ĐÔNG GIA LAI – VÙNG DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ

Vùng đất Đông Gia Lai – Mảnh đất Bình Định, thuộc miền duyên hải Nam Trung Bộ, nổi tiếng là vùng “đất võ, trời văn” với di sản văn hóa phong phú, võ cổ truyền đặc sắc và nhiều nhà thơ, nhà văn hóa lớn như “Bàn thành tứ hữu”,… Mang vẻ đẹp hài hoà giữa biển và núi, nơi 1 bên rì rào sóng vỗ, một bên trùng điệp núi non tạo nên cảnh sắc bao la, hùng vĩ làm say đắm lòng người. Nổi tiếng với những địa danh như Quy Nhơn, Eo Gió, Kỳ Co, Hòn Khô, Ghềnh Ráng – Tiên Sa,…và các tháp Chăm cổ kính, với nghệ thuật Tuồng cổ, Bài Chòi, văn hóa Chăm-pa đặc sắc và con người mến khách. 

Giới thiệu vùng đất Đông Gia Lai (Bình Định)

Tỉnh Gia Lai mới là một tỉnh nằm ở khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, miền Trung Việt Nam. Trung tâm hành chính của tỉnh là phường Quy Nhơn. Theo dữ liệu Sáp nhập tỉnh, thành Việt Nam 2025, Gia Lai mới có diện tích: 21.577 km². Nguồn gốc tên gọi Gia Lai bắt nguồn từ chữ Jarai, tên gọi của một dân tộc thiểu số trong tỉnh, cách gọi này vẫn còn giữ trong tiếng của người Ê-đê, Ba Na, Lào, Thái Lan và Campuchia để gọi vùng đất này là Jarai, Charay có nghĩa là vùng đất của người Jarai, có lẽ ám chỉ vùng đất của Thủy Xá và Hỏa Xá xưa. Gia Lai là một tỉnh nằm ở cả vùng núi và ven biển, có độ cao trung bình vùng núi từ 700 – 800m và 0 – 30m đối với đồng bằng. Vị trí Gia Lai mới phía bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi; phía nam giáp tỉnh Đắk Lắk; phía tây giáp tỉnh Ratanakiri, Campuchia; phía đông giáp Biển Đông. Tỉnh Gia Lai hiện nay sở hữu địa hình phức tạp, với hơn 40% diện tích là đồi núi, phần lớn nằm ở phía Bắc, và các vùng đồng bằng trũng ở phía Đông Nam. Cao nguyên Pleiku và các khu vực như huyện K’Bang cũ vẫn giữ được vẻ đẹp hoang sơ với những ngọn núi như Kon Ka Kinh, trong khi các khu vực ven biển từ Bình Định cũ mang lại tiềm năng phát triển du lịch và kinh tế biển.

Toàn cảnh Quy Nhơn.

Với diện tích mở rộng, tỉnh Gia Lai trở thành một địa bàn chiến lược về kinh tế và quốc phòng, với các tuyến giao thông huyết mạch như Quốc lộ 1A, Quốc lộ 1D, Quốc lộ 14,19,25. Đường Hồ Chí Minh. Ngoài ra, Sân bay Pleiku và Sân bay Phù Cát có đường bay nối với các thành phố lớn là Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh,…

Khí hậu: Sau khi sáp nhập, tỉnh Gia Lai hiện tại bao gồm cả phần đất liền và một phần bờ biển trước đây thuộc Bình Định. Do đó, khí hậu của Gia Lai sẽ có sự kết hợp giữa khí hậu cao nguyên đặc trưng của vùng Tây Nguyên và khí hậu nhiệt đới gió mùa ven biển. Vùng núi có khí hậu mát mẻ, ôn hòa và vùng ven biển có khí hậu nóng ẩm, nhiều nắng. Việc sáp nhập tạo ra sự đa dạng về địa hình và khí hậu, tạo điều kiện để phát triển các loại hình du lịch khác nhau, như du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng ở vùng núi và du lịch biển, tham quan, khám phá ở vùng ven biển. 

I. Vùng đất Đông Gia Lai ở Đâu

Vùng đất Đông Gia Lai (tỉnh Bình Định cũ) là một vùng đất thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam, có diện tích tự nhiên 6850,6km². Các dân tộc sinh sống có người Kinh, Chăm, Ba Na, Hrê,…Trung tâm Đông Gia Lai cũng là trung tâm tỉnh Gia Lai mới là phường Quy Nhơn. Đông Gia Lai trải dài 110km theo hướng Bắc – Nam, có chiều ngang với độ hẹp trung bình là 55km.

Bản đồ vị trí địa lý – Du lịch Đông Gia Lai. @: TTXVN

Vị trí địa lý Nằm cách thủ đô Hà Nội 1.070 km về phía Nam và cách Thành phố Hồ Chí Minh 652 km về phía Bắc theo đường Quốc lộ 1A. Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi. Phía Nam giáp tỉnh Đắk Lắk. Phía Tây giáp Tây Gia Lai. Phía Đông giáp Biển Đông với bờ biển dài 134 km. Đông Gia Lai (Bình Định cũ) được xem là một trong những cửa ngõ ra biển của các vùng Tây Nguyên và vùng nam Lào.

Khí hậu Bình Định có tính chất nhiệt đới ẩm, gió mùa. Do sự phức tạp của địa hình nên gió mùa khi vào đất liền đã thay đổi hướng và cường độ khá nhiều. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 12. Riêng đối với khu vực miền núi có thêm một mùa mưa phụ tháng 5 – 8 do ảnh hưởng của mùa mưa Tây Nguyên. Mùa khô kéo dài tháng 1 – 8. Đông Gia Lai nằm ở vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, đây là vùng thường có bão đổ bộ vào đất liền từ tháng 10 – 11.

Địa hình Địa hình của Đông Gia Lai tương đối phức tạp, thấp dần từ tây sang đông. Phía tây là vùng núi rìa phía đông của dãy Trường Sơn Nam, kế tiếp là vùng trung du và tiếp theo là vùng ven biển. Các dạng địa hình phổ biến là các dãy núi cao, đồi thấp xen lẫn thung lũng hẹp, hướng vuông góc với dãy Trường Sơn, các đồng bằng lòng chảo, các đồng bằng duyên hải bị chia nhỏ do các nhánh núi đâm ra biển. Ngoài cùng là cồn cát ven biển có độ dốc không đối xứng giữa 2 hướng sườn đông và tây. Các dạng địa hình chủ yếu của Đông Gia Lai là:

Vùng núi: Nằm về phía tây bắc và phía tây, chiếm 70% diện tích, địa hình phân cắt mạnh, sông suối có độ dốc lớn, là nơi phát nguồn của các sông trong vùng. Các dãy núi chạy theo hướng Bắc – Nam, có sườn dốc đứng. Nhiều khu vực núi ăn ra sát biển tạo thành các mỏm núi đá dọc theo bờ, vách núi dốc đứng và dưới chân là các dải cát hẹp. Đặc tính này đã làm cho địa hình ven biển trở thành một hệ thống các dãy núi thấp xen lẫn với các cồn cát và đầm phá.

Vùng đồi và đồng bằng: Vùng đồi tiếp giáp giữa miền núi phía tây và đồng bằng phía đông, chiếm khoảng 10% diện tích, có độ cao dưới 100m, độ dốc tương đối lớn. Đông Gia Lai không có dạng đồng bằng châu thổ mà phần lớn là các đồng bằng nhỏ được tạo thành do các yếu tố địa hình và khí hậu, các đồng bằng này thường nằm trên lưu vực của các con sông, ven chân núi hoặc ven biển và được ngăn cách với biển bởi các đầm phá, các đồi cát hay các dãy núi. Đồng bằng lớn nhất của Đông Gia Lai là đồng bằng thuộc hạ lưu sông Côn, còn lại là các đồng bằng nhỏ.

Cảnh đẹp Kỳ Co với những dải núi ăn ra biển.

Vùng ven biển – Hải đảo: Vùng ven biển bao gồm các cồn cát, đụn cát tạo thành một dãy hẹp chạy dọc ven biển với chiều rộng trung bình khoảng 2km, hình dạng và quy mô biến đổi theo thời gian. Ven biển còn có nhiều đầm, các vịnh, các cửa biển. Ven bờ biển Đông Gia Lai gồm có 33 đảo lớn nhỏ được chia thành 10 cụm đảo hoặc đảo đơn lẻ. Trong các đảo nói trên thì chỉ đảo Cù Lao Xanh là có dân cư sinh sống. Các sông đều bắt nguồn từ những vùng núi cao của sườn phía đông dãy Trường Sơn. Đông Gia Lai có bốn con sông lớn là Côn, Lại Giang, La Tinh và Hà Thanh. Đông Gia Lai có nhiều hồ nhân tạo, ngoài ra còn có một đầm nước ngọt khá rộng là đầm Trà Ổ và hai đầm nước lợ là Đề Gi và Thị Nại. Hệ thống hồ đầm này tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thủy hải sản. Đặc biệt đầm Thị Nại là đầm lớn rất thuận lợi cho việc phát triển cảng biển tầm cỡ quốc gia, đầm còn được biết đến với cây cầu vượt biển dài nhất Việt Nam hiện nay.

II. Du lịch Đông Gia Lai (Bình Định, Quy Nhơn) mùa nào đẹp

Đông Gia Lai (Bình Định) là điểm đến hấp dẫn quanh năm, mỗi mùa lại mang đến những trải nghiệm riêng biệt. Việc lựa chọn thời điểm du lịch phù hợp giúp bạn tận hưởng tối đa vẻ đẹp thiên nhiên và văn hóa vùng đất này.

Biển Nhơn Hải – Hòn Khô mùa rong mơ. (Ảnh: Đặng Văn Hải)

Du lịch Đông Gia Lai vào mùa khô: Mùa khô ở Bình Định kéo dài từ tháng 1 đến tháng 8. Thời tiết thường khô ráo, ít mưa và nắng nhiều, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động du lịch ngoài trời. Nhiệt độ trung bình ban ngày dao động từ 28 – 350C, với những ngày nắng nóng có thể lên tới 370C. Ban đêm thời tiết mát mẻ hơn, nhiệt độ khoảng 22 – 26 0C, giúp du khách cảm thấy dễ chịu khi nghỉ ngơi và khám phá.

Vào mùa khô, Bình Định là điểm đến lý tưởng để khám phá thiên nhiên và văn hóa miền Trung với nhiều hoạt động du lịch hấp dẫn như: Tắm biển và vui chơi tại các bãi biển đẹp, du khách đến đây có thể tắm biển, tắm nắng hoặc tham gia các trò chơi dưới nước như chèo kayak, moto nước. Lặn ngắm san hô, những rạn san hô được xem là kho báu thiên nhiên nguyên sơ của Bình Định. Tham quan các danh thắng nổi tiếng. Leo núi và trekking, Bình Định còn hấp dẫn những người yêu thiên nhiên với các cung đường leo núi, trekking đầy thử thách. Thưởng thức hải sản tươi sống tại các quán ven biển. Khám phá làng chài và trải nghiệm đánh bắt hải sản, ngắm bình minh trên biển,… Tham gia lễ hội truyền thống, hòa mình vào không khí sôi động của các sự kiện văn hóa đặc sắc.

Du lịch Bình Định vào mùa mưa: Mùa mưa Đông Gia Lai thường bắt đầu từ tháng 9 và kéo dài đến cuối tháng 12. Đây là lúc thời tiết ở Bình Định có các cơn mưa lớn, đôi khi có giông bão, độ ẩm không khí cao, thời tiết có phần mát mẻ hơn so với mùa khô. Nhiệt độ trung bình trong mùa mưa dao động từ 24 – 290C, đôi khi giảm thấp hơn khi có các đợt mưa lớn.

Múa võ bên tháp Chàm.

