơ mộng xứ Huế. Bên cạnh đó, tiềm năng nổi bật của Huế còn được thể hiện trong 300 công trình kiến trúc nghệ thuật được UNESCO công nhận là di sản văn hoá nhân loại. Đó là, hệ thống thành quách, cung điện, lăng tẩm của các vua nhà Nguyễn, các kiến trúc cung đình, kiến trúc dân gian, chùa chiền, miếu mạo, phủ đệ, hệ thống nhà vườn… Chương trình biểu diễn Nhã nhạc cung đình Huế được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể thế giới, góp phần đem lại niềm tự hào cho người dân xứ Huế. Với di sản văn hoá thế giới, với cảnh quan thiên nhiên, với nhiều di tích lịch sử, các sản phẩm đặc sản, nhất là nhà vườn là một nét độc đáo tiêu biểu của Huế như: nhà vườn An Hiên, Lạc Tịnh Viên, nhà vườn Ngọc Sơn Công Chúa, Tỳ Bà Trang, Tịnh Gia Viên… cùng với hệ thống khách sạn, nhà hàng, các dịch vụ phục vụ khác, thành phố đã và đang trở thành một trung tâm du lịch rất hấp dẫn khách du lịch đến Huế.

I. Huế Ở Đâu

1. Vị trí địa lý Thành phố Huế nằm ở dải đất ven biển miền Trung Việt Nam, thuộc Bắc Trung Bộ, bao gồm phần đất liền và phần lãnh hải thuộc thềm lục địa biển Đông, có vị trí địa lý: Phía Đông tiếp giáp với biển Đông, Phía tây giáp tỉnh Salavan và tỉnh Sekong, Lào, Phía nam giáp thành phố Đà Nẵng, Phía bắc giáp tỉnh Quảng Trị. Huế nằm trên trục giao thông quan trọng xuyên Bắc – Nam, trục hành lang Đông – Tây nối Thái Lan – Lào – Việt Nam theo đường 9. Huế ở vào vị trí trung độ của cả nước, nằm giữa thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là hai trung tâm lớn nhất nước ta. Thành phố Huế cách Hà Nội 660 km về phía Nam, cách Thành phố Hồ Chí Minh 1.000 km và thành phố Đà Nẵng 94 km về phía Bắc với ranh giới tự nhiên là dãy núi Bạch Mã. Bờ biển của Huế dài 120km, có cảng Thuận An cách trung tâm 12km và cảng nước sâu Chân Mây với độ sâu 18–20m, có Sân bay quốc tế Phú Bài nằm ngoài trung tâm 18km theo đường Quốc lộ 1 và đường sắt xuyên Việt chạy dọc theo thành phố.

Bản đồ vị trí địa lý du lịch Huế. Ảnh: TTXVN

2. Địa hình Khu vực phía tây của thành phố nằm trên dãy núi Trường Sơn. Những ngọn núi đáng kể là: núi Động Ngai cao 1.774 m, Động Truồi cao 1.154 m, Co A Nong cao 1.228 m, Bol Droui cao 1.438 m, Tro Linh cao 1.207 m, Hói cao 1.166 m – nằm giữa ranh giới với Đà Nẵng, Cóc Bai cao 787 m, Bạch Mã cao 1.444 m, Mang cao 1.708 m, Động Chúc Mao 514 m, Động A Tây 919 m. Sông ngòi thường ngắn nhưng lại lớn về phía hạ lưu. Những sông chính là Hương Giang, Ô Lâu, Rào Trăng, Rào Lau, Rào Mai, Tả Trạch, Hữu Trạch, An Cựu, An Nong, Nước Ngọt, Lăng Cô, Bồ, Rau Bình Điền, Đá Bạc, Vân Xá, Sông Truồi,… Đặc biệt có Hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai rộng lớn nhất Đông Nam Á. Và hai cửa biển quan trọng là cửa Thuận An và cửa Tư Hiền.

3. Khí hậuHuế

Khí hậu Huế với kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa, những tháng đầu năm có nắng ấm, cuối năm mưa kéo dài. Khí hậu có 2 mùa chính:

Mùa nóng: từ tháng 5 đến tháng 9, nắng nóng lên đến đỉnh điểm với nhiệt độ khá cao từ 35 đến 40°C, chịu ảnh hưởng gió phơn tây nam.

Mùa lạnh: kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, chịu ảnh hưởng gió mùa đông bắc nên mưa nhiều, trong khoảng thời gian này sẽ xuất hiện lũ lụt vào khoảng tháng 9 – 11. Nhiệt độ trung bình về mùa lạnh ở vùng đồng bằng là 20°C – 22°C.

Chế độ mưa ở Huế lớn, tập trung từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau. Mùa mưa ở Huế lệch với hai miền Nam – bắc, khi 2 miền này mưa thì Huế nắng nóng và ngược lại. Đặc điểm mưa ở Huế là mưa không đều, lượng mưa tăng dần từ Đông sang Tây, từ Bắc vào Nam và tập trung vào một số tháng với cường độ mưa lớn do đó dễ gây lũ lụt, xói lở.

II. Du lịch Huế mùa nào đẹp

Điện Thái Hòa trong Hoàng Cung, nơi đăng quang của các vị vua Triều Nguyễn.

Mùa du lịch Huế từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau, đẹp nhất là 3-4 tháng đầu năm, tiết trời mát mẻ. Với những du khách yêu núi, biển, thích ngắm bình minh và hoàng hôn, thời điểm nên đi là tháng 6-8 khi mặt trời đẹp nhất trong năm, nước biển xanh nhất.

Huế không hẳn có mùa khô, mà chỉ có mùa mưa và mùa ít mưa. Mùa ít mưa thường kéo dài từ tháng 3 đến tháng 8, trời nóng nực và oi bức. Khoảng tháng 9 đến đầu tháng 2 năm sau là mùa mưa, trời lạnh. Đặc biệt, từ tháng 10 đến tháng 11 cũng chính là mùa bão, mưa to tưởng như không dứt.

Mùa xuân kéo dài từ cuối tháng 1 đến tháng 3, thời tiết lúc này rất đẹp, trời có nắng nhẹ, đôi khi se se lạnh. Từ tháng 4 đến tháng 7, mùa hè nắng nóng. Huế cũng là địa điểm du lịch lý tưởng với những du khách yêu thích biển. Cố đô vào hè có sắc vàng của hoa điệp, hồng của muồng hoa đào; sắc tím của bằng lăng… Tháng 8, thành phố vào thu, mùa đẹp nhất trong năm.

III. Đi đến Huế bằng gì

Bạn có thể di chuyển đến Huế bằng xe khách, tàu hỏa và máy bay.

Xe khách Huế nằm trên trục quốc lộ Bắc – Nam nên có vô vàn hãng xe uy tín cho bạn thỏa thích lựa chọn. Di chuyển bằng xe khách được ưa chuộng vì tính tiện lợi và an toàn. Hiện nay, xe khách đi Huế đường dài đều được trang bị giường nằm cùng các tiện ích bổ sung khác giúp hàng khách thoải mái, thư giãn nhất trong quá trình di chuyển.

Tàu hoả Tuy không phải là ưu tiên hàng đầu nhưng tàu hỏa vẫn luôn là phương tiện di chuyển khi du lịch Huế được nhiều người lựa chọn. Bạn có thể đặt vé tàu hỏa đi Huế online hay mua trực tiếp tại quầy bán vé tại các ga tàu. Khi mua vé, bạn cần lưu ý một số thông tin như kí hiệu tàu là SE hay TN. SE là tàu nhanh, di chuyển trong vòng 29-33 tiếng, còn tàu chậm được ký hiệu là TN di chuyển trong vòng 36-40 tiếng. Bạn cũng cần chú ý số hiệu tàu để tránh nhầm lẫn nhé! Số hiệu tàu chẵn (ví dụ: SE2, SE4, ..) là tàu đi từ Nam ra Bắc, còn từ Bắc vào Nam, tàu mang số hiệu lẻ (ví dụ: SE7, TN1, …)

Di chuyển đến Huế bằng tàu hỏa

Máy bay Máy bay là phương tiện di chuyển khi du lịch Huế an toàn và nhanh chóng nhất. Hiện tại, các hãng hàng không như Vietnam Airlines, Vietjet Air,… đều khai thác các chặng đến sân bay Phú Bài – Huế xuất phát từ các điểm khác nhau như: Hồ Chí Minh – Huế; Hà Nội – Huế,…

Phương tiện di chuyển tại Huế Khi đến Huế, bạn có thể di chuyển bằng các phương tiện như sau:

Xe bus Xe bus là phương tiện di chuyển khi du lịch Huế rất được ưa chuộng vì giá vé rẻ. Thành phố Huế đã cho khai thác 2 tuyến xe bus chạy từ sân bay Phú Bài về trung tâm thành phố là tuyến số 2 và tuyến số 11 với tần suất 30 – 60 phút một chuyến. Bạn có thể bắt xe bus tại ngã ba sân bay Phú Bài, bạn có thể hỏi thêm nhân viên hay người dân ở đó. Ngoài ra, trung tâm thành phố Huế cũng khai thác nhiều tuyến xe bus khác để phục vụ nhu cầu đi lại của người dân địa phương và du khách.

Taxi Phương tiện di chuyển khi du lịch Huế tiếp theo chính là taxi. Taxi là sự lựa chọn lý tưởng nếu bạn đi theo nhóm đông, có trẻ nhỏ hoặc người lớn tuổi đi cùng. Đặc biệt, di chuyển bằng taxi sẽ tiết kiệm thời gian hơn xe bus vì bạn không phải chờ xe dừng đón khách. Taxi cũng giúp bạn tránh khỏi các tác nhân như mưa gió, nắng gắt, … trong những ngày thời tiết xấu.

Xe máy Theo kinh nghiệm du lịch Huế, với những bạn trẻ ưa khám phá phương tiện di chuyển tại Huế phổ biến hơn cả vẫn là xe máy. Ưu điểm của xe máy là tiện lợi, tiết kiệm chi phí và giúp bạn chủ động hơn trong lịch trình của mình. Tại Huế có nhiều cửa hàng uy tín cho thuê xe máy với đa dạng loại xe như xe số, xe ga, …

Thuyền rồng Ngoài ra, khi đến Huế, nếu muốn khám phá vẻ đẹp của sông Hương và nghe ca Huế, bạn nhất định phải sử dụng thuyền rồng. Thuyền đơn có thể chở tối đa 15 khách, còn thuyền đôi là 35 khách. Với thiết kế đặc biệt cùng các tiện ích đầy đủ kèm theo, thưởng ngoạn trên thuyền rồng chắc chắn sẽ đem đến cho bạn những trải nghiệm khó quên.

