TUYÊN QUANG – VÙNG ĐÔNG BẮC

Cảnh quan thiên nhiên độc đáo và kỳ vĩ của cao nguyên Đá Xám phía Bắc. Vẻ đẹp siêu thực đến mê hoặc của những triền ruộng bậc thang nơi phía Tây và đâu đâu đều hiện lên những bức tranh sơn kỳ thủy tú, sẽ mang đến cho du khách những trải nghiệm và dư âm day dứt mãi về sau…

Giới thiệu Tuyên Quang

Tuyên Quang được sáp nhập từ hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang cũ, “Đây là xứ sơn kỳ thủy tú, vạn vật tốt tươi, mặt người tươi đẹp, ruộng nhiều lúa chín, đất nở đầy hoa, chim kêu vượn hót, thuốc quý tiềm tàng, sơn hào vô tận, không thứ gì là không có…, xem như nơi đây có nguồn thiêng hội tụ, vui nước an dân, hợp đức thánh nhân”. Chính thiên nhiêu ưu đãi và chiều sâu lịch sử đã tạo cho Tuyên Quang – vùng đất hội tụ đa sắc màu văn hóa. Còn Hà Giang là mảnh đất địa đầu cực Bắc của Việt Nam, nơi có những dãy núi đá tai mèo trùng điệp, những ngọn núi cao lưng trời, thung lũng sâu, nhiều sông suối và các con đèo ấn tượng. Nổi tiếng với cảnh quan độc đáo và hùng vĩ của Cao nguyên đá hay những thửa ruộng bậc thang uốn lượn theo triền núi tạo nên bức tranh thiên nhiên đẹp mắt.       

Vẻ đẹp tuyệt tác của Hoàng Su Phì.

Là quê hương của nhiều dân tộc thiểu số với cuộc sống và những nét truyền thống văn hóa riêng, vẻ đẹp của Tuyên Quang nay là sự hòa quyện giữa thiên nhiên hùng vĩ và văn hóa bản địa độc đáo. 

I. Tuyên Quang ở đâu

Tỉnh Tuyên Quang có vị trí địa lý Phía đông giáp tỉnh Cao Bằng và Thái Nguyên. Phía tây giáp Lào Cai. Phía nam giáp Phú Thọ. Phía bắc giáp châu tự trị dân tộc Choang và Miêu Văn Sơn thuộc tỉnh Vân Nam và địa cấp thị Bách Sắc thuộc khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc. Trung tâm hành chính của tỉnh là phường Minh Xuân, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 131km.

Bản đồ Tuyên Quang. Ảnh nguồn: TTXVN

Tuyên Quang nằm ở trung tâm của lưu vực sông Lô. Sông Gâm chảy qua tỉnh theo hướng Bắc – Nam và nhập vào sông Lô ở chỗ giáp ranh giữa xã Yên Sơn, xã Xuân Vân và xã Tân Long. Tuyên Quang là cực điểm của cả nước với các danh thắng như cao nguyên đá Đồng Văn, Cột Cờ Lũng Cú, Đèo Mã Pí Lèng – một trong tứ đại đỉnh đèo của Việt Nam.

II. Lịch sử và Tên gọi

Theo truyền thuyết và các sử liệu cũ, Thời Hùng Vương Tuyên Quang nằm trong Nhà nước Văn Lang, thuộc bộ Vũ Định; thời Bắc thuộc là đất của quận Giao Chỉ, sau là quận Tân Hưng rồi quận Tân Xương; Thời Lý thuộc các châu Đô Kim, Vị Long, Thường Tân… Mảnh đất Hà Giang cũng đã là 1 trong 15 bộ của quốc gia Lạc Việt; Thời Thục Phán An Dương Vương lập nước Âu Lạc, Hà Giang thuộc bộ lạc Tây Vu; Thời kỳ đô hộ của phong kiến phương Bắc kéo dài nghìn năm, khu vực Hà Giang vẫn nằm trong địa phận huyện Tây Vu thuộc quận Giao Chỉ; Từ năm 1075 (đời Lý). Miền đất Hà Giang lúc đó thuộc về châu Bình Nguyên.