Vào mùa mưa, dù thời tiết có phần ẩm ướt và thường xuất hiện những cơn mưa rào, Bình Định vẫn giữ được sức hút riêng với nhiều hoạt động du lịch độc đáo đó là Tham quan các di tích lịch sử – văn hóa, khám phá các làng nghề truyền thống để trải nghiệm văn hóa địa phương. Trải nghiệm cà phê, check-in quán đẹp ngắm sóng vỗ mờ ảo trong làn mưa, hoặc tìm đến không gian ấm áp, yên tĩnh trong thành phố. Tham quan chợ và mua đặc sản, là cách để bạn vừa khám phá văn hóa địa phương, vừa mua được nhiều đặc sản nổi tiếng. Khám phá ẩm thực vùng miền, thời tiết mưa rất thích hợp để thưởng thức các món ăn nóng hổi đậm chất Bình Định.

III. Đi đến Vùng Đông Gia Lai bằng gì

Phương tiện di chuyển đến Bình Định

Giao thông Đông Gia Lai có quốc lộ 1A, 1D, quốc lộ 19, 19B, 19C, đường cao tốc Bắc – Nam phía Đông, đường sắt Bắc- Nam đi qua, sân bay Phù Cát, cảng Quy Nhơn,…rất thuận tiện. Vì vậy, tùy nơi khởi hành, bạn có thể dễ dàng lựa chọn nhiều loại phương tiện cho chuyến du lịch Bình Định như:

Máy bay: Bạn có thể mua vé máy bay đi Quy Nhơn Bình Định từ các thành phố lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng…với điểm đến là sân bay Phù Cát, cách thành phố Quy Nhơn cũ khoảng 30km. Sau khi hạ cánh, bạn có thể thuê taxi, xe đưa đón hoặc xe bus để vào trung tâm thành phố hoặc các điểm du lịch lân cận. Đây là cách di chuyển nhanh chóng, tiết kiệm thời gian, phù hợp với những du khách đến từ miền Nam, miền Bắc. 

Tàu hỏa: Nếu bạn đến từ Hà Nội, TP. HCM hoặc các tỉnh thành có tuyến đường sắt Bắc Nam đi qua, bạn có thể đi Bình Định bằng tàu hỏa. Khi đi bằng tàu hỏa, bạn có thể dừng tại nhà ga phù hợp với điểm đến như: ga Quy Nhơn, ga Bình Định, ga Diêu Trì, ga Vân Canh,…Có nhiều loại tàu như SE1, SE2, SE3, SE4… tùy thời gian và hạng ghế.

Du lịch Đông Gia Lai bằng tàu hỏa (Ảnh: Sưu tầm)

Xe khách: Bạn có thể đi đến Bình Định bằng xe khách với nhiều lựa chọn về hãng xe, loại xe và thời gian khởi hành từ các tỉnh thành như Hà Nội, Đà Nẵng, Huế, TP. Hồ Chí Minh,… Các xe khách thường xuất phát từ bến xe Giáp Bát (HN) hay Miền Đông (TP. Hồ Chí Minh) hoặc các bến xe tỉnh thành khác. Thời gian di chuyển tùy theo khoảng cách. Đây là lựa chọn phù hợp với những người có ngân sách tiết kiệm hoặc muốn trải nghiệm hành trình đường bộ.

Phương tiện cá nhân: Đi bằng phương tiện cá nhân đến Bình Định là phương án mang đến sự chủ động và linh hoạt cho chuyến đi nếu thời tiết thuận lợi. Du khách có thể lựa chọn ô tô hoặc xe máy, vừa di chuyển vừa dừng lại tham quan các điểm đẹp dọc đường như đèo Cù Mông, đèo An Khê hay những bãi biển hoang sơ. Thời gian đi từ TP. Hồ Chí Minh khoảng 12 – 14 giờ, từ Đà Nẵng khoảng 5 – 6 giờ. Hình thức này phù hợp với những ai yêu thích cảm giác khám phá, muốn trải nghiệm cung đường ven biển tuyệt đẹp và tự do sắp xếp lịch trình theo sở thích cá nhân. Nếu đi bằng phương tiện cá nhân bạn có thể tham khảo các cung đường sau:

Từ TP. Hồ Chí Minh: Theo QL1A – qua Khánh Hòa, Đông Đắk Lắk – vào Đông Gia Lai (Bình Định). Từ Đà Nẵng: Theo QL1A – qua Đông Quảng Ngãi – Đông Gia lai (Bình Định). Từ Tây Nguyên: Theo QL19 hoặc QL19B – qua đèo An Khê – Quy Nhơn.

Phương tiện di chuyển tại Đông Gia Lai (Bình Định)

Tại Bình Định, bạn có thể lựa chọn nhiều phương tiện để di chuyển và thực hiện hành trình tham quan, khám phá: Thuê xe tự lái, xe máy là cách phổ biến để bạn tự do, linh hoạt di chuyển trong thành phố và đến các địa điểm du lịch Bình Định. Đi taxi hoặc thuê ô tô là cách di chuyển phù hợp và tiện lợi khi bạn đi cùng gia đình, nhóm bạn đông và cần đến những địa điểm xa. Nếu di chuyển trong trung tâm thành phố, bạn có thể sử dụng dịch vụ xe điện. Giá cước được tính theo số km hoặc thời gian sử dụng.

Biểu diễn nghệ thuật Chăm bên tháp cổ. Ảnh: Ngọc Nhuận

Đi du lịch Vùng Đông Quảng ngãi theo Tour du lịch đây là cách đi du lịch phổ biến và an toàn nhất, khách du lịch nên áp dụng, đặc biệt là khi đi theo đoàn. Nếu đi du lịch theo Tour, xuất phát từ Hà Nội hoặc bất cứ đâu, giá Tour sẽ tùy theo điểm xuất phát, số ngày và lịch trình bạn tham quan du lịch.

IV. Lịch sử Đông Gia Lai (Bình Định) các thời kỳ

Văn hóa thời tiền sử và sơ sử vùng Đông Gia Lai (Bình Định) mới chỉ ghi nhận được từ giai đoạn sơ kỳ đến hậu kỳ trong giai đoạn kim khí. Đại diện cho nền văn hóa trong giai đoạn này là “Văn hoá Sa Huỳnh”.

Thời Bắc thuộc, đời nhà Tần, đời nhà Hán là huyện Tượng Lâm thuộc quận Nhật Nam, năm Vĩnh Hoà 2 (137)(tài liệu khác ghi năm 192) nhân dân Tượng Lâm dưới sự lãnh đạo của Khu Liên nổi dậy, giành độc lập khỏi nhà Hán, thành lập quốc gia Lâm Ấp, đặt nền móng cho vương quốc Chăm Pa…Đời nhà Tùy (605) dẹp Lâm Ấp đặt tên là Xung Châu, sau đó lại lấy tên cũ là Lâm Ấp. Đời nhà Đường, Năm 627 đổi tên là Lâm Châu. Năm 803, nhà Đường bỏ đất này và nước Chiêm Thành của người Chăm ra đời, đất này được đổi là Đồ Bàn, Thị Nại.

Vẻ đẹp tháp đôi Bình Định. (Ảnh: sưu tầm)

Nhìn tổng quan, từ đầu Công nguyên cho đến thế kỷ 17, trên dải đất miền Trung Việt Nam đã hình thành một Nhà nước Cổ đại, đó là Nhà nước Chămpa. Nhà nước Chămpa được xây dựng trên một nền tảng được kế thừa thành tựu văn hóa Sa Huỳnh trước đó, đồng thời tiếp thu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, Trung Hoa cùng nhiều yếu tố của các nền văn hóa khác trong khu vực. Dân tộc Chăm trong suốt 16 thế kỷ, khởi nguồn từ năm 137(hoặc 192) và kết thúc vai trò lịch sử của nó đã để lại một nền văn hóa riêng, độc đáo, góp phần làm giàu kho tàng văn hóa của nhân loại và cũng như cộng đồng các dân tộc Việt Nam sau này.

Từ năm 1471, vua Lê Thánh Tông cho lập phủ Hoài Nhơn -lãnh thổ chỉ đến đèo Cù Mông: “Phủ Hoài Nhơn lệ vào Quảng Nam thừa tuyên, nhưng từ núi Cù Mông về nam vẫn là người Man, người Lạo ở, chưa có thì giờ để kinh lý đến”.

Sau khi trở về kinh đô Thăng Long, tháng 7 năm Hồng Đức thứ 2 (1471), vua Lê Thánh Tông lấy đất Chiêm Thành mới chiếm đặt Quảng Nam Thừa tuyên, đặt 3 ty để trông coi việc dân, việc nước ở Quảng Nam Thừa tuyên. Các làng xã từ đó cũng được hình thành. Lúc mới thành lập phủ Hoài Nhơn gồm 3 huyện là Bồng Sơn, Phù Ly, Tuy Viễn. Năm 1490, theo Thiên Nam dư hạ tập cho biết: dưới thời Hồng Đức, phủ Hoài Nhơn có 19 tổng và hơn 100 xã. Tháng 8 năm Mậu Ngọ (1498), nhà Lê cho đặt các sở hiệu của 3 vệ là Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhơn thuộc đô ty Quảng Nam. Sau một thế kỷ mở đất, người Việt đã vào lập làng ở các vùng đất của phủ Hoài Nhơn sau là tỉnh Bình Định.

Các chúa Nguyễn xuất hiện  trong lịch sử Việt Nam lúc đầu gắn với vùng đất Thuận Hoá, sau đó là Quảng Nam rồi phát triển lập nên xứ Đàng Trong.

Tháng 11 năm Mậu Ngọ (1558), Nguyễn Hoàng được vua Lê cử vào trấn nhậm Thuận Hoá. Năm 1570, vua Lê triệu tổng binh Quảng Nam là Nguyễn Bá Quýnh về trấn thủ Nghệ An. Chúa Nguyễn Hoàng được kiêm lãnh hai xứ Thuận Hoá, Quảng Nam. Xứ Quảng Nam vào thời điểm Nguyễn Hoàng cai trị có 3 phủ: Thăng Hoa, Tư Nghĩa, Hoài Nhơn. Chúa Nguyễn Hoàng đeo ấn Tổng trấn tướng quân, đặt quân hiệu là dinh Hùng Nghĩa. Năm 1602, chúa Nguyễn Hoàng cho đổi phủ Hoài Nhơn thành phủ Quy Nhơn.

Đàng Trong thế kỷ 17 là nạn nhân của sự bột phát khốc liệt của cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn. Để tồn tại trong thế đối trọng với Đàng Ngoài, các chúa Nguyễn ở Đàng Trong phải ra sức mở mang phát triển lãnh thổ và kinh tế. Chiến tranh chấm dứt (1672). Các chúa Nguyễn đã thắng khi chặn được quân Trịnh với sức áp đảo từ phía bắc Sông Gianh, thu phục được người Miên, người Hoa để mở cõi về phía nam và đưa dân vào sinh sống, làm ăn ở vùng Đồng Nai, Gia Định.

Nhưng các chúa Nguyễn cũng chuẩn bị đương đầu với một nguy cơ mới nảy sinh trong lòng xã hội Đàng Trong, đó là các cuộc khởi nghĩa của người nông dân – vốn là nạn nhân của chế độ phong kiến. Họ là những di dân vào Thuận- Quảng làm ăn nên đã đồng tình với các chúa Nguyễn, đánh Trịnh để bảo vệ quê hương, bảo vệ thành quả lao động và cuộc sống của mình. Sau chiến tranh, các chúa Nguyễn tiếp tục gia tăng cường độ bóc lột qua các chính sách thuế má, phu dịch để xây dựng dinh phủ, nuôi sống bộ máy cai trị. Phủ Quy Nhơn là một trong những nơi chịu áp bức bóc lột nặng nề nhất.

Năm 1695, một thương nhân ở Quy Nhơn là Quảng Phú đã liên kết với thương nhân ở phủ Quảng Ngãi là Linh Vương mua sắm binh thuyền, vũ khí khởi nghĩa chống chúa Nguyễn. Thế kỷ 18, cuộc khởi nghĩa của Lía ở phủ Quy Nhơn đã nói lên một khí thế đấu tranh quyết liệt của người nông dân chống địa chủ và cường quyền áp bức. Đó là khúc nhạc dạo đầu của bản anh hùng ca hoành tráng của các thủ lĩnh nông dân Tây Sơn khi Nguyễn Nhạc đã tụ nghĩa ở đất Tây Sơn với những người có nghĩa khí, chống áp bức đã dấy lên cuộc khởi nghĩa (1771) làm rung chuyển cả cơ đồ của chúa Nguyễn ở Đàng Trong.