Ngồi thuyền rồng trên sông Hương ngắm vẻ đẹp lãng mạn của Huế về đêm.

Xe điện Huế Ngoài ra tại Huế cũng cung cấp xe điện để phục vụ nhu cầu đi lại tham quan của du khách. Xe điện Huế hoạt động tại nhiều khu vực và rất được ưa chuộng sử dụng vì di chuyển an toàn và nhanh chóng. Đặc biệt các bác tài xế ở đây hầu hết là người địa phương rất thân thiện và mến khách, có thể tư vấn cho bạn về các địa điểm vui chơi, tham quan, ăn uống,…

Một số tuyến điểm xe điện Huế đó là: Bến xe Nguyễn Hoàng – cửa Ngọ Môn; Đại Nội – Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế; Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế – Bến xe Nguyễn Hoàng.

Đi du lịch Huế theo Tour du lịch đây là cách đi du lịch phổ biến và an toàn nhất, khách du lịch nên áp dụng, đặc biệt là khi đi theo đoàn. Nếu đi du lịch theo Tour, xuất phát từ Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh hoặc bất cứ đâu, giá Tour sẽ tùy theo điểm xuất phát và số ngày bạn tham quan du lịch.

IV. Lịch sử về Huế

Vùng đất Thuận Hóa – Phú Xuân

Thuận Hóa – Phú Xuân – Huế là vùng đất có lịch sử lâu đời. Những phát hiện khảo cổ học gần đây cho thấy rõ dấu vết của người xưa trên mảnh đất này. Những di vật như rìu đá, đồ gốm được tìm thấy ở Phụ Ổ, Bàu Đưng cho phép khẳng định đây là các di tích có niên đại cách đây trên dưới 4.000 năm. Những chiếc rìu đá được phát hiện trên nhiều địa bàn khác nhau, đặc biệt tại các xã (cũ) Hồng Bắc, Hồng Vân, Hồng Hạ, Hồng Thủy, Bắc Sơn (A Lưới); Phong Thu (Phong Điền) đã chứng minh sự có mặt của con người ở vùng đất này trên dưới 5.000 năm. Di tích khảo cổ quan trọng gắn liền với nền văn hóa Sa Huỳnh được tìm thấy lần đầu tiên tại Thừa Thiên – Huế năm 1987 là di tích Cồn Ràng (Phụ Ổ, Hương Chữ, Hương Trà) nói lên rằng chủ nhân của nền văn hóa này đã đạt đến trình độ cao trong đời sống vật chất lẫn tinh thần cách đây trên dưới 2.500 năm. Dấu ấn này còn được tìm thấy ở Cửa Thiềng năm 1988 (Phú Ốc, Tứ Hạ, Hương Trà). Cùng với văn hóa Sa Huỳnh, tại Thừa Thiên – Huế còn có sự hiện diện của văn hóa Đông Sơn. Năm 1994, trống đồng loại một đã được phát hiện ở Phong Mỹ, Phong Điền. Đây là một trong những di vật độc đáo của nền văn hóa Việt cổ.

Cửa sông Đông Ba – Huế đầu thế kỷ 19. Ảnh: Tư liệu

Các cứ liệu xưa cho biết, từ xa xưa, Thừa Thiên – Huế từng là địa bàn giao tiếp của những cộng đồng cư dân mang nhiều sắc thái văn hóa khác nhau, cùng cư trú và cùng phát triển. Trong thời kỳ phát triển của Văn Lang – Âu Lạc, tương truyền Thừa Thiên – Huế vốn là một vùng đất của bộ Việt Thường. Trong thời kỳ nước Nam Việt lại thuộc về Tượng Quận. Năm 116 TCN, quận Nhật Nam ra đời thay thế cho Tượng Quận. Thời kỳ Bắc thuộc, trong suốt thời gian dài gần 12 thế kỷ, vùng đất này là địa đầu phía Bắc của Vương quốc Chămpa độc lập. Sau chiến thắng Bạch Đằng lịch sử của Ngô Quyền (năm 938), Đại Việt trở thành quốc gia độc lập và qua nhiều thế kỷ phát triển, biên giới Đại Việt đã mở rộng dần về phía Nam. Năm 1306, công chúa Huyền Trân, em gái vua Trần Anh Tông, “nước non ngàn dặm ra đi” làm dâu vương quốc Chămpa, vua Chế Mân dâng hai châu Ô, Rí (Lý) để làm sính lễ. Năm sau, vua Trần đổi hai châu này thành châu Thuận, châu Hóa và đặt chức quan cai trị. Thừa Thiên – Huế trở thành địa bàn giao thoa giữa hai nền văn hóa lớn của phương Đông, với nền văn hóa của các cư dân bản địa.

Từ khi trở thành một phần của Đại Việt, Châu Hóa và vùng đất Thuận Hóa đã từng là nơi ghi dấu những công cuộc khai phá mở làng, lập ấp, nơi Đặng Tất xây dựng đồn lũy chống quân Minh, nơi cung cấp “kho tinh binh” cho Lê Thái Tổ bình định giang sơn. Với lời sấm truyền “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân” (một dải Hoành sơn, có thể yên thân muôn đời) năm 1558, Nguyễn Hoàng xin vào trấn giữ xứ Thuận Hoá mở đầu cho cơ nghiệp của các chúa Nguyễn. Sự nghiệp mở mang của 9 đời chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã gắn liền với quá trình phát triển của vùng đất Thuận Hóa – Phú Xuân. Hơn 3 thế kỷ từ khi trở về với Đại Việt, Thuận Hóa là vùng đất của trận mạc, ít có thời gian hòa bình nên chưa có điều kiện hình thành được những trung tâm sinh hoạt sầm uất theo kiểu đô thị. Sự ra đời của thành Hóa Châu (khoảng cuối TK 15, đầu 16) có lẽ chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn với tư cách là một tòa thành phòng thủ chứ chưa phải là nơi sinh hoạt đô thị của xứ Thuận Hóa thời ấy. Mãi cho đến năm 1636, chúa Nguyễn Phúc Lan dời phủ đến Kim Long là bước khởi đầu cho quá trình đô thị hóa trong lịch sử hình thành và phát triển của thành phố Huế sau này.

Hơn nửa thế kỷ sau, năm 1687, chúa Nguyễn Phúc Thái lại dời phủ chính đến làng Thụy Lôi, đổi là Phú Xuân, ở vị trí Tây Nam trong kinh thành Huế hiện nay, tiếp tục xây dựng và phát triển Phú Xuân thành một trung tâm đô thị phát đạt của xứ Đàng Trong. Chỉ trừ một thời gian ngắn (1712–1738) phủ chúa dời ra Bác Vọng, song khi Võ Vương lên ngôi lại cho dời phủ chính vào Phú Xuân nhưng dựng ở “bên tả phủ cũ”, tức góc Đông Nam của Kinh thành Huế hiện nay.

Sự nguy nga bề thế của Đô thành Phú Xuân dưới thời Nguyễn Phúc Khoát đã được Lê Quý Đôn mô tả trong Phủ biên tạp lục năm 1776 và trong Đại Nam nhất thống chí, với tư cách là một đô thị phát triển thịnh vượng trải dài hai bờ châu thổ Sông Hương, từ Kim Long – Dương Xuân đến Bao Vinh – Thanh Hà. Phú Xuân là thủ phủ của xứ Đàng Trong (1687–1774); rồi trở thành Kinh đô của nước Đại Việt thống nhất dưới triều đại Quang Trung (1788–1801) và cuối cùng là Kinh đô của nước Việt Nam gần hai thế kỷ dưới triều đại nhà Nguyễn (1802–1945). Phú Xuân đã trở thành trung tâm chính trị – kinh tế – văn hóa quan trọng của đất nước từ những thời kỳ đó.

Triều Nguyễn

Năm Tân Dậu 1801, Nguyễn Ánh lấy lại được Phú Xuân từ nhà Tây Sơn, ông cho tách ba huyện Hương Trà, Quảng Điền và Phú Vang thuộc phủ Triệu Phong đặt làm dinh Quảng Đức. Năm Gia Long thứ năm (1806), Quảng Đức và Quảng Trị được đặt làm dinh trực lệ. Đến năm 1822, vua Minh Mạng đổi dinh Quảng Đức thành phủ Thừa Thiên, địa danh Thừa Thiên có từ đây. Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), tách một số tổng của ba huyện Hương Trà, Phú Vang và Quảng Điền để lập thêm ba huyện Hương Thủy, Phú Lộc và Phong Điền.

Hoàng Thành Huế lung linh về đêm.

Năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh (sau này là Hoàng đế Gia Long) đã thành công trong việc thiết lập việc kiểm soát của mình trên toàn bộ lãnh thổ của Việt Nam. Ông đặt Phú Xuân làm Kinh thành, đồng thời đặt dinh Quảng Đức làm vùng phụ cận bao bọc Kinh thành. Sau khi Minh Mạng lên ngôi, đã đổi dinh Quảng Đức thành phủ Thừa Thiên. Trong đợt cải cách hành chính 1831-1832, các đơn vị hành chính lớn như dinh, trấn được đổi thành tỉnh, trực thuộc thẳng triều đình. Riêng phủ Thừa Thiên do có vị trí kinh sư nên vẫn giữ cấp phủ, nhưng có địa vị ngang cấp tỉnh.

Năm Tự Đức thứ 6 (1853), tỉnh Quảng Trị hạ xuống thành đạo Quảng Trị thuộc phủ Thừa Thiên. Tuy nhiên đến năm 1876, tỉnh Quảng Trị lại được tái lập. Cho đến thời kỳ đầu Pháp thuộc, “Huế” là một tên gọi dân gian để chỉ Kinh thành.

Ngày 20 tháng 10 năm 1898, vua Thành Thái ban hành dụ thành lập thị xã Huế. Dụ này được Toàn quyền Đông Dương chuẩn y vào ngày 30 tháng 8 năm 1899. Từ đó, địa danh Huế trở thành địa danh chính thức cho đến tận ngày nay.