Lễ hội đình Tân Trào.

Vào đầu đời Trần, khu vực Hà Giang, Tuyên Quang lúc đó gọi là châu Tuyên Quang thuộc lộ Quốc Oai. Năm 1397 đổi thành trấn Tuyên Quang. Tuy nhiên, từ thời Trần trở về trước nền hành chính của Tuyên Quang chưa ổn định. Bấy giờ Tuyên Quang là vùng đất của các tù trưởng dân tộc thiểu số, họ lấy “Châu” làm lãnh thổ của riêng mình (các Châu Kimi), ít phụ thuộc hoặc phụ thuộc lỏng lẻo vào triều đình phong kiến trung ương, như: Châu Đô Kim (nay là Hàm Yên), Châu Vị Long (nay là Chiêm Hóa)… do đó, các vị vua triều Lý-Trần đều sử dụng chính sách “viễn nhu” để bảo đảm an ninh biên cương và giữ khối đoàn kết dân tộc.

Khi giặc Minh đô hộ nước ta đã đặt nền hành chính Tuyên Quang vào “Phủ” gọi là Phủ Tuyên Quang sau đó đổi là châu Tuyên Hóa. Phủ Tuyên Quang lúc này có 9 huyện là: Đương Đạo, Văn Yên, Bình Nguyên, Để Giang, Thu Vật, Đại Man, Khoáng, Dương, Ất. Đứng đầu phủ là tri phủ, đứng đầu huyện là tri huyện.       

Thời Lê sơ thế kỷ 15-16, để tăng cường sự quản lý của nhà nước đối với các miền biên viễn, năm 1466, Lê Thánh Tông chia nước ta thành 12 đạo, Tuyên Quang trở thành một Đạo thừa tuyên gồm 1 phủ, 1 huyện và 5 châu. Đứng đầu Đạo thừa tuyên là Đô ty, dưới là Thừa ty. Năm 1469, vua Lê Thánh Tông định lại bản đồ 12 đạo thì Đạo thừa tuyên Tuyên Quang có phủ Yên Bình, huyện Phúc Yên và 5 châu: Thu Vật, Lục Yên, Đại Man, Bình Nguyên, Bảo Lạc. Đến năm 1490, Đạo Thừa Tuyên đổi tên là xứ Tuyên Quang, tên phủ, huyện không thay đổi.

Khi Gia Quốc công Vũ Văn Mật có công phò Lê đánh Mạc được cai quản một vùng đất rộng lớn gồm xứ Tuyên Quang và phủ Hưng Hóa (Phú Thọ và Vĩnh Phúc) đặt tên là Dinh An Tây. Dòng họ Vũ thế tập 5 đời tổng cộng 142 năm kể từ Vũ Văn Uyên, năm 1527 đến năm 1669. Năm 1669, Vũ Công Tuấn trên đường từ kinh thành về thực hiện mưu đồ phản nghịch bị Lưu thủ kinh thành là Điện quận công Trịnh Ác đem quân đuổi theo giết chết. Sau sự kiện này, nhà Lê bỏ quyền thế tập của dòng họ Vũ, chia vùng này thành 2 trấn: Tuyên Quang và Hưng Hóa, đặt lưu quan cai trị như trước.

Đầu triều Nguyễn thế kỷ 19, tên gọi các đơn vị hành chính xứ Tuyên Quang cơ bản vẫn giữ như thời Lê. Năm 1831, vua Minh Mạng tiến hành cải cách hành chính, Tuyên Quang trở thành một tỉnh dưới quyền kiểm soát của Tổng đốc Sơn-Hưng-Tuyên, vị Tổng đốc đầu tiên là Quân vụ Đại thần Địch trung tử Hoàng Kế Viêm. Cương vực địa lý tỉnh Tuyên Quang thời điểm này được sử gia chép lại: phía bắc giáp Vân Nam, Quảng Tây, phía nam giáp phủ Đoan Hùng, phía tây giáp tỉnh Hưng Hóa, phía đông giáp tỉnh Cao Bằng, Thái Nguyên.