Nguyễn Nhạc đã thành công hơn Lía và các thủ lĩnh nông dân khác khi chọn được căn cứ địa ở vùng Tây Sơn thượng đạo an toàn, bí mật, vững chắc, được nhiều tầng lớp nhân dân hưởng ứng. Đã  đưa cuộc khởi nghĩa đến thắng lợi có ý nghĩa trong buổi đầu của phong trào Tây Sơn.

Mùa thu năm 1773, nghĩa quân Tây Sơn mở rộng căn cứ  xuống vùng Tây Sơn hạ đạo, lấy ấp Kiên Thành, sinh quán các thủ lĩnh Tây Sơn làm đại bản doanh. Năm đó, Nguyễn Nhạc quyết định cho nghĩa quân đánh chiếm phủ thành Quy Nhơn, Phủ Quy Nhơn hoàn toàn thuộc quyền kiểm soát của nghĩa quân Tây Sơn. 

Thành Đồ Bàn của vương quốc Champa xưa. Ảnh: Dũng Nhân

Tháng 3/1776, Nguyễn Nhạc cho sửa chữa và xây thêm thành Đồ Bàn, rồi đổi tên là thành Hoàng Đế, tự xưng Tây Sơn vương, cho đúc ấn vàng, phong cho Nguyễn Lữ làm Thiếu phó, Nguyễn Huệ làm Phụ chính, các tướng lĩnh khác đều được phong chức cho tương xứng với một chính quyền Trung ương mới được thành lập.

Bình Định là quê hương của các lãnh tụ Tây Sơn, là căn cứ địa của cuộc khởi nghĩa, là nơi xuất phát phong trào rồi trưởng thành, phát triển ra toàn quốc, là đất Kinh đô Hoàng đế Thái Đức và là chiến trường ác liệt dài ngày giữa quân đội Tây Sơn thời Cảnh Thịnh với quân Nguyễn Ánh.

Trong 32 năm (1771-1802), nhân dân Bình Định đã theo Tây Sơn, đã cống hiến hết mình cho trang sử hào hùng của dân tộc thời Tây Sơn. Khi phong trào Tây Sơn phát triển ra toàn quốc cùng với thiên tài  Nguyễn Huệ, những người con ưu tú của phủ Quy Nhơn góp phần quan trọng tạo nên các chiến công đánh Nguyễn, đánh Xiêm ở Gia Định, diệt Trịnh lật đổ nhà Lê ở Phú Xuân-Thăng Long, quét sạch 29 vạn quân Thanh xâm lược vào xuân Kỷ Dậu (1789).

Từ năm 1799-1802, thành Quy Nhơn (thành Hoàng Đế) bị quân Nguyễn Ánh chiếm đóng và đổi làm thành Bình Định và suốt chiều dài lịch sử, đây là trung tâm cai trị của triều Nguyễn tại Bình Định trong những năm đầu thế kỷ 19.

Đến năm 1885, Bình Định là một tỉnh lớn ở Trung Kỳ, nhiều vùng đất của Gia Lai, Kon Tum còn thuộc về Bình Định.

Năm 1890, thực dân Pháp sát nhập thêm Phú Yên vào Bình Định thành tỉnh Bình Phú, tỉnh lỵ là Quy Nhơn. Nhưng đến năm 1899, Phú Yên tách khỏi Bình Phú, Bình Định lại trở thành tỉnh độc lập. Năm 1907, toàn quyền Đông Dương lại ra Nghị định bãi bỏ tỉnh Plâycu Đe. Một nửa đất đai của tỉnh này cho sát nhập trở lại vào tỉnh Bình Định. Năm 1913, thực dân Pháp lại sát nhập Phú Yên vào tỉnh Bình Định thành tỉnh Bình Phú. Năm 1921, thực dân Pháp tách tỉnh Phú Yên ra, lập lại tỉnh Bình Định và kéo dài cho đến năm 1945.

Cùng với cuộc Cách mạng Tháng Tám “long trời lở đất,” ngày 3/9/1945, sau khi khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi Ủy ban Nhân dân cách mạng lâm thời mới của tỉnh lấy tên tỉnh Bình Định là tỉnh Tăng Bạt Hổ. Tuy nhiên tỉnh Tăng Bạt Hổ thay cho tỉnh Bình Định chưa được Trung ương công nhận, trên các văn bản chính thống của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vẫn không thay đổi tỉnh Bình Định, do đó tỉnh Tăng Bạt Hổ tồn tại không được bao lâu.

Trong chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954), Bình Định là tỉnh tự do hoàn toàn, là hậu phương chiến lược trực tiếp của chiến trường khu V, Tây Nguyên, Nam Lào và Đông Bắc Campuchia. Nhân dân Bình Định gian khổ và anh dũng cùng cả nước đánh thắng thực dân Pháp xâm lược, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Geneva. Tuy nhiên, theo tinh thần Hiệp định này, đất nước Việt Nam còn tạm thời chia cắt làm hai miền: Miền Bắc được giải phóng tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào, trong đó có tỉnh Bình Định còn phải chịu dưới ách thống trị của tay sai đế quốc, chờ tổng tuyển cử thống nhất đất nước.

Nhân dân Quy Nhơn (Bình Định) mít tinh mừng ngày thành phố được giải phóng. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Trong khi Hiệp định Geneva (1954) về Đông Dương ký chưa ráo mực, Đế quốc Mỹ hất cẳng Pháp nhảy vào miền Nam dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm hòng biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ. Chính quyền Ngô Đình Diệm chia miền Nam Việt Nam thành hai miền: Từ Bình Thuận trở vào gọi là Nam phần; từ Bình Thuận trở ra vĩ tuyến 17 gọi là Trung phần. Trung phần lại chia thành hai khu vực, gọi là Trung nguyên Trung phần và Cao nguyên Trung phần. Bình Định thuộc Trung nguyên Trung phần và vẫn giữ là một đơn vị hành chính cấp tỉnh như trước đây cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30/4/1975).

Trong suốt 20 năm (1954-1975) đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, quân và dân tỉnh Bình Định đã chiến đấu anh dũng, kiên cường góp phần cùng cả nước đánh thắng hoàn toàn đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng quê hương vào ngày 31/3/1975.

Từ cuối 1975 đến 1989, tỉnh Bình Định hợp nhất với tỉnh Quảng Ngãi lấy tên là tỉnh Nghĩa Bình. Năm 1989, tỉnh Bình Định được tái lập trở lại từ tỉnh Nghĩa Bình.

Nghị quyết số 60-NQ/TW, ngày 12/4/2025 của Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 13 đã quyết định hợp nhất tỉnh Gia Lai và tỉnh Bình Định, lấy tên là tỉnh Gia Lai, trung tâm chính trị-hành chính đặt tại tỉnh Bình Định.

V. Văn hóa– Lễ hội vùng đất Bình Định

1. Nét văn hóaĐông Gia lai – Đất Bình Định xưa

Hát Bả Trạo trong lễ hội cầu ngư, một nét văn hóa đất Bình Định.

Bình Định có một mạch nguồn văn hóa rất xa xưa, nếu phía bắc có nền văn hóa Đông Sơn, phía nam có nền văn hóa Óc Eo, thì Bình Định, trung điểm của khu vực miền Trung có nền văn hóa Sa Huỳnh – Truông Xe. Từng là cố đô của vương quốc Champa mà di sản còn lưu giữ là thành Đồ Bàn và các tháp Chàm với nghệ thuật kiến trúc độc đáo, rêu phong đứng vững trước thử thách của thời gian cùng những giá trị văn hóa, nghệ thuật đích thực.  Những ngọn tháp Chàm ngạo nghễ, đẹp đến ngây ngất bởi lối kiến trúc cho đến bây giờ cũng còn chứa đựng nhiều bí ẩn, vô cùng độc đáo của nhân loại mà ít nơi có được. Những nhà khảo cổ và nghiên cứu nghệ thuật Champa đánh giá những cụm tháp Chàm Bình Định đã đạt tới độ chín muồi của nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc, và đã dung hòa được những phong cách nghệ thuật Champa và Khmer khiến chúng khác với những quần thể tháp Chàm có trước và sau chúng. Với 14 ngọn tháp còn lại, Bình Định (Đông Gia Lai) là địa phương thứ 2 sau Đà Nẵng (Quảng Nam) sở hữu được nhiều tháp Chàm nhất nước ta.

Nghệ thuật múa Champa bên Tháp bánh Ít.

Vùng đất này có nhiều danh lam thắng cảnh tuyệt đẹp, nổi bật là bãi biển Quy Nhơn trải dài cát trắng bên những con sóng vỗ bờ dào dạt, mê đắm lòng người. Cũng bởi vậy mà từ bao đời nay, Bình Định còn được gọi là “Đất thi nhân”. Là nơi sinh ra, nuôi dưỡng, tìm về những tâm hồn thi nhân, nghệ sĩ, các văn thi nhân Đào Duy Từ, Nguyễn Diêu, Đào Tấn, Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Yến Lan, Quách Tấn, Nguyễn Thành Long, Phạm Hổ, Phạm Văn Ký…

Bình Định, quê hương của người anh hùng dân tộc Quang Trung – Nguyễn Huệ, hơn 200 năm đã trôi qua, nhưng dấu ấn về phong trào Tây Sơn, triều đại Tây Sơn vẫn còn in đậm ở nơi đây với những di tích như: Điện Tây Sơn, Bảo tàng Quang Trung – Đàn tế trời đất, Thành Hoàng Đế… Là quê hương của các danh nhân Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân,Nguyễn Đăng Lâm, Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, Ngô Mây, Tăng Bạt Hổ, Diệp Trường Phát…, và  Bình Định còn được biết đến với truyền thống thượng võ và có nền văn hoá đa dạng phong phú với các loại hình nghệ thuật nổi tiếng như bài chòi, hát bội, nhạc võ Tây Sơn, hò bá trạo của cư dân vùng biển… cùng với các lễ hội. Lễ hội ở Bình Định là vốn văn hóa tinh thần đặc sắc của nhân dân Bình Định và được lưu truyền từ đời này sang đời khác. Lễ hội còn là đặc sản văn hóa độc đáo để Bình Định giới thiệu bản sắc văn hóa của mình ra bên ngoài. Ngoài các lễ hội truyền thống như lễ cầu ngư, lễ tá thổ, lễ cầu mùa… của người Kinh và các lễ hội truyền thống của ba dân tộc thiểu số: Bana, Chăm, Hre sống trên quê hương Bình Định, hiện nay còn có các lễ hội nhằm phục vụ các nhu cầu văn hóa tinh thần của nhân dân và thu hút du lịch như: lễ hội chiến thắng Đống Đa, lễ hội văn hóa thể thao miền núi, lễ hội văn hóa thể thao miền biển…

Lễ hội Ngọc Hồi Đống Đa với nhạc võ Tây Sơn hoành tráng.

Đi sâu vào văn hóa các dân tộc, Bình Định là địa bàn sinh sống của nhiều dân tộc khác nhau, mỗi dân tộc lại có những phong tục tập quán độc đáo, riêng có. Có thể điểm qua một số phong tục, tập quán như: Tục thử dâu của người Bana; tục nhuộm răng ăn trầu của người Bình Định xưa, ở Bình Định thời trước ai cũng ăn trầu, vì thế mới có nghề lía trầu giúp Nguyễn Nhạc góp phần gầy dựng cơ nghiệp nhà Tây Sơn,… Về Phương ngữ, người dân Bình Định mặc dù ở chung cùng một mảnh đất nhưng có giọng nói khác biệt rõ rệt ở khu vực phía bắc, phía nam và các địa phương. Lý do khác biệt là do sự hình thành dân cư và dòng chảy giao lưu văn hóa diễn ra.

Dệt thổ cẩm, một nét đẹp truyền thống của người phụ nữ Chăm.