Cho đến năm 1902, bộ máy quản lý thị xã Huế gồm Công sứ Thừa Thiên Le Marchant de Trigon, kế toán Dejoux, thư ký kế toán Vanez

Những năm sau đó, thị xã Huế có ba lần mở rộng ranh giới về phía Nam sông Hương theo các Dụ năm 1903 của vua Thành Thái, năm 1908 của vua Duy Tân và năm 1921 của vua Khải Định. Bấy giờ, thị xã Huế được phân làm 9 phường gồm Đệ Nhất đến Đệ Cửu. Mặc dù vậy, việc phân chia này chỉ trên danh nghĩa, vì các phần đất đai và dân cư ngoài kinh thành Huế vốn thuộc địa phận làng nào của huyện Hương Trà, Hương Thủy thì đều do các huyện ấy cai quản.

Năm 1929, cựu Khâm sứ Trung Kỳ, Toàn quyền Đông Dương quyết định công nhận thị xã Huế là thành phố đô thị loại 3. Đồng thời xác lập bộ máy hành chính của thành phố, đứng đầu là một viên Đốc lý do Công sứ Pháp ở phủ Thừa Thiên kiêm nhiệm. Ngoài ra còn có một Hội đồng thành phố được thành lập, cũng do viên Đốc lý người Pháp làm Chủ tịch.

Bên trong điện Thái Hòa, nơi các vua triều Nguyễn thiết triều. Ảnh: Vnexpress

Năm 1933, Bảo Đại ra Sắc lệnh số 41, chuẩn y việc chỉnh đốn công tác quản lý và điều hành thành phố Huế. Chức danh đứng đầu thành phố gọi là Bang tá, ngang hàng Tri huyện trong phẩm hàm quan lại người Việt, nhưng trên thực tế, mọi việc vẫn phụ thuộc vào viên đốc lý là Công sứ Pháp ở Thừa Thiên.

Kể từ năm 1935, thành phố Huế mới chính thức trở thành đơn vị hành chính độc lập, không còn tình trạng nhập nhằng địa giới xen với các huyện Hương Trà, Hương Thủy, phần đất nào thuộc các phường thì sáp nhập hẳn vào thành phố quản lý. Vào thời điểm đó, trong Thành nội tức khu vực kinh thành (trừ Đại nội) gồm có 10 phường, ngoài kinh thành và nam sông Hương có 11 phường, tổng cộng thành phố Huế có 21 phường.

Như vậy, kể từ năm 1929 đến 1945, vùng đất Thừa Thiên – Huế cùng một lúc có ba tổ chức hành chính gồm Kinh sư do Đề đốc Kinh thành của triều đình trông coi, phủ Thừa Thiên có Phủ doãn cai quản và thành phố Huế đứng đầu là Đốc lý thành phố do Công sứ Pháp ở Thừa Thiên kiêm nhiệm. Trên thực tế, trừ khu vực Kinh thành, Công sứ Pháp ở Thừa Thiên mới thực sự là người nắm quyền cai trị hành chính trong toàn phủ Thừa Thiên.

Chiến tranh Việt Nam

Năm 1945, lực lượng Việt Minh giành được chính quyền trên cả nước, lập chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đặt thủ đô tại Hà Nội. Hoàng đế cuối cùng của nhà Nguyễn là Bảo Đại tuyên bố thoái vị và trở thành Cố vấn cho chính phủ mới. Từ đó, Huế mất đi địa vị kinh đô. Cố đô Huế trở thành nơi thường diễn ra tranh chấp ác liệt giữa quân đội Pháp và lực lượng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, phủ Thừa Thiên đổi thành tỉnh Thừa Thiên (còn có bí danh là tỉnh Nguyễn Tri Phương), gồm thị xã Thuận Hóa (Huế) và 6 huyện: Hương Thủy, Hương Trà, Phong Điền, Phú Lộc, Phú Vang, Quảng Điền.

Dưới thời Việt Nam Cộng hòa, tỉnh Thừa Thiên ban đầu gồm 9 quận: Phong Điền, Quảng Điền, Hương Điền, Hương Trà, Hương Thủy, Phú Vang, Phú Lộc, Vinh Lộc, Nam Hòa và 3 tổng: Nguồn Hữu, Nguồn Tả, Nguồn Bồ. Đến năm 1965 thành lập thêm quận Phú Thứ trên cơ sở 7 xã phía nam của quận Phú Vang. Thị xã Huế lúc này là đơn vị hành chính độc lập và ngang cấp với tỉnh Thừa Thiên, tuy nhiên tỉnh lỵ Thừa Thiên vẫn đặt tại Huế.

Cờ của Chính phủ cách mạng lâm thời tung bay trên cột cờ thành phố Huế. Ảnh Lâm Hồng Long TTXVN

Thành phố Huế Sau ngày tuyên bố độc lập (ngày 2 tháng 9 năm 1945), Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tiến hành kiện toàn lại bộ máy quản lý nhà nước, sắp xếp lại lại các đơn vị hành chính trong cả nước. Sắc lệnh số 77 ngày 21 tháng 12 năm 1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam quy định Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Vinh, Huế, Đà Nẵng, Đà Lạt, Sài Gòn đều đặt làm thành phố. Thành phố Hà Nội được đặt trực tiếp dưới quyền của Chính phủ Trung ương, còn các thành phố khác đều thuộc quyền của các Kỳ. Ở mỗi thành phố đặt cơ quan Hội đồng nhân dân thành phố, Uỷ ban hành chính thành phố, Uỷ ban hành chính khu phố… Đầu năm 1946, Chính phủ Việt Nam giải tán các cấp hành chính châu, quận, phủ, tổng; thành lập chính quyền bốn cấp từ bộ đến tỉnh – thành phố, huyện, xã (bãi bỏ cấp kỳ, thay vào đó là cấp bộ).

Sau năm 1975

Sau năm 1975, tỉnh Thừa Thiên hợp nhất với hai tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và khu vực Vĩnh Linh thành tỉnh Bình Trị Thiên, với tỉnh lỵ là thành phố Huế. Ngày 30 tháng 6 năm 1989, Quốc hội ban hành nghị quyết chia tách lại tỉnh Bình Trị Thiên thành 3 tỉnh như cũ: Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên – Huế. Tỉnh Thừa Thiên – Huế khi đó chính là tỉnh Thừa Thiên trước đây. Tỉnh Thừa Thiên – Huế có 5 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm thành phố Huế (tỉnh lỵ) và 4 huyện: A Lưới, Hương Điền, Hương Phú, Phú Lộc.

Du khách chụp ảnh tại khu Đại nội Huế (Ảnh: thaomitsstuff)

Ngày 29 tháng 9 năm 1990, điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Huế; chia huyện Hương Phú thành hai huyện Hương Thủy và Phú Vang; chia huyện Hương Điền thành ba huyện Hương Trà, Phong Điền và Quảng Điền; chia huyện Phú Lộc thành hai huyện Phú Lộc và Nam Đông. Ngày 24 tháng 9 năm 1992, thành phố Huế được Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng công nhận là đô thị loại 2 và đến ngày 24 tháng 8 năm 2005 được Thủ tướng Chính phủ công nhận là đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh Thừa Thiên – Huế.

Ngày 9 tháng 2 năm 2010, thành lập thị xã Hương Thủy trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của huyện Hương Thủy. Ngày 15 tháng 11 năm 2011, thành lập thị xã Hương Trà trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của huyện Hương Trà. Cho đến cuối năm 2023, tỉnh Thừa Thiên – Huế có 1 thành phố, 2 thị xã và 6 huyện.

Thành phố trực thuộc trung ương

Vấn đề đưa tỉnh Thừa Thiên – Huế trở thành thành phố trực thuộc trung ương được đề cập lần đầu vào những năm 1990, sau khi chia tách tỉnh Bình Trị Thiên. Thủ tướng Võ Văn Kiệt khi ấy mong muốn tỉnh Thừa Thiên – Huế trở thành thành phố trực thuộc trung ương, trung tâm giáo dục, y tế, văn hóa lớn của cả nước, là đầu tàu của miền Trung. 

Ngày 30 tháng 11 năm 2024: Quốc hội ban hành Nghị quyết số 175/2024/QH15 về việc thành lập thành phố Huế trực thuộc trung ương trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số tỉnh Thừa Thiên – Huế. Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2025. 

V. Văn hóa– Lễ hội Huế

1. Văn hóa

Thuận Hóa – Phú Xuân – Huế có một quá trình lịch sử hình thành và phát triển khoảng 7 thế kỷ (tính từ năm 1306). Trong tiến trình hình thành văn hóa Huế có sự tác động của văn hóa Đông Sơn do các lớp cư dân từ phía Bắc mang vào trước thế kỷ 2. Những cuộc di dân vào Huế của khối cộng đồng người Việt để mở cõi phương Nam theo lệnh các vua nhà Lý (1069), nhà Lê (1306) và đặc biệt là từ năm 1558, chúa Nguyễn và tuỳ tùng đã vào trấn thủ Thuận Hoá, nền văn hiến Châu thổ sông Hồng, những tập tục như thờ cúng, lễ hội, ma chay, đình đám…đã lần lượt tự hình thành và gắn bó với cộng đồng dân cư trên đất Huế.

Đại nội Huế. Ảnh: Sưu tầm

Những năm bôn tẩu đất phương Nam của chúa Nguyễn và hậu duệ, những cư dân phương Nam đã cưu mang và phò tá chúa Nguyễn khôi phục lại cơ đồ, vì thế khi quay về Thuận Hoá lập lại kinh đô, vua Gia Long đã đưa những người này ra Huế để chung hưởng vinh quang. Nền văn hoá phương Nam tuy đến chậm hơn nhưng cũng đã có tác động đến văn hoá Huế. Ngoài ra, chính nơi này, cũng đã từng có cộng đồng cư dân Champa sinh sống, và đã lưu lại sau ngày Chế Mân dâng đất. Sự hỗn dung với thành phần văn hóa Sa Huỳnh đó tạo nên nền văn hóa Việt – Chăm. Trong quá trình phát triển, chuyển biến có ảnh hưởng của các luồng văn hóa khác từ các nước trong khu vực Đông Nam Á, Trung Quốc, Ấn Độ, phương Tây.