Đến năm 1833, tách phủ Yên Bình thành 2 phủ là Yên Bình và Yên Ninh, các châu huyện từ thời Lê cũng có nhiều thay đổi:
1. Phủ Yên Bình: được thành lập từ năm 1466 và được giữ tên qua nhiều giai đoạn lịch sử. Địa giới phủ phân lại rất rộng, gồm 2 châu Thu Vật, Lục Yên và 2 huyện Hàm Yên, Vĩnh Tuy. Lịch sử các châu huyện trong phủ như sau:
     – Châu Thu Vật: có tên từ thời Trần là trại Thu Vật, thời thuộc Minh, thời Lê vẫn giữ nguyên, năm Minh Mạng     1822 đổi tên là Thu Châu. Sau 1945 đổi thành huyện Yên Bình (nay là khu vực Yên Bình, tỉnh Yên Bái).
      – Châu Lục Yên: vốn là tên châu từ thời Lê, 1833 thuộc phủ Yên Bình (nay là khu vực Lục Yên, tỉnh Yên Bái).
     – Huyện Hàm Yên: thời Đinh-Tiền Lê thế kỷ 10 có tên là Sóc Sùng, thời Lý gọi là châu Tô Mậu, sau đổi là châu Đô Kim, thời thuộc Minh là huyện Văn Yên. Đầu thời Lê đổi là huyện Sùng Yên, năm 1466 đổi là huyện Phúc Yên thuộc phủ Yên Bình. Năm 1822 đổi là huyện Hàm Yên (nay là vùng Hàm Yên và một phần vùng Yên Sơn, Tuyên Quang).
     – Huyện Vĩnh Tuy: vốn là đất thuộc châu Vị Xuyên. Năm 1833, châu Vị Xuyên tách thành huyện Vị Xuyên thuộc phủ Tương An và huyện Vĩnh Tuy (nay là vùng Hoàng Su Phì, Hà Giang).

Phủ Yên Ninh: được thành lập năm 1833 do tách từ phủ Yên Bình, gồm châu Chiêm Hóa và 3 huyện Vĩnh Điện, Để Định, Vị Xuyên. Đến năm Thiệu Trị thứ 2,1842 đổi tênthành phủ Tương An. 
    – Châu Chiêm Hóa: từ thời Trần trở về trước là Châu Vị Long, thời thuộc Minh đặt tên là Châu Đại Man. Năm Minh Mạng thứ 14 (1833), sau khi nhà Nguyễn dẹp yên cuộc khởi nghĩa của thổ tù Nông Văn Vân, đến năm 1835 đổi thành Châu Chiêm Hóa, có 4 tổng, 40 xã, thôn, phố, vạn, trại (nay là vùng Chiêm Hóa và Na Hang).
     – Huyện Vị Xuyên: thời thuộc Minh là châu Bình Nguyên. Đến thời Mạc thế kỷ 16, do kiêng tên húy của vợ vua Mạc phải đổi thành châu Vị Xuyên. Đến năm 1833, tách huyện Vị Xuyên thành hai huyện hữu ngạn sông Lô là huyện Vĩnh Tuy (nay là Hoàng Su Phì) và tả ngạn sông Lô là huyện Vị Xuyên (nay là vùng Bắc Quang, Hà Giang).
    – Huyện Vĩnh Điện, Để Định (Châu Bảo Lạc): là châu thuộc đất của phủ An Bình từ thời Lê, đến năm 1835 sau khi dẹp yên cuộc khởi nghĩa của Nông Văn Vân, nhà Nguyễn bỏ tên Châu Bảo Lạc, chia thành 2 huyện: Vĩnh Điện (khoảng Bắc Mê, Yên Minh và một phần Quản Bạ ngày nay) và Để Định (khoảng vùng Bảo Lâm, Bảo Lạc tỉnh Cao Bằng và một phần Đồng Văn, Mèo Vạc ngày nay).

Năm Thiệu Trị thứ hai (năm 1842), triều đình nhà Nguyễn chia Tuyên Quang làm ba hạt: Hà Giang, Bắc Quang, Tuyên Quang. Hạt Hà Giang có một phủ là Tương Yên với bốn huyện: Vị Xuyên, Vĩnh Tuy, Vĩnh Điện, Để Định.