Bình Định cũng là nơi có nhiều nghề và làng nghề thủ công truyền thống, như: Dệt thổ cẩm, nghề làm gốm, nổi danh với gốm Gò Sành, có từ thời Champa (thế kỷ 14 – 15), nghề rèn… Ngày nay, nhiều nghề và làng nghề truyền thống vẫn còn duy trì hoạt động như: nghề nấu rượu ở Bàu Đá, nghề làm bánh tráng(phổ biến ở hầu hết các địa phương), nghề làm đồ gỗ thủ công mỹ nghệ ở Nhơn Hậu (phường An Nhơn mới), nghề làm nón Phú Gia,… Du khách khi đến tham quan sẽ được tận mắt chứng kiến quá trình sản xuất tinh xảo với tay nghề điêu luyện khéo léo của người lao động làm ra những sản phẩm thủ công vừa mang đậm nét văn hóa dân gian, vừa có tính nghệ thuật cao, đồng thời là những sản phẩm lưu niệm độc đáo, có giá trị cho khách tham quan du lịch.

2.. Điểm danh những làng nghề truyền thống trên đất Bình Định

Làng nghề truyền thống Rượu Bàu Đá: Cách Quy Nhơn khoảng 30km về hướng tây bắc, theo quốc lộ 1A đến xóm Bàu Đá, thôn Cù Lâm, xã An Nhơn Tây là đến làng rượu Bàu Đá, một trong những đặc sản của tỉnh Bình Định được tổ chức Kỷ lục Việt Nam công nhận nằm trong TOP 10 đặc sản rượu nổi tiếng Việt Nam.

Bún Song Thằn An Thái: Xuất hiện cách đây hơn 200 năm tại làng An Thái, nguồn gốc của món Bún Song Thằn được cho là do người Hoa di cư đến Bình Định. Điểm độc đáo của Bún Song Thằn không chỉ nằm ở nguyên liệu chính là đậu xanh giàu dinh dưỡng, mà còn ở quy trình chế biến tỉ mỉ, kỳ công, cùng sự hòa quyện của nắng, gió và tinh hoa đất trời xứ Nẫu, mang lại vị ngọt thanh, độ dai tự nhiên và giá trị dinh dưỡng cao. Sợi bún khô có màu trắng ngà, thoạt nhìn giống sợi miến nhưng sáng hơn. Khi nấu chín, bún trở nên trong, giữ được độ dai đặc trưng mà không nát. Bún Song Thằn An Thái chính là cực phẩm tiến vua nức tiếng của Bình Định xưa.

Đậu xanh và sự kỳ công làm nên sự khác biệt của bún Song Thằn

Làng tiện gỗ mỹ nghệ Nhơn Hậu: Tiện gỗ mỹ nghệ là nghề truyền thống ở thôn Nhạn Tháp, xã An Nhơn Tây, các sản phẩm của làng nghề nổi tiếng không chỉ bởi chất lượng, sự tinh xảo mà còn ở chỗ mang tính đặc trưng của văn hóa Bình Định. Các sản phẩm hiện nay của làng nghề được xuất khẩu sang một số nước như: Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản…

Làng rèn Tây Phương Danh: Nằm trên địa bàn phường Đập Đá, nay là phường An Nhơn, nghề rèn có mặt ở Tây Phương Danh phải có đến 300 năm. Cụ tổ là ông Đào Giã Tượng mang nghề từ phương Bắc vào truyền thụ cho người dân địa phương để làm kế sinh nhai, vừa phục vụ sản xuất. Rồi từ đó nghề rèn duy trì và ngày càng phát triển. Hiện nay, sản phẩm của làng rèn Tây Phương Danh đã có mặt khắp nơi trong cả nước, nhất là vùng đất Tây Nguyên. Hằng năm, để nhớ ơn người khai sinh làng Rèn, người Tây Phương Danh tổ chức Lễ hội làng rèn vào ngày 12 tháng 2 âm lịch. Lễ hội quy tụ những thợ rèn ở địa phương và các nơi khác đến.

Làng nón ngựa Phú Gia: Làng nón ngựa Phú Gia thuộc xã Xuân An, cách Quy Nhơn khoảng 45km về hướng bắc, với hơn 400 hộ tham gia sản xuất. Nghề làm nón ở Phú Gia đã có từ rất lâu và được lưu giữ cho đến tận bây giờ. Nón lá Phú Gia nổi tiếng bởi đặc điểm đẹp, bền, rẻ và có 2 loại: Nón ngựa và nón lá, nón lá có quy trình, kỹ thuật hầu như không khác với nón Huế, nón Quảng. Nón ngựa thì công phu hơn, và hầu như chỉ những thợ lành nghề ở Phú Gia mới làm được. Bây giờ loại nón này chủ yếu bán cho những người muốn tìm lại nét xưa, phục vụ khách du lịch hoặc sản xuất theo hợp đồng của thương lái.

Nón ngựa Phú Gia.

Làng nghề đúc đồng Bằng Châu: Nghề đúc đồng Bằng Châu ở Đập Đá (phường An Nhơn) là một trong các làng nghề truyền thống có từ lâu đời. Trước kia ở làng đúc Bằng Châu, những nhà làm nghề đúc đồng thường tập hợp lại thành từng vùng, cụm và ngày càng phát triển. Sản phẩm làm ra ngày một tinh xảo, mang tính mỹ thuật cao, mẫu mã cũng đa dạng hơn như các loại đèn thờ, nồi, bung, mâm, hộp đựng trầu, khay, chiêng cồng…và các loại vật dụng trang trí. Làng nghề vẫn luôn giữ được nét độc đáo riêng của một làng nghề truyền thống, vừa giữ nghề vừa là nguồn mưu sinh, góp phần nâng cao đời sống kinh tế và văn hóa của địa phương.

Làng gốm Vân Sơn: Làng gốm Vân Sơn nằm về phía đông dưới chân núi Long Cốt thuộc phường An Nhơn. Nghề làm gốm ở đây xuất phát từ làng gốm Nhạn Tháp kề bên và có cách đây ít nhất cũng 300 năm. Đất làm gốm là đất sét trắng ngà không lẫn sạn mà chỉ vùng này mới có. Sản phẩm Vân Sơn có đủ loại: chum, vò, am, chậu, thạp, bộng giếng, ấm, nồi…to nhỏ khác nhau. Nhưng làm nhiều, bán chạy hơn cả là các loại chậu hoa cảnh và bếp lò than.

Gốm Vân Sơn.

Làng nghề dệt chiếu cói: Nghề dệt chiếu cói vốn là nghề truyền thống đã có từ rất lâu đời ở phường Hoài Nhơn Bắc và một số địa phương khách ở Bình Định. Chiếu dệt có rất nhiều loại: chiếu khổ rộng, khổ hẹp, chiếu trơn và chiếu hoa. Dệt chiếu hoa rất công phu, chiếu hoa ở Bình Định không phải dệt chiếu trắng xong mới dùng khuôn in hoa lên trên nền như một số vùng khác mà phải chọn sợi cói về nhuộm phẩm, màu sắc tùy theo từng chủ. Màu đỏ, màu xanh, màu lục, màu vàng. Phẩm nấu lên và nhúng sợi cói vào, nhúng từng nạm một và đem phơi. Những sợi cói màu sau khi phơi khô, được đem dệt thành chiếu hoa. Bên cạnh nghệ dệt cói, người dân Bình Định còn sản xuất các sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ cói như: Mũ, túi xách, đệm chà chân…

Những người thợ đang dệt chiếu cói.

Chế biến thảm xơ dừa Tam Quan: Nói về cây dừa Bình Định, là người ta nghĩ ngay về xứ dừa Tam Quan. Theo đó, ngành nghề chế biến các sản phẩm từ dừa Tam Quan cũng được hình thành, nổi bật nhất là sản phẩm thảm xơ dừa. Các sản phẩm xơ dừa của Tam Quan với nguồn gốc thiên nhiên, thân thiện với môi trường, mẫu mã đẹp, phong phú, có độ bền cao đã có mặt khắp nơi và xuất khẩu sang một số nước khác trên thế giới. Ngoài thảm xơ dừa, còn có các sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ dừa như: con cá heo, ba ba, hộp đựng trà từ miễn dừa; giá để bình rượu từ thân dừa; giỏ xách tay, lẵng hoa từ cọng lá dừa…

Làng bánh tráng Trường Cửu: Làng nghề bánh tráng ở Bình Định có khá phổ biến, nhưng nổi tiếng nhất thuộc về làng Trường Cửu, An Nhơn Tây. Bánh tráng Trường Cửu nổi tiếng thơm ngon nhất vùng. Bánh tuy không trắng, không mỏng nhưng rất thơm ngon vàng tùy vào loại mè người ta bỏ vào bánh. Ấy thế mà lại tạo nên hương vị rất thơm ngon, khác biệt. Làng nghề bánh tráng Trường Cửu đã xuất hiện từ hàng trăm năm về trước, cho đến nay đã có khoảng 200 hộ làm bánh chuyên nghiệp.

Bánh tráng Trường Cửu.

Cơ sở sản xuất tôm tre: Từ ngàn xưa tre đã trở nên quen thuộc với mỗi người dân, là biểu tượng của văn hóa làng xã Việt Nam. Rất nhiều sản phẩm sinh hoạt hằng ngày của người dân Việt Nam đã được làm từ cây tre. Không chỉ vậy, ngày nay, qua bàn tay khéo léo của các thợ thủ công tại phường Bình Định, tre đã trở thành những sản phẩm thủ công mỹ nghệ tinh xảo, có giá trị kinh tế cao, đặc biệt là sản phẩm con tôm làm bằng tre rất được du khách ưa thích.

Làng dệt thổ cẩm Hà Ri: Cách Quy Nhơn khoảng 80km, Hà Ri là nơi tập trung nhiều đồng bào dân tộc BaNa nhất Bình Định nên vẫn còn lưu giữ được những nét văn hóa đặc trưng của dân tộc mình, đặc biệt là nghề dệt thổ cẩm. Bất cứ một cô gái nào từ 12 – 13 tuổi ở Hà Ri đều được ba mẹ chỉ cho cách dệt vải, khi rỗi việc hoặc những lúc nông nhàn, chị em phụ nữ lại miệt mài bên khung cửi để dệt ra những tấm vải thổ cẩm đẹp nhất cho mình và cho gia đình. Ngày nay, ngoài các sản phẩm phục vụ cho gia đình, các cô gái BaNa ở Hà Ri còn dệt ra các sản phẩm thủ công như: túi xách, ví, khăn quàng cổ, khăn trải bàn,…

Dệt thổ cẩm Hà Ri.

Làng nghề làm gốm của người Chăm: Vào thế kỉ 11 – 15, Bình Định vốn là trung tâm văn hoá, kinh tế, chính trị của vương quốc Champa. Theo dòng thời gian, hệ thống di sản văn hoá của nơi đây không chỉ là các kiến trúc Chăm độc đáo, mà còn có các làng nghề chế tác gốm nổi tiếng lâu đời. Vào tháng 11/2022, UNESCO đã chính thức ghi danh nghệ thuật làm gốm Chăm là Di sản phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Hiện nay, tại Bình Định có đến 6 trung tâm sản xuất gốm giàu giá trị văn hoá – lịch sử. Khi đến tham quan các tháp Chăm, mọi người có thể ghé đến các làng nghề, trực tiếp chứng kiến nghệ thuật tạo hình gốm đặc sắc nơi đây.

Nghệ thuật làm gốm Chăm được UNESCO vinh danh.

3. Nghệ thuật – Lễ hội đặc sắc ở vùng đất Đông Gia Lai

Đến Đông Gia Lai, du khách sẽ được tận hưởng không khí trong lành của biển, của rừng, được cảm nhận cái gió cái nắng miên man của vùng đất nhiệt đới. Đến đây, du khách cũng được chiêm ngưỡng những nét văn hóa độc đáo, hấp dẫn ở vùng đất này.