Những đặc thù của lịch sử Huế, đặc biệt kể từ khi Huế là kinh đô, là nơi sống của tầng lớp đế vương, nơi hội tụ của những tao nhân mặc khách, công hầu khanh tướng… Văn hóa Huế được tạo nên bởi sự đặc sắc về tinh thần, đa dạng về loại hình, phong phú và độc đáo về nội dung, được thể hiện rất phong phú trên nhiều lĩnh vực như văn học, âm nhạc, sân khấu, mỹ thuật, phong tục tập quán, lễ hội, lề lối ứng xử, ăn – mặc – ở, phong cách giao tiếp, phong cách sống,… Huế còn được gọi là Đất Thần Kinh hay Xứ thơ, là một trong những thành phố được nhắc tới nhiều trong thơ văn và âm nhạc Việt Nam vì nét lãng mạn và thơ mộng.

Hiện nay, Huế là trung tâm văn hoá lớn và đặc sắc của Việt Nam với có 5 danh hiệu UNESCO, đó là Quần thể di tích Cố đô Huế; Nhã nhạc cung đình Huế; Mộc bản triều Nguyễn; Châu bản triều Nguyễn; Hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế.

Ngày hội áo dài Huế.

– Về Trang phục Huế Đó là các thiết kế hiện đại của áo dài, một trang phục truyền thống của người Việt, phát triển từ một bộ trang phục của triều đình Chúa Nguyễn tại Huế ở thế kỷ 18. Trang phục này phát triển thành áo dài ngũ thân, một trong năm loại áo choàng phổ biến của các quý tộc mặc trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Lấy cảm hứng từ thời trang của Paris, Nguyễn Cát Tường và các nghệ sĩ khác đã kết hợp với Trường Đại học Hà Nội thiết kế lại áo dài ngũ thân như là trang phục hiện đại trong những năm 1920 và 1930. Áo dài và nón lá thường được xem như là một biểu tượng của Việt Nam, sự kết hợp giữa áo dài và nón lá được công nhận bởi người Việt là xuất phát từ Huế. Màu tím đặc trưng của áo dài phổ biến ở Huế, màu sắc đặc biệt đó đã làm áo dài trở thành di sản của thành phố, một cố đô.

2. Kiến trúc– Mỹ thuật 

Kiến trúc ở Huế phong phú và đa dạng: có kiến trúc cung đình và kiến trúc dân gian, kiến trúc tôn giáo và kiến trúc đền miếu, kiến trúc truyền thống và kiến trúc hiện đại… Những công trình kiến trúc công phu, đồ sộ nhất chính là Quần thể di tích Cố đô Huế hay Quần thể di tích Huế. Đó là những di tích lịch sử – văn hóa do triều Nguyễn chủ trương xây dựng trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ 20 trên địa bàn kinh đô Huế xưa, nay thuộc phạm vi thành phố Huế và một vài vùng phụ cận.

Một loại hình kiến trúc dân gian độc đáo ở Huế là nhà rường xứ Huế, với những cột, kèo chống hoàn toàn làm từ gỗ, với những nét chạm trổ, vào mộng cực kỳ tinh xảo và khéo léo. Hiện còn khoảng trên dưới 100 nhà rường như thế (chỉ tính riêng nhà ở gia đình, không bào gồm đình làng, nhà thờ họ,…) ở các quận, huyện, thị xã có tuổi đời trên dưới 100 năm, cá biệt có nhà gần 200 năm.

Các công trình kiến trúc Huế có từng đường nét điêu khắc tỉ mỉ và tinh xảo vô cùng.

Về Mỹ Thuật, với những kiểu thức trang trí bắt nguồn từ những mẫu mực của Trung Hoa, các nghệ nhân Việt Nam đã tạo nên một bản sắc nghệ thuật trang trí với những nét độc đáo mang cá tính Huế. Nghệ thuật trang trí mỹ thuật Huế còn tiếp thu những tinh hoa của nghệ thuật Chăm, đặc biệt là tiếp thu nghệ thuật trang trí Tây Phương. Trang trí cung đình Huế còn tiếp nhận và nâng cao nghệ thuật dân gian Việt Nam. Nhiều loại hình thủ công mỹ nghệ truyền thống của Việt Nam như: chạm khắc gỗ, cẩn xà cừ, cẩn tam khí ngũ khí, sơn son thếp vàng, chạm khắc xương và ngọc ngà, khảm sành sứ, làm vàng bạc, dệt, thêu, đan,… đã được các tượng cục triều Nguyễn nâng lên thành những nghệ thuật tinh xảo, sang trọng. Về hội họa nhiều họa sĩ nổi tiếng về tranh thủy mặc sơn thủy, trúc lan, tranh gương, các ấn phẩm nhất thi nhất họa đặc sắc. Đặc biệt, từ Huế xuất hiện người họa sĩ vẽ tranh sơn dầu đầu tiên ở Việt Nam là họa sĩ Lê Văn Miên (1870–1912)… Về điêu khắc, cố đô Huế đã đánh dấu một thời kỳ phát triển mới, thể hiện bằng các tác phẩm điêu khắc trên đá, trên đồng, trên gỗ. Trong điêu khắc gỗ, phần khắc chạm gỗ trang trí với những bức chạm nổi, chạm lộng trên các chi tiết công trình kiến trúc đạt đến sự tinh xảo và có tính thẩm mỹ cao. Về mỹ thuật ứng dụng, ngoài việc nâng cao các loại hình thủ công mỹ nghệ truyền thống của Việt Nam, Huế còn một thời sản xuất đồ mỹ nghệ pháp lam cao cấp.

3. Âm nhạc và nghệ thuật Huế mang đậm nét lịch sử, cổ kính.

Nhã nhạc cung đình Bắt nguồn từ tám loại lễ nhạc cung đình thời Lê là giao nhạc, miếu nhạc, ngũ tự nhạc, cửu nhật nguyệt giao trùng nhạc, đại triều nhạc, thường triều nhạc, đại yến cửu tấu nhạc, cung trung nhạc. Đến triều Nguyễn lễ nhạc cung đình Việt Nam đã phát triển thành hai loại hình Đại nhạc và Nhã nhạc (tiểu nhạc) với một hệ thống các bài bản lớn.

Nhã nhạc cung đình trình diễn cùng múa cung đình.

Vũ khúc cung đình Với trên 15 vở múa lớn, từ múa tế lễ, múa chúc tụng, múa tiếp sứ, múa yến tiệc, múa trình diễn tích tuồng. Nhiều vở múa có tính hoành tráng, quy mô diễn viên đông, phô diễn được vẻ đẹp rộn ràng, lấp lánh và kỹ thuật, kỹ xảo của múa hát cung đình Việt Nam thể hiện được sự phát triển nâng cao múa hát cổ truyền của người Việt.

Ca Huế Ca Huế là một hệ thống bài bản phong phú gồm khoảng 60 tác phẩm thanh nhạc và khí nhạc theo hai điệu thức lớn là điệu Bắc, điệu Nam và một hệ thống “hơi” diễn tả nhiều sắc thái tình cảm đặc trưng. Điệu Bắc gồm những bài ca mang âm điệu tươi tắn, trang trọng. Điệu Nam là những bài âm điệu buồn, nỉ non, ai oán. Bài bản Ca Huế có cấu trúc chặt chẽ, nghiêm ngặt, trải qua quá trình phát triển lâu dài đã trở thành nhạc cổ điển hoàn chỉnh, mang nhiều yếu tố “chuyên nghiệp” bác học về cấu trúc, ca từ và phong cách biểu diễn. Đi liền với ca Huế là dàn nhạc Huế với bộ ngũ tuyệt Tranh, Tỳ, Nhị, Nguyệt, Tam, xen với Bầu, Sáo và bộ gõ trống Huế, sanh loan, sanh tiền.

Thưởng thức ca huế trên sông Hương.

Kỹ thuật đàn và hát Ca Huế đặc biệt tinh tế nhưng Ca Huế lại mang đậm sắc thái địa phương, phát sinh từ tiếng nói, giọng nói của người Huế nên gần gũi với Hò Huế, Lý Huế; là chiếc cầu nối giữa nhạc cung đình và âm nhạc dân gian.

Nghệ thuật tuồng Huế Phát triển sớm từ thế kỷ 17 dưới thời các chúa Nguyễn. Đến triều Nguyễn, tuồng được xem là quốc kịch và triều đình Huế đã tạo điều kiện thuận lợi cho tuồng phát triển. Trong Đại Nội Huế có nhà hát Duyệt Thị Đường, Tĩnh Quang Viện, Thông Minh Đường. Tại Khiêm Lăng, có Minh Khiêm Đường. Thời Minh Mạng đã thành lập Thanh Bình Thự làm nơi dạy diễn viên tuồng. Thời Minh Tự Đức đã thành lập Ban Hiệu Thư chuyên nhuận sắc, chỉnh lý, hiệu đính và sáng tác tuồng.

Các nghệ sĩ tuồng cung đình Huế tham gia chương trình quảng diễn đường phố.  Ảnh: Công Đạt

Nghệ thuật khác Huế đã tạo nhiều cảm hứng trong rất nhiều tác phẩm thơ, văn và bài hát như: Ai ra xứ Huế, Gửi em chiếc nón bài thơ, Tặng đời chiếc nón bài thơ, Nón bài thơ, Huế xưa, Huế đã xa rồi, Huế khóc, Huế nhớ o, Huế bây giờ, Mưa trên phố Huế, Chiều trên phá Tam Giang, Chút tình cho Huế, Thương ai mấy nhịp Tràng Tiền, Huế gọi ta về, Huế và em, Trời Huế vào thu chưa em, Huế ơi! Huế còn mãi đây, Chuyện một chiếc cầu đã gãy, Huế đẹp Huế thơ, Giọt lệ sông Hương, Sầu cố đô, Thương về miền Trung, Trăm năm bến cũ, Bao giờ em quên, Sao không thấy anh về, Xin anh giữ trọn tình quê, Biết trả lời sao, Tương tư Huế…, các bài thơ như: Chiếc nón bài thơ, Ai ra xứ Huế, Huế thương, Huế bây giờ, Mưa trên phố Huế, Vài nét Huế, Chiều trên phá Tam Giang, Chút tình cho Huế, Thương ai mấy nhịp Tràng Tiền, Huế gọi ta về, Nghiêng nón, Tà áo tím, Tiếng chuông Linh Mụ, Huế là em,…và nhiều nghệ thuật hiện đại khác