Năm 1844, nhà Vua lại phê chuẩn cho các huyện châu thuộc tỉnh hạt biên giới phía Bắc, Tây Bắc, trong đó có Hà Giang, “vẫn theo như cũ đặt chức thổ quan.” Đến đời Tự Đức thì chế độ “thổ quan” bị bãi bỏ trên phạm vi cả nước.

Thời Pháp thuộc, tổ chức hành chính tỉnh Tuyên Quang có nhiều biến đổi. Ngày 20/8/1891, tỉnh Hà Giang được thành lập, bao gồm phủ Tương Yên và huyện Vĩnh Tuy (tỉnh Tuyên Quang). Ngày 09/9/1891, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập 4 đạo quan binh ở Bắc kỳ, đã phân chia địa giới tỉnh Tuyên Quang vào các đạo Quan binh 2 và đạo Quan binh 3.

Năm 1893, trong dịp cải tổ trong các quân khu, Hà Giang trở thành trung tâm của một quân khu và cùng với Tuyên Quang hợp thành Đạo quan binh thứ ba (quân khu 3).

Ngày 17/9/1895, Toàn quyền Đông Dương ra Quyết định số 1432 chia khu quân sự thứ ba thành ba tỉnh: Tuyên Quang, Bắc Quang và Hà Giang.

Ngày 11/4/1900, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định tái lập tỉnh Tuyên Quang, tỉnh lỵ đặt tại xã Ỷ La, gồm Phủ Yên Bình, lấy huyện Sơn Dương của tỉnh Sơn Tây nhập vào tỉnh Tuyên Quang.

Ngày 28/4/1904, Toàn quyền Đông Dương lại ra quyết định sáp nhập tỉnh Bắc Quang và tỉnh Hà Giang thành Đạo quan binh Hà Giang. Đến thời điểm này, Đạo quan binh thứ ba Hà Giang đã được xác định ranh giới rõ ràng và tương đối ổn định.

Năm 1913, đổi huyện Sơn Dương thành châu Sơn Dương. Năm 1916, tách huyện Hàm Yên thành huyện Yên Sơn và châu Hàm Yên, cắt phủ Tương An (Yên Ninh cũ) và 3 huyện: Bảo Lạc (cũ), Vị Xuyên, Vĩnh Tuy đặt làm tỉnh Hà Giang, cắt châu Lục Yên sáp nhập vào tỉnh Yên Bái.
Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, tỉnh Tuyên Quang có 1 phủ Yên Bình và 4 huyện là: Yên Sơn, Hàm Yên, Chiêm Hóa, Sơn Dương. Tỉnh Hà Giang có 4 châu gồm Bắc Quang, Vị Xuyên, Đồng Văn, Hoàng Su Phì và 1 thị xã Hà Giang.

Ngày 23/3/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh giải tán Khu Lao-Hà-Yên, sáp nhập tỉnh Hà Giang vào Khu tự trị Việt Bắc.

III. Nét văn hóa đất Tuyên Quang

Trong các tỉnh miền núi phía Bắc, Tuyên Quang có một bản sắc rất riêng. Bản sắc này hình thành từ yếu tố lịch sử, tự nhiên và con người. Về lịch sử, các nhà khảo cổ học đã xác định Tuyên Quang là một trong những cái nôi của người Việt cổ. Trong tiến trình hình thành và phát triển, Tuyên Quang một thời cũng là “phên giậu của Quốc gia”. Thời kỳ kháng chiến chống thực dân xâm lược, Tuyên Quang trở thành Thủ đô Khu giải phóng – Thủ đô Kháng chiến của cả nước. 