Nhạc võ Tây Sơn: Là một nét văn hóa độc đáo ở Bình Định, xuất phát từ phong trào nông dân Tây Sơn cuối thế kỷ 18, đây là loại võ nhằm kích thích sĩ khí của ba quân trong luyện tập, chiến đấu. Theo truyền thuyết võ nhạc Tây Sơn là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên cuộc hành quân thần tốc và chiến thắng oanh liệt của vua Quang Trung trong cuộc chiến chống ngoại xâm. Nhạc võ Tây Sơn gồm 1 bộ 12 cái trống để tượng trưng cho 12 con giáp. Bộ trống được dựng thành giàn theo thứ tự 3 hàng từ lớn đến nhỏ. Nghệ nhân đánh trống có thể khiến người nghe cảm thấy mưa rào thác đổ, khi nhặt, khi khoan, khi dồn dập, khi hào hùng phấn chấn. Người đánh trống vừa đánh vừa di chuyển chứ không ngồi như nhạc công tấu nhạc.

Nhạc võ Tây Sơn – Biểu tượng văn hóa Bình Định.

Chơi nghệ thuật bài chòi: Nghệ thuật hát bài chòi bắt nguồn từ hội bài chòi ngày xưa. Hội thường được tổ chức vào mùa xuân. Người ta dựng 9 chòi hình chữ V, ở giữa là chòi trung ương. Trong một cuộc chơi bài chòi, anh hiệu là người hô những câu thai của từng con bài như: nhứt trò, nhì bí, tam quảng… Kết thúc một hiệp chơi các nghệ nhân hô bài chòi diễn từng đoạn tuồng cổ. Bài chòi Bình Định thu hút khách bằng ngôn ngữ nghệ thuật đặc thù của mình trong hàng loạt làn điệu như hò quảng, xàng về, và các làn điệu dân ca… Sân khấu bài chòi được thể hiện những nét đặc sắc của một bộ môn nghệ thuật dân tộc ngọt ngào và đằm thắm.

Nghệ thuật bài chòi dân gian Bình Định 2022. Ảnh: Đào Ngọc Nhuận

Hát Bội: Là một trong những cái nôi của nghệ thuật hát Bội, Bình Định là nơi có nghệ thuật hát Bội (hát tuồng) rất phát triển gắn liền với tên tuổi của Đào Duy Từ, Đào Tấn, một loại hình nghệ thuật vừa bác học nhưng lại vừa mang tính dân gian gần gũi với quần chúng. Các đoàn hát Bội (tuồng) ở Bình Định được hình thành rộng khắp, với sự giao lưu của nghệ thuật tuồng và võ Bình Định đã đưa tuồng Bình Định lên một tầm cao mới khác lạ hơn so với các đoàn tuồng của Huế hay Nguyễn Hữu Dỉnh của Quảng Nam. Hát Bội sở dĩ nó có tên gọi hát tuồng là vì ngoài việc hát thì yếu tố quan trọng góp phần tạo nên một vở tuồng hay và đặc sắc là hành động điệu bộ của các đào kép. Khi xưa các đoàn hát bội thường được các làng, những gia chủ giàu có hay các lăng, đình ven biển mời về biểu diễn. Sau những màn diễn hay người cầm chầu ném tiền thưởng lên sân khấu. Người cầm chầu trong hát bội là người nắm giữ vai trò “cầm chịch” nghệ thuật, ngồi trước trống chầu để khen chê đào kép, đánh nhịp vũ đạo và điều khiển nhịp độ vở diễn,…vì thế trong dân gian mới có câu “Ở đời có bốn cái ngu: Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu”.

Nghệ thuật hát bội luôn cầu kỳ và đặc biệt Ảnh: Sưu tầm

Lễ hội Đống Đa: Lễ hội Đống Đa hằng năm được tổ chức vào ngày mồng 5 tháng Giêng âm lịch tại thị trấn, xã Tây Sơn để tưởng nhớ các thủ lĩnh phong trào Tây Sơn, đặc biệt là người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ và chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa (1789), đánh thắng 29 vạn quân Thanh. Ngoài nghi lễ truyền thống còn có nhiều hoạt động văn hóa dân gian các dân tộc Kinh, Bana, Chăm… Nhiều cuộc biểu diễn võ thuật như: đấu võ, đánh côn, đi quyền… Tiết mục độc đáo của lễ hội là cuộc thi đánh trống bộ, mỗi bộ 12 chiếc trống da, còn gọi là trống trận Tây Sơn và diễn cảnh đánh trận giả làm sống lại khí thế hào hùng của nghĩa quân Tây Sơn năm xưa trên đất Bình Định.

Lễ hội kỷ niệm chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa. Ảnh: Viết Hiền

Lễ hội Đổ giàn: Có 2 làng võ nổi tiếng là An Thái và An Vinh. Tại đây, bên cạnh cộng đồng người Việt, còn có cộng đồng người Hoa di cư sang làm ăn, sinh sống. Người dân bản địa gọi họ là dân “Ngũ Bang”. Xưa kia, nơi đây từng là một trong những trung tâm giao thương, mua bán sầm uất. Chính điều kiện kinh tế – xã hội của vùng đất trù phú này đã “khai sinh” ra Lễ hội làm Chay – Đổ giàn, tranh heo. Cứ 4 năm một lần, vào dịp lễ Vu Lan các năm Tỵ, Dậu, Sửu, tại vùng đất này lại diễn ra lễ hội. Địa điểm dựng giàn là khu vực gò Am Hồn, chùa Bà Hỏa, chùa Hội Quán. Trước khi Lễ hội Đổ giàn, tranh heo diễn ra, các chùa tiến hành làm lễ rước nước, khai kinh, làm chay, tụng kinh cầu nguyện cho bá tánh được an cư, lạc nghiệp. Phát chẩn cho người nghèo(chẩn bần)…Khi trong chùa kết thúc nghi thức cúng vãn, gióng trống, chiêng báo hiệu cho bên ngoài mở đầu Lễ hội Đổ giàn, tranh heo. Bên ngoài thiết lập một đàn cúng cao, trên đó đặt hương, hoa, trà, quả, cỗ gạo, bánh và đặc biệt là cỗ heo quay. Sau những nghi thức cúng lễ cổ truyền, vị chủ tế tuyên bố xô giàn, cho phép cuộc tranh tài bắt đầu. Người tranh tài là các võ đường quanh vùng, các lò võ cử đội tham gia cuộc thi, bố trí trận pháp xông vào giành heo quay và mang con heo chạy về vị trí đã định. Trong những ngày diễn ra hội đổ giàn, còn có nhiều hoạt động phong phú khác như hát bội, phóng sanh, múa lân… Những ngày đó, nhà nào ở An Thái cũng treo đèn kết hoa, trống giong cờ mở rộn rã suốt ngày đêm.

Lễ hội Đổ Giàn Tinh hoa văn hóa võ thuật Bình Định.

Hội Xuân chợ Gò: Hội Xuân chợ Gò được tổ chức vào ngày mồng một Tết nguyên đán tại chợ Gò, Trường Úc, xã Tuy Phước. Đây chủ yếu là họp chợ, mua bán đầu năm lấy may mắn cho cả năm. Nhưng việc mua bán chỉ tượng trưng, đi hội vui là chính. Trai gái xưa đi hội chợ Gò chen chân, liếc mắt để tìm bạn tình. Tuổi thiếu niên rủng rẻng tiền lì xì thì đi mua đồ chơi, đồ ăn thức uống. Người có tuổi tham dự các môn cờ tướng, đá gà… Lễ hội chợ Gò cách đây khoảng trên dưới 300 năm. Tương truyền hai vị tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng chỉ huy đóng quân tại khu vực này, đã cho mở hội chợ Gò để quân sĩ và nhân dân vui chơi cho vơi đi nỗi nhớ gia đình ngày tết. Lễ hội chợ Gò ngày nay có phần lễ trang trọng và phần vui hội. Các trò chơi dân gian được tổ chức: múa lân, chọi gà, cờ tướng, đá cầu, đập niêu, kéo co.. Chợ mang nét đẹp vùng Tuy Phước, họp chợ một ngày vui suốt năm.

Lễ hội đua thuyền: Xong hội Chợ Gò, ngay ngày hôm sau Mồng 2 tết du khách có thể đến với hội đua thuyền ở Gò Bồi thuộc xã Tuy Phước, quê ngoại của nhà thơ Xuân Diệu. Gò Bồi có sông Gò Bồi, có cửa thông ra Đầm Thị Nại. Trai gái đội đua thuyền của các thôn trong xã và cả các xã bạn cùng đến thi tài trên sóng nước bằng những chiếc thuyền thúng, thuyền rồng lao vun vút giữa tiếng reo hò, cổ vũ của hàng ngàn khán giả… góp phần cho ngày tết cổ truyền thêm vui ở miền quê vùng sông nước.

Lễ hội cầu ngư: Hằng năm, người dân vùng biển tổ chức lễ cầu ngư, cúng “Ông Nam Hải” hay cá voi để cầu xin cho trời yên biển lặng, tàu thuyền ra khơi vào lộng được nhiều tôm cá. Ở Bình Định, lễ hội cầu ngư có ở hầu hết các vùng ven biển các huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát, Tuy Phước và TP. Quy Nhơn (cũ) và thường được tổ chức từ tháng 2 đến tháng 6 âm lịch.

Lễ hội Cầu ngư làng Nhơn Hải. @:Nguyễn Phan Dũng Nhân – Tùng Lâm.

Vùng đất Đông Gia Lai còn rất nhiều những lễ hội truyền thống như lễ hội đô thị Nước Mặn, lễ hội cư dân miền biển, lễ hội đâm trâu,… mang nhiều màu sắc văn hóa đáng để du khách cùng trải nghiệm khám phá.

VI. Vùng đất Bình Định – Những địa danh du lịch hấp dẫn

Đến Bình Định, du khách không chỉ được khám phá nét đẹp văn hóa ngàn năm của các di tích Chăm nổi tiếng, nghệ thuật Tuồng, bài Chòi, thưởng thức những tiết mục võ cổ truyền độc đáo, ghé thăm và trải nghiệm cuộc sống dân dã, bình dị của những làng nghề lâu đời nổi tiếng với vô số sản phẩm độc đáo, giàu hàm lượng văn hóa mà còn được đắm mình vào khung cảnh thiên nhiên xinh đẹp, những bãi cát dài ngập tràn ánh nắng, làn nước trong xanh và những thắng cảnh nổi tiếng như Kỳ Co Eo Gió, Nhơn Hải, Ghềnh Ráng,…Nơi 1 bên rì rào sóng vỗ, một bên trùng điệp núi non tạo nên cảnh sắc bao la, hùng vĩ làm say đắm lòng người của miền đất Võ. Khám Phá Việt Nam xin được giới thiệu những điểm tham quan du lịch nổi tiếng ở Bình Định đến du khách:

Biển Nhơn Hải nhìn từ trên cao.

Bảo tàng Quang Trung: Cách Quy Nhơn 50 km về phía Tây Bắc, thuộc làng Kiên Mỹ, xã Bình An. Bảo tàng được xây dựng năm 1978 theo lối kiến trúc cổ, dáng vẻ uy nghiêm. Bảo tàng có 9 phòng trưng bày với những di vật quan trọng liên quan đến phong trào khởi nghĩa Tây Sơn. Nằm trong quần thể Bảo tàng Quang Trung là điện thờ Tây Sơn Tam Kiệt và các danh tướng thời Tây Sơn. Điện được xây dựng trên chính nền nhà cũ của ba anh em nhà Tây Sơn. Điện được nhân dân góp công xây dựng vào năm 1958 và hoàn thành vào năm 1960 với tổng thể diện tích 2.325m2. Tại khu di tích này còn có 2 di tích cực kỳ quý giá là cây me cổ thụ, giếng nước. Hai di tích này có từ thời thân sinh của anh em nhà Tây Sơn, đến nay đã hơn 300 năm, là những di sản vô giá gắn liền với thời thơ ấu của 3 anh em họ Nguyễn.

Cây me cổ thụ trong khuôn viên bảo tàng Quang Trung.