4. Các làng nghề truyền thống nổi tiếng ở Huế:

Làng nghề nón lá Tây Hồ, vẫn giữ gìn và phát triển nghề làm nón lá truyền thống;

Làng tranh dân gian làng Sình, chuyên làm tranh thờ, tranh dân gian để thờ cúng, cầu an và phục vụ tín ngưỡng;

Làng hoa giấy Thanh Tiên sản xuất hoa giấy đủ màu sắc, dùng để trang trí bàn thờ và các lễ hội;

Làng hương Thủy Xuân, nổi tiếng với nghề làm hương truyền thống, một nét văn hóa tâm linh đặc trưng của Huế;

Làng mây tre đan Bao La sản xuất các sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ mây tre;

Làng gốm Phước Tích, nổi tiếng với các sản phẩm gốm sứ tinh xảo;

Làng nghề đệm bàng Phò Trạch chế tác đệm (chiếu) từ cây bàng (cỏ bàng), một nghề thủ công truyền thống đã tồn tại lâu đời;

Làng dệt Zèng A Đớt, trong số những làng nghề làm nghề dệt zèng, làng A Đớt ở Huế được xem là một trong các làng nghề truyền thống lâu đời nhất được bảo tồn các giá trị văn hóa cho đến hiện nay. Góp phần vào sự đa dạng của ngành dệt thổ cẩm ở Huế;

Làng Đúc đồng ở phường Phường Đúc và phường Thủy Xuân, Huế ra đời có nguồn gốc từ tổ chức của những thợ thuyền cùng nghề Đúc thời Chúa Nguyễn, từ đầu thế kỷ 17;

Làng nghề thếp vàng, sơn mài Tiên Nộn. Nguồn gốc của thếp vàng, sơn mài Huế là ở các làng Triều Sơn, Địa Linh, Tiên Nộn. Tiên Nộn cách thành phố Huế khoảng 10km là địa điểm nổi tiếng nhất.

Làng nghề làm liễn – làng Chuồn ở xứ Huế. Để làm nên một bức liễn, bạn cần phải có tài hoa viết chữ đẹp và biết nghệ thuật viết chữ. Những bức liễn chính là một sự nổi bật thường được treo trong những ngày Tết hoặc tặng cho nhau. 

Làng Kim hoàn Kế Môn, là nơi gia công cổ truyền lại các món đồ trang sức và trang trí bằng chất liệu vàng hoặc bạc.

Làng nghề rèn Hiền Lương là nơi chuyên sản xuất những sản phẩm, công cụ như cuốc, liềm, rựa, dao,… Vật liệu để chế tác nên những sản phẩm này chủ yếu chỉ từ sắt thép mà nên.

Làng điêu khắc gỗ Mỹ Xuyên, cách trung tâm thành phố Huế khoảng 40km về phía Bắc, tập trung những người thợ chạm tài hoa, chế tác ra được rất nhiều công trình nổi tiếng cho triều đình và nhân dân.

Ẩm thực Huế được biết đến qua thời gian cũng bởi những gia đình có truyền thống nấu nướng, những đầu bếp giỏi và những làng nghề nổi tiếng, với những món đặc sản địa phương, đó là Làng Kim Long với các loại bánh in, bánh gấc, bánh phu thê, bánh ít đen…; làng bánh ướt chợ Thông; làng bánh gói chợ Cầu. Làng Nam Phổ với món bánh canh Nam Phổ, làng bún Vân Cù với những sợi bún trong và mềm đã theo chân người làng toả đi từ tinh mơ để phục vụ bữa điểm tâm cho người dân Huế,…

Các làng nghề truyền thống không chỉ tạo ra những sản phẩm thủ công tinh xảo, những món ăn mang đậm nét đặc trưng mà còn góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa địa phương. 

5. Lễ hội Huế

Có những lễ hội thuộc lễ hội cung đình và lễ hội dân gian. Lễ hội cung đình phản ánh sinh hoạt lễ nghi của triều Nguyễn, phần lớn chỉ chú trọng về “lễ” hơn “hội”. Lễ hội dân gian gồm nhiều loại rất phong phú, tiêu biểu như: lễ hội Huệ Nam ở điện Hòn Chén hay còn gọi là lễ rước sắc nữ thần Thiên y A na theo tín ngưỡng của người Chăm pa, lễ hội tưởng niệm các vị khai sinh các ngành nghề truyền thống, lễ hội tưởng nhớ các vị khai canh thành lập làng. Trong những dịp tế lễ, nhiều sinh hoạt văn hóa bổ ích như đua thuyền, kéo co, đấu vật… được tổ chức và thu hút đông người xem. Những lễ hội tiêu biểu xứ Huế có thể đến đó là:

Festival với lễ hội đường phố  mang đậm sắc màu văn hóa. Ảnh: Trần Đình Thăng

Festival Huế Tôn vinh di sản văn hóa cố đô, kết nối nghệ thuật truyền thống và hiện đại. là sự kiện văn hóa & nghệ thuật lớn nhất của Cố đô, mỗi kỳ tổ chức đều thu hút hàng triệu du khách trong và ngoài nước.

Lễ hội Áo Dài Huế là một trong những sự kiện được mong đợi nhất, nơi quy tụ các nhà thiết kế nổi tiếng để giới thiệu những bộ sưu tập áo dài từ cổ điển đến hiện đại. Lễ hội không chỉ là dịp tôn vinh quốc phục, mà còn tái hiện trọn vẹn vẻ đẹp thanh lịch, duyên dáng của người phụ nữ Việt Nam.

Lễ hội áo dài Huế. Ảnh: Báo Lao Động.

Lễ hội Điện Hòn Chén (còn gọi là Điện Huệ Nam) là một trong những lễ hội tâm linh quan trọng bậc nhất ở Huế, gắn liền với tín ngưỡng thờ Mẫu – di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận. Diễn ra trên dòng sông Hương thơ mộng, lễ hội gây ấn tượng mạnh mẽ bởi đám rước Thánh Mẫu bằng thuyền rồng rực rỡ, uy nghiêm.

Lễ hội Điện Hòn Chén được tổ chức trên núi Ngọc Trản.

Lễ Phật Đản tại Huế là một trong những sự kiện tôn giáo – văn hóa quan trọng, thu hút hàng ngàn tăng ni, Phật tử và du khách thập phương. Trong dịp này, các ngôi chùa lớn như Thiên Mụ, Từ Đàm được trang hoàng rực rỡ với hoa sen, cờ phướn, đèn lồng, tạo nên bầu không khí trang nghiêm mà vẫn thanh tịnh.

Lễ hội Đền Huyền Trân là dịp đặc biệt để tri ân công lao của Huyền Trân Công Chúa – người con gái đã ghi dấu trong lịch sử dân tộc với sứ mệnh hòa bình và mở mang bờ cõi. Lễ hội được tổ chức trang trọng với phần lễ gồm các nghi thức dâng hương, tế lễ,…thể hiện tấm lòng tưởng nhớ và biết ơn sâu sắc. Bên cạnh đó, phần hội diễn ra sôi nổi với nhiều hoạt động văn hóa đặc sắc như múa lân, ca Huế trên sông Hương, cùng các triển lãm thủ công mỹ nghệ truyền thống như nón lá Huế, gốm Phước Tích, mang đến cho du khách cơ hội vừa thưởng thức vừa trải nghiệm tinh hoa văn hóa xứ Huế.

Lễ hội Thanh Trà là dịp tôn vinh loại trái cây đặc sản nổi tiếng của Huế với vị ngọt thanh và hương thơm dịu nhẹ.

Lễ hội Cầu Ngư là một trong những nét văn hóa đặc trưng của ngư dân ven biển Huế, được tổ chức nhằm tôn vinh Thành Hoàng và cầu mong một mùa đánh bắt bội thu. Lễ hội thường bắt đầu với các nghi thức trang trọng như rước kiệu, cúng tế tại đình làng và thả thuyền hoa trên sông, gửi gắm ước vọng bình an. Sau phần lễ là phần hội sôi nổi với những hoạt động đua ghe, trình diễn đánh cá, hát bả trạo, điệu hát dân gian gắn liền với đời sống ngư dân, tái hiện sinh động không khí làng chài ven biển.

Hội vật làng Sình, với hơn 200 năm lịch sử, là một trong những sân chơi thể thao dân gian độc đáo của Huế. Tại đây, các đô vật thi đấu theo luật vật truyền thống, thể hiện sức mạnh, sự khéo léo và tinh thần dũng cảm.

Lễ tế Nam Giao là một trong những nghi lễ cung đình quan trọng bậc nhất dưới triều Nguyễn, nay được phục dựng trong khuôn khổ Festival Huế để tái hiện không khí linh thiêng của một thời vàng son.

Lễ hội Bài Chòi Trong không khí rộn ràng của các lễ hội Huế, lễ hội bài chòi tại cầu ngói Thanh Toàn là điểm nhấn thú vị thu hút đông đảo du khách. Trò chơi dân gian này vừa mang tính giải trí, vừa gìn giữ giá trị văn hóa truyền thống. Người chơi ngồi trong các chòi tre, hồi hộp theo từng lá bài và câu hô dí dỏm. 

Hội Bài Chòi, một nét văn hóa dân gian độc đáo của Huế mang đến không khí vui tươi, đậm đà bản sắc

Còn rất nhiều lễ hội văn hóa khác nữa như Hội đua Ghe, Lễ hội đu tiên, Lễ hội của đồng bào các dân tộc thiểu số Tà Ôi, Cơ Tu…

Lễ hội Aza Koonh của đồng bào Pa Cô – Tà Ôi. Ảnh: Trương Vững

Huế là vùng đất của di sản và lịch sử, chính vì vậy còn là nơi hội tụ những lễ hội truyền thống đậm đà bản sắc văn hóa. Mỗi sự kiện đều phác họa một lát cắt sống động trong đời sống tinh thần của người dân Cố đô.

VI. Danh Lam thắng cảnh ở Huế

Huế có nhiều di tích lịch sử đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới. Đại nội Huế là một địa điểm lịch sử thu hút khách du lịch. Dọc theo sông Hương còn vô số các di tích khác, bao gồm cả những lăng mộ của các vị hoàng đế.

Lối kiến trúc cổ xưa của kinh thành và những bộ áo dài ngũ thân trong thành nội Huế.

Một ngôi chùa của Huế là chùa Thiên Mụ, ngôi chùa lớn nhất ở Huế và là biểu tượng chính thức của thành phố. Một số tòa nhà kiểu Pháp nằm dọc theo bờ phía nam của sông Hương. Trong số đó là Trường Quốc học và Trường Hai Bà Trưng, là các trường trung học phổ thông lâu đời nhất ở Việt Nam, khách sạn Saigon Morin, một trong những khách sạn lâu đời nhất Việt Nam. Viện bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế nằm ở số 3 đường Lê Trực cũng trưng bày một bộ sưu tập các hiện vật khác nhau từ thành phố. Làng Dương Nỗ, xã Phú Dương là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh từng sinh sống và học tập thời niên thiếu trong những năm ở Huế từ 1898 – 1900. Nơi đây vẫn còn lưu lại di tích xưa.

Với Bạch Mã, đèo Hải Vân, nhìn xuống vịnh Lăng Cô xinh đẹp.

Thắng cảnh thiên nhiên Huế đó là: Sông Hương, Núi Ngự Bình, Đồi Vọng Cảnh, Núi Bạch Mã, Vườn quốc gia Bạch Mã, Hải Vân Quan, Bãi biển Thuận An, Vịnh Lăng Cô, Biển Cảnh Dương, Phá Tam Giang, Đầm Lập An, Hồ Khe Ngang, Đồi Thiên An – Hồ Thủy Tiên, Núi Kim Phụng, Rừng ngập mặn Rú Chá.

Kiến trúc cổ tiêu biểu: Đại Nội Huế, Cầu Trường Tiền, Cung An Định, Lăng Minh Mạng, Lăng Tự Đức, Lăng Khải Định, Đàn Nam Giao, Hổ Quyền (nơi voi cọp đấu nhau), Văn Miếu, Điện Hòn Chén, Trường Trung học phổ thông chuyên Quốc Học, Chợ Đông Ba, Đan viện Biển Đức Thiên An, Văn Thánh Huế,…

Lăng vua Tự Đức. Ảnh: Bảo Minh

Các ngôi chùa: Chùa Thiên Mụ, Chùa Diệu Đế, Chùa Thiền Lâm, Chùa Từ Đàm, Chùa Từ Hiếu, Huyền Không Sơn Thượng, Trung tâm Văn hóa Huyền Trân, Thiền viện trúc lâm Bạch Mã,…

Chùa Thiên Mụ trầm mặc in bóng bên dòng Hương Giang.

Nhà thờ: Nhà thờ chính tòa Phủ Cam, Nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, Đan viện Thiên An.

Thánh thất: Thánh thất Cao Đài, Vĩnh Lợi…

Huế còn có rất nhiều các tuyến du lịch khám phá thành phố như: khu văn hoá du lịch Kim Long, Nam Châu Hội Quán, phố cổ Gia Hội – Chi Lăng, phố đêm Bạch Đằng, Hàn Thuyên; nghe ca Huế trên sông Hương, đi thuyền dọc sông Hương, sông Ngự Hà. Thưởng thức các món ăn đặc sản truyền thống rất phong phú, đa dạng, mang đậm đặc trưng của Huế như bánh bèo, nậm lọc, bánh khoái, thanh trà, tôm chua, mè xửng, cùng với các sản phẩm mỹ nghệ lưu niệm theo dấu ấn của lịch sử. 

Nhờ những tinh hoa từ thế hệ trước cùng bản sắc truyền thống đậm đà, ẩm thực Cung đình đặc trưng, nơi đây đã trở thành một trong những địa điểm du lịch được yêu thích hàng đầu ở Việt Nam, thu hút lượng lớn du khách trong và ngoài nước.

VII. Ẩm thực Xứ Huế

1. Ẩm thực Huế là cách gọi chung một hệ thống về phương thức chế biến món ăn, cách pha trộn gia vị và văn hóa ăn uống đã trở thành tập tục, thói quen của con người xứ Huế. Theo thời gian, ẩm thực Huế chịu ảnh hưởng của những luồng văn hoá đến từ những cộng đồng dân cư khác nhau do trong thời kì khai hoang mở cõi. Từ ảnh hưởng ẩm thực miền Bắc thời nhà Lý năm 1069, nhà Lê năm 1306 cho đến thời kì chúa Nguyễn vào trấn thủ Thuận Hoá, cả cách chế biến của phương nam dưới thời vua Gia Long…và những đặc thù của xứ sở nơi người Champa xưa sinh sống, nên mang những sắc thái riêng, trở thành một phần của văn hóa Huế cũng như văn hoá Việt Nam với sự lan tỏa của mình.

– Từ những đặc thù của lịch sử, văn hóa Huế, đặc biệt kể từ khi Huế là kinh đô, là nơi sống của tầng lớp đế vương, nơi hội tụ của những tao nhân mặc khách, công hầu khanh tướng…các món ăn kiểu Huế khá cầu kì do chịu ảnh hưởng của văn hoá cung đình và kiểu cách của con người xứ Huế, chú trọng thưởng thức chứ không cốt để ăn cho no. Bữa ăn hoặc bữa tiệc, cỗ bàn được trình bày mỗi món một chút chút chứ không bày thịnh soạn, la liệt. Vì vậy, ẩm thực Huế ngày nay lưu giữ được đến trên 1.000 món ăn nấu theo lối Huế, có rất nhiều những món ăn ngự thiện của các vua triều Nguyễn. Bản thực đơn ngự thiện có trên vài chục món thuộc loại cao lương mỹ vị, được chuẩn bị và tổ chức rất công phu, tỉ mỉ, cầu kỳ. Các món ăn dân dã rất phổ biến trong quần chúng với bản thực đơn phong phú hàng trăm món được chế biến khéo léo, hương vị quyến rũ, màu sắc hấp dẫn. Nghệ thuật bày biện các món ăn đẹp mắt, nghệ thuật thưởng thức tinh tế.

Nem công – Chả Phượng, ẩm thực Huế tinh tế, hấp dẫn. Ảnh: Cổng TTĐT -TP. Huế

– Về địa hình và thổ nhưỡng, Huế nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiều nắng, nhiều mưa. Địa hình có đồng bằng, biển, đầm phá, đồi núi thấp. Khí hậu Huế khắc nghiệt, đất đai không màu mỡ, nhưng chính cái điều kiện đó lại tạo ra những thực phẩm nguyên liệu rất đa dạng mà trong đó có “lắm cái ngon lừng danh”, đó như là:

Cồn Hến: là một cồn đất nổi giữa dòng sông Hương, về mùa mưa lũ thường bị ngập là nơi cung cấp những quả bắp nếp hạt nhỏ, dẻo mềm và bên mép đất cồn, có loài hến thịt ngọt sống bám là thực phẩm cho nhiều món ăn dân giã.

Cánh đồng An Cựu: nơi thích nghi với giống lúa-gạo Gie, gạo tiến vua.

Biển Thuận An: cung cấp tôm, cua, cá, mực… để tạo nên những món ăn và chế biến thành nhiều loại mắm như: mắm tôm, mắm ruốc, mắm gạch cua… theo kiểu Huế

Hệ đầm phá Tam Giang-Cầu Hai: là một vùng nước lợ, nơi cung cấp những thủy sản ngon có tiếng bậc nhất Đông Nam Á: cua gạch, cua khớp, cá hanh, cá dầy…

Làng quê Nguyệt Biều, Tuần, Kim Long, Hương Cần, Long Thọ…: cứ sau mỗi trận lũ tàn phá, đất lại được bồi đắp một lớp phù sa và mỗi làng lại tạo nên những cây trái đặc biệt khác nhau. Nguyệt Biều với thanh trà, Hương Cần với quýt, Kim Long với măng cụt…

Hồ Tịnh Tâm, hồ Mưng: là các hào trong và ngoài Hoàng thành, Kinh thành Huế là nơi nhiều loại cá nước ngọt như cá trê, cá tràu…Đây cũng là nơi trồng nhiều sen để cung cấp hạt sen, củ sen, ngó sen…

Vùng đất An Hoà: Là đất nổi tiếng tại Huế với giống heo cỏ thịt mềm, sớ mịn, sắc mướt…để tạo những món ăn như bún bò giò heo, nem chả chợ Cầu…

Đất Thủy Thanh: có giống gà thơm thịt và béo do nuôi thả trên đồng ruộng sau mỗi vụ gặt. 

Đất bồi ven sông Hương: là nơi trồng rau xanh và sạch, có những loại như: rau muống Kẻ Trài, Poi – rô Bãi Dâu, hành ngò Tây Lộc, Tây Linh…

Sông Hương: là nơi cung cấp nguồn nước ngọt chủ yếu cho Huế, góp công làm nên những món ăn ngon và nó đã tạo cho con người Thuận Hóa, mà nhất là tại Kinh đô Huế, một thứ ngôn ngữ đặc biệt gọi là “tiếng Huế” là “giọng Huế”.

– Con người và truyền thống ảnh hưởng tư tưởng Nho giáo, quan niệm “tam tòng, tứ đức” là một chuẩn mực của người phụ nữ Huế xưa. Huế có truyền thống từ bao đời nay là “mẹ dạy con, bà dạy cháu, chị dạy em”. Các thiếu nữ trước khi xuất giá phải được mẹ rèn dạy đầy đủ “Công Dung Ngôn Hạnh”. Bên cạnh sự dạy dỗ của gia đình, Huế là nơi thành lập được tổ chức phụ nữ đầu tiên của Việt Nam, đó là “Nữ công Học hội”, thành lập năm 1927. Tổ chức này đã mở một trường dạy nữ công gia chánh, quy tụ phụ nữ trong cả nước để chia sẻ những kiến thức về may vá, thêu thùa và nấu ăn. Kế tiếp “Nữ công Học hội”, trường Nữ sinh Trung học Đồng Khánh là trường nữ sinh đầu tiên của Việt Nam, được thành lập tại Huế dưới thời vua Khải Định, trường vẫn luôn có mảng Nữ công gia chánh dành cho nữ sinh.

Món ăn Huế nhẹ nhàng, nhưng công phu tỉ mỉ. Ảnh: Sưu tầm

Giữa thế kỷ 20, bà Hoàng Thị Kim Cúc, vị giáo sư gia chánh xuất sắc nhất của trường Đồng Khánh, đã giới thiệu được 600 món ăn Huế trong đó có 125 món chay, 34 loại canh, 50 món tráng miệng, 47 loại bánh, 70 loại mứt, 30 loại gia vị, v.v. đặc biệt bà đã giới thiệu được 60 thực đơn hoàn chỉnh của bốn mùa xuân hạ thu đông Huế đã trở thành mẫu mực cho các thế hệ nội trợ Việt Nam.