Bảo sơn Thiên ấn: Cách thành phố Quy Nhơn khoảng 48 km theo đường quốc lộ 19. Đây được tương truyền là nơi 3 anh em Tây Sơn phát tích cuộc khởi nghĩa. Năm 2016, Bảo Sơn Thiên Ấn được tỉnh Bình Định đầu tư, phục dựng và trở thành điểm tham quan, du lịch nổi tiếng. Cũng như là điểm tổ chức các sự kiện tâm linh của lãnh đạo, nhân dân địa phương. Cách Bảo sơn Thiên ấn khoảng 2 km có Đập dâng Văn Phong. Đây là một đập tràn piano lớn ở miền Trung, có công năng tích trữ nước cho canh tác nông nghiệp của vùng và cũng là nơi có phong cảnh hữu tình cho khách tham quan từ các nơi tìm về.

Bãi tắm Quy Nhơn: Đây là bãi tắm có bờ biển dài hơn 5km với đường cong như vầng trăng khuyết rất độc đáo. Đến đây, bạn không chỉ có thể tham gia các hoạt động tại bãi biển mà còn thuận tiện ghé phố ẩm thực Xuân Diện nằm cạnh bên. Thời điểm lý tưởng đến đến bãi biển Quy Nhơn là từ tháng 2 đến tháng 9 hằng năm. Lúc này thời tiết Quy Nhơn hợp với các hoạt động với biển và biển cũng rất êm. 

Biển Quy Nhơn.

Biển Kỳ Co: Thuộc bán đảo Nhơn Lý nằm cách thành phố 21km, biển Kỳ Co đẹp nguyên sơ với bãi cát trắng cùng những ngọn núi cao kỳ vĩ. Đặc biệt, biển ở đây rất trong xanh, nông và lặng sóng, thuận tiện cho hoạt động tắm biển, cắm trại, lặng ngắm san hô hoặc chèo thuyền thăm thú phong cảnh. Một lần tận mắt chiêm ngưỡng vẻ đẹp thiên nhiên ấn tượng của Kỳ Co chắc chắn là trải nghiệm du lịch xứng đáng với bất kỳ ai.

Biển Kỳ Co.

Eo Gió: Eo gió nằm là một đoạn có hình cung nằm giữa 2 mỏm núi cao sát biển, thuộc eo biển xã Nhơn Lý. Nơi đây hội tụ phong cảnh kết hợp giữa núi cao và biển xanh cùng với những khối đá hiểm trở, hoang sơ tạo nên vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Cũng vì thế mà Eo Gió trở thành địa điểm check-in lý tưởng nhất tại Bình Định.

Các bạn trẻ thoả thích check – in tại Eo Gió.

Tịnh xá Ngọc Hòa: Nằm sát Eo Gió, tịnh xá Ngọc Hòa là chốn tâm linh yên bình, tĩnh lặng thu hút nhiều du khách ghé thăm. Tịnh xá trưng thờ bức tượng Phật Quan Âm cao 30m cực lớn hướng nhìn về biển và núi.

Đầm Thị Nại: Là một trong các địa điểm du lịch ở Bình Định sở hữu sức quyến rũ không thể chối từ. Không chỉ là địa danh có rừng ngập mặn thu hút du khách, đầm còn có cầu Thị Nại nằm giữa khung cảnh thiên nhiên biển núi hội tụ đẹp nên thơ. Đặc biệt hơn, ở trong đầm có một ngọn núi nhỏ với ngọn miếu thờ thủy thần, khi nhìn từ xa trông rất giống một ngọn tháp cổ trên biển.

Ngắm hoàng hôn trên Đầm Thị Nại – Một khoảnh khắc khó quên Ảnh: Sưu tầm

Hòn Khô: Sở hữu vẻ đẹp thơ mộng, Hòn Khô được mệnh danh là Maldives của Việt Nam. Đến đây, bạn sẽ phải say mê với khung cảnh thiên nhiên hoàn toàn hoang sơ và yên bình. Đặc biệt, tại đây một khi nước rút sẽ có con đường dài 500m dẫn đến làng chài Nhơn Hải. Ngoài ra, bạn có thể tham gia những trải nghiệm thú vị như lặn biển, bơi lội, đi thuyền, thưởng thức ẩm thực địa phương…

Cảnh đẹp hòn khô.

Mũi Rồng: Mũi Rồng, thuộc xã Phù Mỹ Đông, cách Quy Nhơn 60km về phía Bắc. Là địa điểm du lịch Bình Định không thể bỏ qua. Nơi đây là một ngọn núi có hình dáng trông như một con rồng khổng lồ đang nằm trên biển. Đi dọc theo đường sát biển, bạn có thể ngắm nhìn cảnh thiên nhiên đẹp bắt mắt giao thoa giữa biển xanh bao la và trời cao hùng vĩ.

Đảo Yến Quy Nhơn: Nằm trên bán đảo Phương Mai, nơi dãy núi Triều Châu nhô ra biển khoảng 15km. Sự kiến tạo tự nhiên này đã tạo ra những ngọn núi như Hòn Chóp Vung, Hòn Mai… và trong số đó ngọn núi án ngữ phía Nam có tên đảo Hòn Yến. Từ mũi Tấn, du khách ngồi thuyền khoảng 2 giờ đồng hồ sẽ đến được Đảo Yến. Dừng chân tại Đảo, ngay tức khắc du khách sẽ ngỡ ngàng cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp tại đây, nơi có những hang động hàng vạn năm tuổi, các vòm đá cao hùng vĩ, những hang động hiểm trở,…ngắm nhìn từng đàn chim yến chao lượn.

Toàn cảnh Đảo Yến Bình Định Ảnh: Sưu tầm

Ghềnh Ráng Tiên Sa: Ghềnh Ráng – Tiên Sa nằm cách trung tâm thành phố khoảng 3 km về phía Đông Nam. Điểm đặc biệt của nơi đây chính là quần thể những bãi đá nằm liền kề nhau và những bãi đá tập trung theo đường cong của eo núi Xuân Vân. Nhờ vào vẻ đẹp độc đáo mà Ghềnh Ráng đã được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng là di tích quốc gia.

Bãi tắm Hoàng Hậu: Đây là một trong những bài tắm đẹp nổi tiếng nhờ vẻ đẹp hoang sơ, hùng vĩ. Bên cạnh tận hưởng cảnh sắc biển trời đẹp thơ mộng, bạn cũng có thể thưởng thức hải sản tươi ngon được chế biến thơm ngon ngay khi đánh bắt.

Cù Lao Xanh: Được gọi là hòn ngọc giữa biển Đông, Cù Lao Xanh xứng danh là điểm du lịch nổi tiếng ở Bình Định. Nơi đây được thiên nhiên ban tặng cảnh sắc thiên nhiên với trời biển bao la đẹp như tranh vẽ. Đặc biệt, ngắm cảnh hoàng hôn và bình minh ở Cù Lao Xanh chắc chắn là khoảnh khắc đẹp lay động lòng người. Ngoài ra, bạn còn có thể trải nghiệm lặn ngắm san hô thú vị cùng người dân địa phương tại đây.

Vẻ đẹp thơ mộng của hòn đảo Cù Lao Xanh.@Shutterstock

Bãi Xếp: Khu du lịch nghỉ dưỡng Bãi Xếp nằm cách trung tâm thành phố 20km về phía Nam. Đây là địa danh nằm trong danh sách 16 “hòn ngọc bí ẩn” của Châu Á do Business Insider bình chọn. Đến đây, du khách sẽ được chiêm ngưỡng khung cảnh thiên nhiên yên bình với bãi biển trong xanh. Bờ biển ở Bãi Xép chỉ dài khoảng 500m nhưng lại sở hữu những cảnh quan thiên nhiên hài hoà, độc đáo.

Thành Cổ Hoàng Đế: Trước kia là thành Đồ Bàn. Thành được xây dựng vào cuối thế kỷ 10, dưới triều đại vua Yangpuky Vijaya. Đây là kinh đô cuối cùng của vương quốc Chăm Pa. Các vua Chăm đã đóng ở đây từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 15. Thế kỷ 18, Thành cổ Hoàng đế từng là nơi đóng quân của đoàn quân Tây Sơn, sau đó trở thành kinh đô dưới thời hoàng đế Thái Đức – Nguyễn Nhạc. Đến bây giờ, tòa thành này là nét kiến trúc còn sót lại của nền văn hóa, lịch sử hào hùng của người Chăm Pa cổ.

Tháp Bánh Ít: Từng được người Pháp gọi là Tour d’argent, nghĩa là tháp Bạc. Còn trong tiếng J’rai thì nơi này được mang tên Yang Mtian. Tiếng Việt thì được gọi là tháp Bánh Ít, do khi nhìn từ đằng xa, những ngôi tháp này có tạo hình giống chiếc bánh ít nên được đặt tên theo lẽ đó. Tháp cách trung tâm Quy Nhơn 20km, cả một quần thể tháp tọa lạc trên ngọn đồi tại thôn Đại Lộc, xã Tuy Phước Bắc, gần nơi nhánh sông Kôn chảy ngang qua. Được bao phủ xung quanh bởi đồi núi và sắc xanh của cỏ cây nên tháp Bánh Ít tựa như một nơi ẩn náu bí ẩn trong truyện cổ tích, đứng sừng sững trên ngọn đồi với diện mạo uy nghiêm và hùng vĩ, mang đậm dấu ấn lịch sử theo thời gian. Về kiến trúc tổng thể, tháp Bánh Ít gồm tổng cộng 4 tháp được xây dựng từ cuối thế kỷ 11, đầu thế kỷ 12 với đa dạng các hình dáng và kích thước, phục vụ cho các mục đích khác nhau. Trong đó, đi từ ngoài vào trong gồm có: tháp Cổng, tháp bia, đền thờ chính và cuối cùng là tháp Hỏa. Trong quá trình khảo cổ và khai quật các phế tích còn sót lại, các nhà nghiên cứu cho rằng có thể số lượng kiến trúc tại nơi này có thể còn nhiều hơn thế, đủ để tạo nên một trung tâm tôn giáo hoàn chỉnh.

Cụm tháp Bánh Ít.

Tháp Đôi: Cách trung tâm Quy Nhơn 3 km, còn được gọi là tháp Hưng Thạnh, gồm 2 tháp, một tháp cao 18 m và một tháp cao 20m. Tháp Đôi được gọi là “độc nhất vô nhị” của nghệ thuật kiến trúc Chămpa. Cả hai tháp không phải là tháp vuông nhiều tầng thường thấy của tháp Chăm mà là một cấu trúc gồm 2 phần chính: Khối thân vuông và phần đỉnh hình tháp mặt cong, các góc tháp hiện lên những tượng chim thần Garuda hai tay đưa cao như muốn nâng đỡ tháp. Về lịch sử hình thành, tháp Đôi mang âm hưởng của kiến trúc Khmer trong nó bởi nơi này được xây dựng vào cuối thế kỷ 12 khi nước Champa và Chân Lạp (nhà nước đầu tiên của người Khmer) vẫn còn xảy ra chiến tranh kéo dài. Ngoài ra, tòa tháp đôi này còn được biết với những tên gọi khác như tháp Sri Banoi (trong tiếng J’rai).

Tháp Đôi tinh hoa văn hóa của Chăm Pa xưa. Ảnh: Hiền Nguyễn

Tháp Dương Long – Tháp Ngà: Là một công trình kiến trúc Phật giáo nổi tiếng tại Tây Sơn – Bình Định. Tháp được xây dựng bởi cộng đồng người Chăm vào khoảng thế kỷ 12 – 13, thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của văn hoá Chăm Pa. Cụm tháp này gồm có ba tháp, mỗi tháp có 10 tầng, cao lần lượt 33m, 39m và 32m và được xây dựng thẳng hàng theo trục Bắc – Nam. Tháp có kích thước đồ sộ và hình dáng đặc biệt hơn so với các ngôi tháp Chăm Pa khác. Công trình này là sự giao hoà của đặc trưng kiến trúc Chăm Bình Định và kiến trúc Khmer. Sự kết hợp hoàn hảo giữa kỹ thuật xây tháp gạch của người Chăm và kỹ thuật lắp ghép, tạo tác trên đá của người Khmer đã tạo nên một kiệt tác nghệ thuật kiến trúc nổi bật. Theo các nhà nghiên cứu, tháp thờ phụng các vị thần trong đạo Bàlamôn, bao gồm Brahma, Visnu và Siva – ba vị thần tối cao của Ấn Độ giáo. Sau này, những vị vua có công với đất nước cũng được thờ phụng trong các tháp. Với những giá trị rõ nét về văn hoá – lịch sử, Tháp Dương Long được Thủ tướng Chính Phủ trao tặng di tích quốc gia đặc biệt năm 2015.