2. “Hệ” ẩm thực

Tại hội chợ Huế Xuân 2005, một hội thảo về văn hóa ẩm thực Huế, truyền thống và hiện đại, đã được tổ chức. Hội thảo cho thấy món ngon xứ Huế là một kết hợp hài hòa món ngon Chăm cổ với món ngon Việt cổ, món ngon Mường cổ. Món ngon dân gian Huế lâu đời và nhiều món ngon nhất cả nước, được đưa về Phú Xuân Huế dâng chúa, tiến vua. Theo thống kê, Việt Nam có khoảng 1.700 món ăn thì xứ Huế có tới 1.300 món gồm: món ăn dân gian, món ăn cung đình và món ăn chay.

Ẩm thực cung đình Trong cung đình, việc tổ chức các món ăn trong mỗi bữa thành một “phương thang” để vừa bổ dưỡng, vừa trị bệnh là trách nhiệm của viện Thái Y.

Thành lập năm 1802, “Nội Trù thuyền” trực thuộc vệ Thị Nội do bộ Binh quản lý, năm 1808 cơ quan này đổi tên là “Tư Thiện đội” và năm 1802, dưới triều Minh Mạng gọi là “Thượng Thiện đội” là một bộ phận chuyên lo việc bếp núc, từ mua sắm thức ăn, nấu nướng, chuẩn bị bát đĩa, tăm, thìa cho bữa ăn của vua và cúng giỗ của hoàng gia. Nhân viên đội Thượng Thiện có khoảng 50 người, phải chịu nhiều “điều cấm” để bảo đảm an toàn trong việc ăn uống và đặt dưới sự giám sát của viện Thái Y. Bên cạnh đội Thượng Thiện, trong cung còn có viện Thượng Trà chuyên trách việc cung cấp đồ uống cho vua và cúng giỗ của hoàng gia.

Vua Gia Long được ghi nhận là ăn uống giản dị nhất “nhà vua không bao giờ uống rượu, bữa ăn chỉ gồm ít thịt, cá, cơm, rau, bánh, trái. Khi vua ăn không ai được ngồi cùng, kể cả hoàng hậu”, ngược lại vua Minh Mạng, Đồng Khánh thì cầu kỳ hơn, hàng ngày: “ăn cơm 3 lần…mỗi buổi ăn có khoảng 50 món khác nhau (trong đó phải có một vài món thuộc Bát Trân) do 50 người đầu bếp nấu và mỗi người lo nấu món riêng của mình, khi chuông đổ thì trao cho thị vệ đưa qua đoàn thái giám…”

Có nhiều loại yến tiệc trong cung và mỗi dịp đều có thực đơn đơn riêng. Từ tiệc cỗ tế lớn có tới 161 món ăn, tiệc cỗ trân tu có 50 món ăn đến tiệc cỗ ngọc soạn có 30 món ăn, tiệc cỗ chay hạng nhất có 25 món, tiệc cỗ chay hạng nhì có 20 món. Ở mỗi cỗ, đều phải được chuẩn bị chu đáo, tỉ mỉ cùng với nguyên liệu quý hiếm trong nước và nước ngoài dâng tặng.

Tinh hoa ẩm thực cung đình Huế.

Một số món ngự thiện đã được đưa vào ca Huế qua điệu Nam Ai, liệt kê gồm: nem công, thấu thỏ, xôi vò, nham bò, trứng gà lộn, khum lệt, xào lươn, bó sò trâu. Chiên cua gạch, hầm câu, cao lầu, kho tàu, thịt quay, dưa gia, kiệu thịt phay, gầm ghì, măng cày. Hon hôn, nướng sẻ, um cò, tao sò, mực trộn, gân chân vịt, giò nai, cháo hải sâm. Kim châm, da bì, bánh mì tây… Cơm từ “gạo de An Cựu” loại gạo địa phương Huế dành để tiến vua.

Ngoài những món chế biến từ nguyên liệu mua từ các chợ kinh kỳ, một số đặc biệt quý hiếm hay lạ do địa phương khác cống nạp. Ở ngoài Bắc thì có giống nhãn tiến từ Hưng Yên… Bát trân là tám món quý gồm yến sào (tổ chim yến), hải sâm (đỉa biển), bào ngư (cửu khổng), hào xi, lộc cân (gân nai), tê bì (da tê giác), hùng chưởng (tay gấu), Môi đười ươi,…

Ẩm thực dân gian Ẩm thực dân gian Huế và ẩm thực cung đình Huế có những nét tương đồng bởi những người đầu bếp của hoàng cung cung xuất thân từ dân gian mà ra và các nguyên liệu ở nội trù cũng được mua ngoài phố chợ trừ một vài loại quý hiếm. Ở nông thôn, đa số là gia đình lao động trên đồng ruộng hay bách nghệ, người dân tuy cần chất lượng hơn mỹ thuật, bữa ăn thường ngày đơn giản là cua đồng, cá ruộng, rau vườn tuy nhiên khi cần thanh nhã như tiệc, kỵ giỗ… thì đầu bếp vẫn có thể thực hiện những món ăn tinh xảo.

Thưởng thức món ngon ở Huế với các món hấp dẫn. Ảnh: Sưu tầm

Ngoài những nét đặc trưng tổng quát của ẩm thực Việt Nam ẩm thực dân gian Huế mang những đặc trưng riêng, nổi bật.

– Một là tính đa dạng, trên mỗi bữa ăn thường với nhiều chất liệu thịt, cá, rau quả và được thể hiện qua nhiều món như canh, kho, luộc, nướng, xào, hấp…

– Hai là tính mỹ thuật, dù giàu nghèo, mâm cơm bao giờ cũng sắp xếp gọn gàng, tươm tất trên bàn, trên phản, chõng hay trên chiếc chiếu trải giữa nhà. Lễ tiệc phải chú ý bày biện, phối hợp màu sắc của các thực đơn để hấp dẫn người ăn.

– Thứ ba là tính tập thể, tất cả các món đều được bày ra hết, nhất là trọng kỵ giỗ và có thể chúng được bày chồng lên nhau, mỗi mâm cỗ dành cho nhiều người.

– Thứ tư là tính tinh tế và ngon lành, kế cả món mặn lẫn món chay, và để thu hút thực khách, người Huế thường đặt tên cho món ăn những tên gọi đầy hoa mỹ.

Món chay Huế có khoảng 108 ngôi chùa và hơn 300 Niệm Phật đường, người Huế theo Đạo Phật là chủ yếu. Những tu sĩ thực hiện chế độ ăn chay trường, nhưng tín đồ thì có thể theo tâm nguyện mà ăn chay 2,4,6 ngày trong một tháng, hoặc ăn chay 3 tháng hoặc có những người lại ăn chay trường như tu sĩ. Huế là kinh đô xưa, hàng năm vua chúa cũng phải ăn chay trong tuần tế đất trời mà việc chế biến món chay đòi hỏi phải thật tinh tế và hình thức làm sao để tạo sự hấp dẫn khi ăn. Đó là những lý do để món chay Huế phát triển và bảo tồn đến nay.

Cơm chay Huế. Ảnh: Sưu tầm

Những món chay được chế biến với những nguyên liệu chủ yếu từ nhóm tinh bột như gạo, sắn, khoai…; các loại rau xanh; các loại đậu nành, đậu lạc, mè và các loại nấm nhưng khi qua chế biến trở thành những món ăn đặc sắc.

3. Nghệ thuật chế biến và thưởng thức

Ẩm thực Huế có một chiều sâu mang đậm nét bản sắc của một vùng đất từng là kẻ chợ, thanh lịch, nhẹ nhàng và tùng tiệm. Người Huế ăn uống gắn liền với ba tiêu chí là: rẻ, ngon và nhất là phải đẹp, người Huế đã chia ăn uống thành ba bậc: khẩu thực, nhãn thực và tâm thực. “Khẩu thực” là cách ăn bằng miệng, để tồn tại, “nhãn thực” là thưởng thức bằng mắt và “tâm thực”, nghĩa là ăn bằng cả tấm lòng mình.

Nghệ thuật trang trí Người Huế lại tỏ ra sành điệu trong ăn uống không chỉ trong khâu chọn nguyên vật liệu mà còn cầu kỳ từ việc nêm nấu chế biến cho đến cách bày biện trang trí, cứ như mỗi món ăn được nâng lên hàng một tác phẩm nghệ thuật. Để làm những việc đó, người Huế chú trọng:

– Sắc màu của từng món nấu: Phải bảo đảm được tối đa màu tự nhiên của thực phẩm, quả cà chua phải đủ độ chín đỏ tươi, quả dưa leo phải xanh non mượt mà, quả vả phải non và tươi để có được “thịt trắng, tâm hồng”…Người Huế thường phối màu cho những món ăn từ những vật liệu thiên nhiên như ngâm nếp vào lá rau ngót già cho bánh có màu xanh, dùng mật mía thắng để cá kho rim vàng, dùng lòng đỏ trứng gà để miếng chả tôm thêm đỏ…

– Sắc màu dụng cụ dọn ăn: người Huế thường dùng đồ gốm trắng, hoặc gốm trắng vẽ men xanh đa dạng chủng loại và kích thước. Cùng với việc lựa chọn dụng cụ hợp lý về kích thước, đúng loại và màu hợp lý với màu thực phẩm sẽ làm cho món ăn thêm đẹp.

– Trang trí: Không lạm dụng việc trang trí để làm mất vệ sinh món ăn, sử dụng hoa lá, củ quả thiên nhiên để trang trí và chủ đề chính của món ăn không bị vật trang trí che khuất là ba yêu cầu của việc trang trí trong ẩm thực Huế. Bên cạnh đó, việc cắt thái sản phẩm, tạo hình thực phẩm theo tính đồng dạng, đồng đều kích cỡ cũng làm tăng vẻ thẩm mỹ của món ăn. Một đĩa thịt heo luộc của người Huế thường cắt lát mỏng và xếp được đều lên chiếc đĩa; còn gà quay vàng nhưng khéo sắp xếp vẫn tạo dáng như nó đang chắp cánh bay…

Ẩm thực Huế là nét văn hóa độc đáo.