Tháp Chàm Dương Long.

Chùa Ông Núi: Chùa Ông Núi nổi tiếng là địa điểm du lịch thu hút đông đảo du khách với bức tượng Phật ngồi lớn nhất Đông Nam Á với chiều cao 108m. Đến chùa, du khách có thể hòa vào dòng người hành hương cầu may mắn và bình an cho gia đình. Đồng thời, từ vị trí của chùa nằm trên ngọn đồi cao, bạn có thể ngắm nhìn khung cảnh núi rừng hùng vĩ bên dưới.

Khung cảnh hùng vĩ của chùa @nnle_0902

Tiểu chủng viện Làng Sông: Danh lam thắng cảnh Bình Định này được xem là “cái nôi” của chữ quốc ngữ. Tiểu chủng viện Làng Sông nằm giữa một cánh đồng rộng bao la, bát ngát. Công trình này được thiết kế theo phong cách Gothic – kiến trúc đặc trưng của nhà thờ, cung điện ở châu Âu. Đến nay, Tiểu chủng viện Làng Sông gần như vẫn giữ được nguyên vẹn với các dãy hành lang dài, những dãy nhà rêu phong trầm mặc. Tại đây, du khách có thể tìm hiểu các tài liệu quý giá về chữ quốc ngữ, check-in những tấm hình “triệu like”…

Với những giá trị lịch sử, văn hóa cùng những kiến trúc cổ kính, độc đáo ẩn hiện hài hòa trong không gian tĩnh lặng.

Thập Tháp Di Đà: Chùa Thập Tháp do nhà sư Nguyên Thiều thiền phái Lâm Tế (pháp danh Siêu Bạch) dựng vào năm 1665, thời chúa Nguyễn Thái Tông, chùa thuộc KP Vạn Thuận, phường An Nhơn Bắc. Chùa tọa lạc trong phạm vi thành Đồ Bàn, đế đô của vương quốc Chămpa cũ. Chùa được chúa Nguyễn Phúc Chu ban cho biển “Thập Tháp Di Đà Tự”. Đến nay Chùa đã có lịch sử 340năm. Chùa có 4 khu chính, bên trong nội thất được trang trí, chạm trổ tinh vi với các họa tiết trên gỗ quý, những đường nét rồng bay, phượng múa cách điệu rất trang nhã. Chùa xây bằng gạch nung đỏ lấy từ 10 ngọn tháp Chàm đổ nát ở đồi Long Bích nên mới gọi là chùa Thập Tháp. Chùa Thập Tháp là một trong những ngôi chùa lớn và cổ xưa nhất ở Bình Định cũng như miền trung.

Chùa Thập Tháp Di Đà.

Mảnh đất Đông Gia Lai còn nhiều di tích văn hóa, lịch sử, địa danh thắng cảnh như: Bảo tàng Bình Định, trung tâm Khám phá khoa học Quy Nhơn, đồi Thi Nhân – mộ Hàn Mặc Tử, các biển Quy Hòa, hòn Sẹo, Nhơn Hải, Bãi Rạng, Hải Giang, Cát Hải, Mỹ Thắng, Phú Thứ, Lộ Diêu, Mũi Gành, Hoài hải, Đề Gi, Vũng Bồi,… Hải đăng cổ Cù Lao Xanh, suối khoáng nóng Hội Vân, bán đảo Phương Mai, suối Tiên, thắng cảnh Hầm Hô, quần thể Núi Bà, Hồ Núi Một, di tích Động Cườm, lăng Võ Tánh, Từ đường dòng họ Bùi, chùa Thiên Hưng, chùa Long Khánh, chùa Sơn Long, chùa Linh Phong, tu viện Nguyên Thiều. Di tích Chăm Pa có tháp Phú Lốc – tháp Vàng, tháp Thủ Thiện, tháp Cánh Tiên – tháp Đồng,… hẹn du khách cùng khám phá.

VII. Ẩm thực ở Đông Gia Lai vùng đất Bình Định

Ngoài các đặc sản của miền duyên hải miền Trung nói chung, Bình Định còn có: rượu Bàu Đá, bánh tráng nước dừa, bún Song Thằn, bánh hỏi, nem chả Chợ Huyện, bánh ít lá gai,… Ngày nay ở vùng Hoài Nhơn còn có thêm đặc sản Cá Ngừ Đại Dương dân địa phương gọi là cá “Bò Gù”. Chính vì thế, ẩm thực cũng là yếu tố tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt cho du lịch Bình Định bên cạnh những thắng tích, cảnh quan nổi tiếng. Dưới đây là một số đặc sản Bình Định nức tiếng để bạn có thể thưởng thức và chọn mua về làm quà khi đến đất võ nhé.

Bánh hỏi lòng heo Quy Nhơn: Bánh hỏi cháo lòng Quy Nhơn có nguồn gốc từ xã Diêu Trì là món ăn quen thuộc trong bữa sáng của người dân Bình Định. Được làm từ bột gạo, bánh hỏi có sợi mảnh dẻ hơn so với bún và thường được tẩm cùng dầu hẹ, ăn kèm với lòng và thịt heo thái miếng. Món ăn sáng Quy Nhơn này càng thêm đượm vị khi được thưởng thức cùng cháo lòng và chấm với nước mắm ớt.

Đặc sản bánh hỏi cháo lòng Quy Nhơn Ảnh: Sưu tầm

Bún chả cá Quy Nhơn: Bún chả cá Quy Nhơn ghi dấu ấn với hương vị thơm ngon đậm đà. Món ăn có thành phần chính là chả cá dai ngọt và sợi bún nhỏ mềm. Điểm nhấn của món ngon này còn đến từ nước dùng ngọt thanh, hài hòa. Tô bún chả cá thường được phục vụ nóng hổi, kết hợp thêm nhiều loại rau thanh mát và nước chấm đậm đà tạo nên hương vị thơm ngon. 

Mắm nhum An Mỹ: Mắm nhum An Mỹ là một trong những loại mắm độc đáo của người Bình Định. Loại mắm này được làm bằng cách ủ thịt nhum trong chum sành với ít muối hạt từ 10 đến 15 ngày. Thành phẩm thu được là loại mắm nhum chín mềm, nhuyễn tan, sền sệt màu đỏ đục và hương thơm đặc trưng. Khi thưởng thức, mắm nhum được pha thêm với tỏi và tiêu nguyên hạt để tạo ra món mắm độc đáo, hòa quyện hương vị mặn, chua, cay, ngọt. Đặc sản Bình Định này thường được ăn cùng với bún hoặc dùng để chấm bánh tráng cuốn thịt heo, rau sống. 

Mắm Nhum An Mỹ, đặc sản quý của người Bình Định.

Nem chợ Huyện: Nem Chợ Huyện là đặc sản Bình Định vô cùng nổi tiếng với hương vị riêng biệt, không mềm như nem Thủ Đức và cũng không ngọt như nem Lai Vung hay nem An Cựu. Nem của đất võ có vị dai dai, giòn sần sật, chua và ngọt thanh lôi cuốn. Ruột nem có màu hồng hồng, cuốn bên ngoài là lớp lá ổi và ngoài cùng là vỏ lá chuối tươi xanh. Nem chợ Huyện thơm lựng khi được nướng than và ăn kèm với rau mùi, tía tô, nước chấm. Ngoài ra, nem chả chợ Huyện còn được cuốn với bánh tráng cùng rau và chả ram.

Nem chợ Huyện và Tré, đặc sản Bình Định thường được bán tại các tiệm nem chả.

Tré Bình Định – món ăn nhậu rất được yêu thích: Tré Bình Định trong dáng hình của những bó rơm nhỏ xinh, thường xuất hiện tại các tiệm chả, hàng quán. Đây là món nhậu phổ biến của người dân địa phương, thường kết hợp với rượu Bàu Đá. Nguyên liệu chính của món đặc sản này bao gồm: tai heo, thịt đầu heo, thịt ba chỉ và gia vị như: mè, thính, riềng, ớt, lá ổi non và tỏi. Món tré có hương vị đa dạng, tổng hòa giữa vị mặn, ngọt, béo, chua, cay và chát, thích hợp dùng làm món khai vị trong các bữa tiệc và cho bữa ăn vặt.

Bún Song Thằn: Bún Song Thằn còn được đọc trại là bún Song Thần. Đây là một đặc sản quý của Bình Định được làm từ đậu xanh và nổi tiếng với hương vị thơm ngon đặc biệt, có giá trị dinh dưỡng cao. Loại bún này thường được nấu hoặc xào với tôm, thịt nạc hoặc lòng gà, tạo nên hương vị thơm ngon, ngọt mát. Bún Song Thần được đóng gói dạng khô là đặc sản Bình Định làm quà được nhiều du khách chọn mua.

Bún Song Thằn. Ảnh Sưu tầm

Bánh xèo tôm nhảy Mỹ Cang: Đây là món ngon độc đáo có lớp vỏ mỏng giòn và tôm đất tươi ngon. Khi ăn, bánh xèo thường được cuốn với bánh tráng, thêm rau sống, xoài và dưa leo xắt mỏng. Nước mắm đầy đủ ớt, tỏi, chanh, đường là điểm đặc biệt mang lại hương vị hoàn hảo cho món bánh xèo tôm nhảy nổi tiếng. 

Bánh xèo tôm nhảy Mỹ Cang có lớp vỏ mỏng giòn và tôm đất tươi ngon. Ảnh: Sưu tầm

Bánh canh chả cá Quy Nhơn: Bánh canh chả cá Quy Nhơn là đặc sản nổi tiếng, được nhiều thực khách yêu thích. Món ăn có hương vị đặc sắc với sợi bánh canh dai mềm, nước dùng thanh ngọt tự nhiên và đầy ắp topping là các loại chả cá chiên, chả cá hấp thơm ngon. Tô bánh canh càng thêm đặc sắc khi được nêm cùng hành, hẹ xắt nhuyễn và một chút ớt, chanh.  

Bún tôm Châu Trúc: Bún tôm Châu Trúc là món ăn dân dã, thấm đẫm bản sắc của vùng thôn quê đất võ. Món ăn có thành phần chính là sợi bún gạo mềm và thịt tôm đất tươi được giã nhuyễn cùng muối và ớt. Trước khi thưởng thức, thịt tôm được cho vào bát, thêm chút gia vị, nước mắm và chan lên nước luộc bún đang sôi, khuấy đều. Sau đó, bún được cho vào tô, thêm hành ngò, chút tiêu xay và ăn với bánh tráng nướng giòn. Tất cả nguyên liệu hòa quyện tạo nên hương vị thanh ngọt, cay cay hấp dẫn.  

Bánh Ít lá gai: Bánh Ít lá gai Bình Định là một loại bánh đặc sản của vùng đất thượng võ. Thức bánh có hình chóp nón, vỏ dẻo mịn màu lá gai đen nhánh và bên trong là nhân đậu xanh hoặc nhân dừa. Món ăn mang đậm hương vị của ẩm thực Bình Định với sự kết hợp khéo léo của các nguyên liệu thôn quê như lá gai, nếp, đậu, dừa, gừng, đường cát…Khi ăn, bạn sẽ cảm nhận được độ dẻo thơm của bột nếp, vị ngọt của đường, vị bùi béo của đậu xanh, dừa non và một chút thơm cay của gừng. 

Đặc sản Bình Định bánh ít lá gai có vỏ dẻo mềm và nhân đậu xanh hoặc nhân dừa thơm béo.

Gié bò Tây Sơn: Đặc sản gié bò Tây Sơn là món ăn độc đáo được chế biến từ ruột non của bò. Chất gié từ ruột tươi được tẩm ướp gia vị kỹ lưỡng, xào chín, sau đó đun với nước dừa, vớt bọt kỹ và để nguội lấy nước trong. Gan bò và ruột non cũng được ướp gia vị, xào thơm. Tiết bò cắt miếng và luộc chín. Các nguyên liệu được cho vào nồi nấu chung với nước gié, thêm sả cây, gừng nướng, tai vị, lá giang, vài giọt mật bò và nêm nếm gia vị vừa ăn. Món gié bò Tây Sơn thường được ăn với bún, rau sống và bánh tráng mè nướng. Hương vị món ăn vô cùng độc đáo với vị cay nồng, hơi nhân nhẫn và chua nhẹ, tạo nên trải nghiệm ẩm thực độc đáo rất riêng.

Gỏi cá chích: Gỏi cá chích là một loại cá nước ngọt có thân hình nhỏ, dài, sống ở sông, hồ, ao, suối ở Bình Định. Loài cá này có thịt thơm ngọt, không tanh nên thường được lọc xương, trộn gỏi cùng với chanh/giấm, hành tây, dừa nạo. Món gỏi càng thêm dậy vị khi ăn cùng bánh tráng, cuốn thêm dưa leo, rau sống và chấm với nước mắm chua ngọt đậm đà. Ngoài ra, cá chích còn được người dân địa phương chiên giòn và cuốn cùng bánh tráng, rau thơm. 

Cua huỳnh đế Tam Quan: Cua huỳnh đế được mệnh danh là “vua” của các loài cua và có nhiều ở vùng biển Tam Quan và Ðề Gi. Xưa kia, đây là đặc sản tiến Vua, thường xuất hiện trên mâm vàng thiên tử. Thịt cua huỳnh đế chắc mẩy, thơm ngọt thường được hấp hoặc luộc chấm muối ớt hoặc chế biến thành món cháo bổ dưỡng.

Cua huỳnh đế Tam Quan có thịt săn chắc, thơm ngọt là đặc sản Bình Định nổi tiếng.

Món ăn đặc sản Bình Định phải thử – cháo bò: Cháo bò là đặc sản Bình Định đậm vị được nhiều thực khách yêu thích. Món ăn có hương vị vô cùng đặc sắc với nước cháo đậm đà, cay cay do được hầm từ xương bò và các loại gia vị. Tô cháo thường phục vụ nóng hổi với đầy ắp thịt bò, gân bò, xương bò và các loại lòng bò, tạo nên bữa ăn ngon và bổ dưỡng.

Bánh hồng: Bánh hồng đặc sản Bình Định nguyên bản có màu trắng đục hoặc được thêm màu thực phẩm để tạo nên màu hồng hoặc xanh. Bánh hồng Bình Định được làm từ bột nếp ngon, dừa xắt sợi và đường cát. Sau nhiều công đoạn thực hiện, bánh thành phẩm được rắc lên một ít bột năng. Bánh có vẻ ngoài núng nính cùng độ dẻo dai, vị ngọt thanh, béo thơm sần sật và hương thơm thoảng nhẹ của gạo nếp. 

Vẻ ngoài hấp dẫn của bánh Hồng.

Bún sứa Quy Nhơn: Chỉ một lần nếm thử, món bún sứa Quy Nhơn sẽ khiến thực khách khó quên bởi hương vị chua ngọt của nước lèo cùng những miếng sứa tươi giòn sần sật. Món ăn được phục vụ nóng hổi với nhiều loại rau sống thanh mát và chén nước chấm đậm đà.

Bánh Ướt: Là đặc sản từ vùng Hoài Nhơn. Món ăn được làm từ bột gạo tráng mỏng và xếp thành nhiều lớp gối lên nhau. Điều thú vị của món đặc sản Bình Định này là có thể ăn theo nhiều cách. Bánh ướt có thể được cuộn, cắt lát, xoa dầu và hành phi, sau đó chấm với nước mắm chua ngọt. Món này cũng thường được kết hợp với thịt nướng đượm vị, giá đỗ, rau sống, dưa leo thanh mát và trộn đều với nước mắm chua ngọt hài hòa. 

Đặc sản Hoài Nhơn Bình Định nổi tiếng với món bánh ướt hấp dẫn.

Búm rạm Phù Mỹ: Là một trong những món ăn dân dã nổi tiếng của Bình Định nhờ sự hòa quyện giữa những sợi bún tươi với nước rạm đậm đà, giàu hương vị. Để làm món này, rạm phải chọn loại ở đầm Trà Ô mới có vị ngọt, thơm khác biệt. Rạm được xay nhuyễn, lọc nước như cách làm cua, bún tươi được làm ngay tại chỗ nên khi ăn, bát bún vẫn còn nóng hổi và thơm mùi gạo. Tô bún vừa được làm, thơm nức, thêm chút chanh ớt, vài hạt lạc rang giã dối, ăn kèm rau sống. Món bún rạm đơn giản là vậy nhưng khi ăn bạn sẽ cảm nhận được sự hòa quyện giữa bún tươi và nước rạm, kèm chiếc bánh tráng gạo nướng. Thực khách vừa húp, vừa suýt xoa vì nóng hổi, tận hưởng vị ngọt ngào, thơm ngon của rạm Trà Ô.

Mực ngào tỏi ớt: Mực ngào tỏi ớt là đặc sản nổi tiếng của biển Quy Nhơn, thường được bán nhiều tại chợ, quán ăn và các cửa hàng. Đặc sản Bình Định này được làm từ mực khô, mang đi nướng sơ, sau đó tẩm gia vị như: mạch nha, ớt xào, tỏi để tạo nên vị mặn ngọt, cay nồng hấp dẫn. Món ăn vô cùng thích hợp để làm quà biếu hoặc nhâm nhi trong những buổi tụ tập bạn bè.

Mực ngào tỏi ớt là đặc sản làm quà được nhiều du khách yêu thích.

Chả cá Quy Nhơn: Chả cá Quy Nhơn được làm từ cá thu tươi ngon và trải qua quá trình chế biến công phu, khéo léo từ công đoạn quết thịt dẻo mịn đến đóng thành bánh chả tròn có độ dày vừa phải. Đặc sản Quy Nhơn này còn được kết hợp với hành lá, thì là, tiêu sọ tạo nên vị thanh ngọt, cay nồng và hương thơm đặc trưng. Bánh chả sau đó được chiên giòn dậy vị hoặc hấp chín với lớp trứng tráng mỏng màu vàng óng. Đặc sản Bình Định này thường được ăn kèm với tương ớt và rau thơm, tạo nên hương vị đậm đà, vô cùng lôi cuốn.

Bánh tráng nước dừa: Danh sách đặc sản Bình Định nổi tiếng không thể bỏ qua món bánh tráng nước dừa của vùng đất Tam Quan. Bánh tráng có hương vị thơm ngon và béo ngậy độc đáo. Nguyên liệu chính của bánh tráng là bột mì trộn đều với nước cốt dừa sánh đặc, thêm cơm dừa nạo cùng gia vị, hành, tiêu, sau đó tráng mỏng, phơi khô. Bánh tráng khi nướng sẽ phồng lên, giòn rụm và dậy mùi thơm phức.

Bánh tráng nước dừa Bình Định nổi tiếng với vị thơm ngọt, béo ngậy độc đáo.

Cá ồ cuốn bánh tráng: Cá ồ cuốn bánh tráng là một món ngon độc đáo của xứ Nẫu Bình Định. Món ăn tuy chế biến đơn giản nhưng vô cùng ngon miệng với cá ồ ướp gia vị, mang đi hấp chín. Những miếng cá thơm được cuốn trong bánh tráng cùng với rau muống, khế ngọt và chấm với nước mắm me sóng sánh. Món ngon giữ được trọn vẹn vị ngọt của cá ồ, tạo nên trải nghiệm ẩm thực đáng nhớ dành cho du khách phương xa.

Cá chua Bình Định: Cá chua là một loài cá sống tự nhiên trong môi trường nước lợ ở Bình Định. Loài cá được cho là ngon nhất khi được đánh bắt vào mùa Xuân – Hạ khi cá đã đạt độ tuổi 4 – 5 tháng. Thịt cá chua thơm ngọt nên dễ dàng chế biến thành nhiều món ăn như: cá chua hấp, cá chua nấu lá giang, cá chua nấu mẳn và đặc biệt là cá chua nướng lá chuối kèm muối ớt… 

Rượu Bàu Đá Bình Định: Là một loại rượu mạnh đặc sản Bình Định, có nồng độ hơn 50 độ. Thức rượu được nấu theo kinh nghiệm gia truyền và tuân thủ những quy tắc nghiêm ngặt về nguồn nước, gạo, men và dụng cụ nấu. Rượu Bàu Đá có nhiều loại, được nấu từ các nguyên liệu khác nhau như đậu xanh hay nếp,… hương vị rượu cay ấm, nồng nàn, khiến người uống nhanh say nhưng không thấy mệt. Thức rượu nổi tiếng thích hợp làm quà biếu, trưng bày và dùng trong các dịp lễ tết, cưới hỏi… 

Rượu Bàu Đá.

Gỏi cá chình: Đặc sản Bình Định gỏi cá chình nổi tiếng bởi hương vị thơm ngon độc đáo và cách chế biến tinh tế, tỉ mỉ. Cá chình được làm sạch kỹ, phi lê thành nhiều lát thịt mỏng và ngâm với chanh và đường đến khi chín tái. Tiếp theo, cá chình được trộn đều với riềng, tỏi, dừa, gừng, hành chua, hành tây để thêm trọn vị. Gỏi cá chình thường được ăn bằng cách xúc với bánh tráng nướng giòn hoặc cuốn với bánh tráng mềm cùng nhiều loại rau sống và chấm với nước mắm gừng.

Thưởng món gỏi cá đúng điệu.

Chim mía Phú Phong: Chim mía Phú Phong là một đặc sản nổi tiếng có ở vùng đất võ Tây Sơn. Đây là một loài chim nhỏ như chim sẻ, sinh trưởng trong những đồng mía xanh ngút ngàn. Loài chim này thường được chế biến đơn giản bằng cách tẩm ướp gia vị và nướng trên bếp than hồng. Chim mía nướng có màu vàng rộm, thơm phức, nóng giòn và được thưởng thức với muối tiêu chanh. 

Bình Định với những món đặc sản có hương vị thơm ngon, đặc trưng chắc chắn sẽ mang đến cho bạn nhiều ấn tượng thật đặc biệt.

Mảnh đất Đông Gia Lai – Bình Định, là trung điểm của Miền Trung có nền văn hoá Sa Huỳnh – Trng Xe, thừa hưởng một mạch nguồn văn hoá đồ sộ và cổ xưa cùng với hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, điều đó đã làm cho nền văn hoá Bình Định vô cùng phong phú và đậm đà bản sắc. Lại là trung tâm nắng gió, Bình Định tự hào sở hữu vẻ đẹp tự nhiên đặc sắc, nơi biển cả mênh mông hòa quyện cùng những dãy núi hùng vĩ. Sự giao thoa giữa biển và núi tạo nên một bức tranh phong cảnh đa dạng, sẽ mang lại những ấn tượng và trải nghiệm khó phai trong lòng Du khách ghé thăm.

khamphavietnam.com.vn Tổng Hợp

 

 

Những Tour Du Lịch Hot Ở Ninh Thuận

-7%
Thời gian: 1 ngày
Ngày khởi hành: Hàng ngày
Giá gốc là: 1.500.000 ₫.Giá hiện tại là: 1.400.000 ₫.
-7%
Thời gian: 1 ngày
Ngày khởi hành: Hàng ngày
Giá gốc là: 1.500.000 ₫.Giá hiện tại là: 1.400.000 ₫.
Thời gian: 1 ngày
Ngày khởi hành: Hàng ngày
Thời gian: 1 ngày
Ngày khởi hành: Hàng ngày

Những Tour Du Lịch Hot Ở Ninh Thuận

Sorry, no pages was found