Phong cách dọn ăn, mời uống Thực đơn theo lối Huế thường rất nhiều món. Nếu như vua chúa mỗi bữa có 50 món thì dân dã bình thường với trên 10 món cũng là chuyện bình thường vì mỗi món chỉ nấu với số lượng ít. Cách dọn các món trong mâm cơm thường thấy trọng tâm là tô canh, các món khác xếp xung quanh. Ngồi ở vị trí chính là các vị cao tuổi, vị trí xa hơn là người có vai vế thấp dần. Người mẹ hoặc con dâu ngồi gần nồi cơm để phục vụ gia đình. Nếu là giỗ chạp thì thường có mâm thượng, mâm hạ dành cho nhiều đối tượng theo tuổi hoặc địa vị. Vào bữa ăn, người nhỏ phải mời người lớn hơn trước khi ăn, một món ngon nếu người cao tuổi chưa đụng đũa thì trẻ nhỏ không được gắp. Ngồi ăn phải ngồi ngay ngắn, không chồm người để gắp, không gắp quá nhiều lần một món ăn, không vừa nhai vừa nói, không nhai nhồm nhàm và phát âm thanh khi nhai…Chủ nhà không buông đũa trước khách, ăn xong trẻ nhỏ rót nước mời ông bà…Tất cả đều từ khuôn phép mà lâu ngày thành thói quen trong phong cách dọn ăn, mời uống của người Huế xưa và ngày nay vẫn còn ở một số gia đình.

4. Một số đặc sản Huế

Cơm hến: Cơm nguội với những con hến nhỏ là vị chủ của cơm hến, hến được xào kèm theo bún tàu (miến), măng khô và thịt heo thái chỉ. Món thứ ba trong cơm hến là rau sống làm bằng thân chuối hoặc bắp chuối xắt mảnh như sợi tơ, trộn lẫn với môn bạc hà, khế và rau thơm thái nhỏ, có khi còn điểm thêm những cánh bông vạn thọ vàng, nhìn tươi mắt và có thêm mùi hương riêng. Nước luộc hến được múc ra từ chiếc nồi bung bốc khói nghi ngút bằng chiếc gáo làm bằng sọ dừa xinh xắn, cho vào đầy một cái tô đã có đủ cơm nguội, hến xào, rau sống và được gia thêm đủ vị đồ màu. Nước hến có giã thêm gừng, màu trắng đùng đục. Bộ đồ màu của cơm hến gồm 10 vị: ớt tương, ớt màu, ruốc sống, bánh tráng nướng bóp vụn, muối rang, hạt đậu phộng rang mỡ giã hơi thô thô, mè rang, da heo rang giòn, tóp mỡ, vị tinh.

Bún bò Huế: Con bún làm bằng gạo xay có pha ít bột lọc nên con bún trắng hơi trong và săn hơn, con bún Huế lại to hơn các nơi khác. Một tô bún giò hay bún bò hấp dẫn thực khách chính là nhờ chất nước ngon ngọt và thơm. Nước bún nấu với những miếng móng giò heo mềm nhừ, với một chút màu trắng của những cọng giá và màu xanh của rau sống, thêm gia vị để vừa cay, vừa nóng, vừa nghe vị ngọt của nước bún của thịt.

Một nền ẩm thực đa màu, đa vị. Ảnh: Sưu tầm

Bánh bèo: Nguyên liệu làm bánh chỉ là gạo xay thành bột mịn, đem trộn với nước, chờ vài phút để có độ dẻo vừa phải, sau đó múc vào từng chén nhỏ, xếp vào vỉ đem hấp chín bằng hơi. Khi bánh chín, cho thêm gia vị như: tôm giã thật nhỏ, một ít dầu béo thực vật rưới lên chén bánh trước khi ăn. Nước chấm bánh bèo được nấu từ tôm tươi nên vừa có vị ngọt, vừa béo.

Bánh ướt thịt nướng: Bánh ướt làm bằng bột gạo có pha bột lọc, tráng mỏng hơn. Thịt để nướng thường là thịt heo ba chỉ thái mỏng, ướp tiêu, hành, nước mắm, ngũ vị hương, mè. Thịt ướp sau vài giờ thì đem kẹp, nướng trên bếp than đỏ hồng cho đến khi đủ độ chín, dậy mùi thơm. Lấy thịt nướng này kẹp với rau thơm, giá, xà lách làm nhân để cuốn bánh ướt. Bánh ướt thịt nướng Kim Long ngon, hấp dẫn là nhờ chấm với loại nước chấm hết sức đặc biệt, được các chủ hàng chế biến từ nước mắm nguyên chất, đường, chanh, tỏi, ớt… như một bí quyết được lưu truyền qua nhiều thế hệ.

Bánh khoái: Bánh khoái đổ bằng bột gạo xay đánh sệt với nước và lòng đỏ trứng, sau đó thêm tiêu, hành, mắm, muối, tôm bóc vỏ, thịt bò nướng thái lát, mỡ thái lát nhỏ, giá sống. Khuôn bánh khoái làm bằng gang hình tròn, to bằng hai bàn tay trẻ con có cán cầm. Khi nào có khách ăn, nhà hàng mới bắc khuôn lên lò đổ bánh. Múc một muôi bột trứng đổ vào khuôn nóng đã tráng mỡ, bột chín vàng rơm thì gắp một miếng thịt bò nướng, lát mỡ nhỏ, một vài con tôm, ít giá bỏ vào một nửa phần bánh, dùng đũa lật phần bánh còn lại úp lên thành hình bán nguyệt lật bánh cho vàng đều hai bên, xong bày ra đĩa. Bánh ngon một phần nhờ nước lèo, được chế biến rất cầu kỳ với hàng chục nguyên liệu như bột báng, gan lợn, mè (vừng), lạc rang…

Các loại bánh khác: bánh in, bánh bột lọc, bánh nậm, bánh xu xê, bánh ướt nhân tôm, bánh ướt nhân thịt…Bánh Huế thường được làm nhỏ và mỏng, tạo các hình hoa trái, làm cho người ăn khi nhìn đã thích thú và muốn thưởng thức.

Tôm chua: được làm từ những con tôm nước lợ tươi, tôm được ngắt đầu, rửa sạch, ngâm một lát trong rượu. Sau đó vớt ra để ráo, trộn đều với các thứ phụ gia: riềng, tỏi, ớt đỏ, măng non, xôi nếp, nước mắm ngon. Quá trình ủ tôm kéo dài từ 7-10 ngày, có thể chôn xuống đất để giữ nhiệt độ ổn định cho quá trình lên men. Nhiệt độ càng ổn định, tôm càng thơm, càng ngọt. Thưởng thức tôm chua phải có 3 thứ cơ bản đi liền nhau: thịt heo phay (ba chỉ) thái mỏng-tôm chua-dưa giá. Ngoài ra còn có quả vả hoặc chuối chát, khế chua thái mỏng cùng rau quế, ớt tươi.

Các loại chè Huế: Huế có tới hàng chục loại chè khác nhau, mỗi loại chè có một hương vị đặc biệt riêng. Có những loại cầu kỳ như chè hạt sen, chè nhãn bọc hạt sen, chè hạt lựu, chè thịt quay, chè môn sáp vàng, chè bông cau… Một số chè bình dân như: chè bắp, chè trôi nước, chè kê, chè khoai sọ, chè đậu ván, chè bột lọc, chè đậu xanh, chè đậu đỏ, chè thập cẩm, chè khoai môn, chè khoai mài, chè hột é…

Kẹo Huế: kẹo cau, kẹo gừng, mè xửng là những thứ kẹo mà trẻ em thường thích ăn. Kẹo đậu phụng là kẹo làm từ mạch nha đen đổ trên bánh tráng tròn, ở giữa có đậu phụng rang còn nguyên vỏ mỏng màu đỏ gạch; thường được cắt thành từng miếng nhỏ hình tam giác. Kẹo Mè xửng là thứ kẹo ngọt dẻo, được làm từ mạch nha pha trộn lẫn với dầu phụng, có mè bao phủ, được cắt từng miếng vuông nhỏ gói trong hộp. Các tiệm mè xửng nổi tiếng hồi xưa thường tụ tập ở đầu cầu Đông Ba, nổi tiếng nhất là mè xửng Thuận Hưng, mè xửng Song Hỷ…Kẹo mè xửng là một trong những đặc sản đã trở thành biểu tượng văn hóa của Huế. Giờ có cả mè xửng giòn.

Lọm chuối: cốt lõi thân chuối. Thân chuối sau khi cắt bỏ phần ngoài để xắt cho heo ăn, cốt lõi của thân chuối được xắt ra lát mỏng ra rồi đem ướp muối để làm dưa, gọi là dưa chuối, thường để dành khi ăn trời bão lụt. Dưa chuối trộn với dưa kiệu, chấm với ruốc hoặc với nước tôm kho đánh ăn lúc trời lụt.

Môn: dùng để nấu canh ăn sau khi bóc vỏ hoặc làm dưa. Củ cũng được đào lên để nấu chè hay nấu cháo. Đôi khi ăn hay ngứa. Có nhiều loại môn: môn sáp, môn ngọt, môn nưa…

Huế không chỉ cuốn hút du khách bởi những nét đẹp văn hóa, lịch sử, những nét đẹp cổ kính, mà còn thu phục lòng người bởi sự thân thiện của con người xứ Huế, sự dịu dàng, ngọt ngào của người con gái Huế khiến ai cũng phải si mê hay những cơn mưa Huế tạo nên những cảm giác trầm mặc, lắng đọng và cũng thật lãng mạn. Những nét đẹp ấy, khiến du khách không khỏi khôn nguôi, nhớ thương khi rời xa đất Huế. Đến với Huế là đến với những nét đẹp nên thơ, hữu tình.

KPVN Tổng Hợp

Những Tour Du Lịch Hot Ở Ninh Thuận

-7%
Thời gian: 1 ngày
Ngày khởi hành: Hàng ngày
Giá gốc là: 1.500.000 ₫.Giá hiện tại là: 1.400.000 ₫.
-7%
Thời gian: 1 ngày
Ngày khởi hành: Hàng ngày
Giá gốc là: 1.500.000 ₫.Giá hiện tại là: 1.400.000 ₫.
Thời gian: 1 ngày
Ngày khởi hành: Hàng ngày
Thời gian: 1 ngày
Ngày khởi hành: Hàng ngày

Những Tour Du Lịch Hot Ở Ninh Thuận