Đám cưới truyền thống của người Tày. Ảnh: Tuyên Quang Online

Về địa lý địa hình, Tuyên Quang là một dải đất trải dài từ vùng cao phía Bắc, đá núi tai mèo hiểm trở, cằn cỗi hay núi cao vực sâu mây mù che phủ phía Tây, trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm – địa hình cao nên khí hậu mang nhiều sắc thái ôn đới. Xuống vùng núi thấp với những cánh rừng già xen kẽ thung lũng dọc theo sông, suối, đến miền trung du non xanh nước biếc. Tuyên Quang được biết đến như một địa bàn cộng cư của nhiều tộc người có nền văn hóa và ngôn ngữ khác nhau. Trải qua những thăng trầm và biến thiên của lịch sử, trong điều kiện tự nhiên khá đặc thù, một mặt các tộc người vẫn duy trì và bảo lưu được về cơ bản những giá trị văn hóa truyền thống vốn có, mặt khác từ vốn văn hóa ấy họ cũng sáng tạo thêm nhiều giá trị mới phù hợp với hoàn cảnh sống. Những giá trị văn hóa truyền thống của các tộc người ở Tuyên Quang được thể hiện trên các mặt văn hóa vật chất, các quan hệ ứng xử xã hội và đời sống tinh thần.

Văn hóa đời sống, đồng bào vùng Cao Nguyên trồng ngô trong từng hốc đá.

Văn hóa đời sống cũng được hình thành bởi việc thích ứng với điều kiện sống, chinh phục thiên nhiên. Từ nơi sinh ra trên đá, chết nằm trên đá hay phải tiện núi, săm đồi tạo thành những lớp bậc thang bắc từ thung sâu lên đến tận trời mây… Trong những điều kiện tự nhiên như vậy, để sinh tồn, các tộc người ở núi cao đã sớm hình thành đức tính cần cù, nhẫn nại vượt qua khó khăn trở ngại phát nương làm rẫy trồng các loại cây lương thực phục vụ tự cung, tự cấp cho cuộc sống. Trong lao động con người đã sáng tạo nên những thửa ruộng bậc thang, giữ nước nguồn để trồng cây lúa nước, tạo nên những miệt vườn cây ăn trái ở vùng núi thấp và sáng tạo ra phương thức canh tác thổ canh hốc đá trên vùng Cao Nguyên Đá. Trong lao động sản xuất, các tộc người còn biết sử dụng các loại thảo dược trong thiên nhiên để chế ra các phương thuốc gia truyền phục vụ cho cuộc sống. Để phục vụ cho hoạt động sản xuất nông nghiệp và nhu cầu của cuộc sống các ngành thủ công truyền thống ra đời như nghề rèn, nghề dệt, chế tác trang sức, đan lát, chế biến dược liệu…

Hiện nay, Tuyên Quang có gần 30 dân tộc anh em cùng sinh sống là Kinh, Tày, Dao, Cao Lan, H’Mông, Sán Dìu, Hà Nhì, Giáy,  Lào, Lự, Sán Chay, Nùng, La Hủ, Thái, Lô Lô, Cờ Lao, Kháng, Pà Thẻn, Cống, Chứt, La Chí, Si La, Pu Péo, Bố Y, Phù Lá… Chủ nhân xa xưa vùng đất này là người Tày, Thái, Dao, Cao Lan… Các dân tộc thiểu số khác cũng có nhưng dân số không nhiều. Chính mảnh đất Tuyên Quang giàu tài nguyên thiên nhiên, có tuyến đường thủy sông Lô, sông Gâm thuận lợi, nên xa xưa đã có các thuyền buôn người Kinh từ vùng xuôi lên giao thương. Vào khoảng giữa của thế kỷ 20, người Kinh lên Tuyên Quang xây dựng vùng kinh tế mới. Văn hóa giữa người bản địa và người Kinh có sự giao thoa khá lớn. Người dân tộc này lấy dân tộc kia, người Kinh lấy người dân tộc thiểu số, tạo ra một lớp người khỏe mạnh, thông minh, năng động. Bởi vậy, con gái Tuyên Quang đã có tiếng đẹp nết, đẹp người “Chè Thái, gái Tuyên” để nói về con gái Tuyên Quang.

Nét đẹp của các cô gái tuyên quang trong lễ hội Lồng Tồng. Ảnh: Lưu Minh Phụng

Tuyên Quang là vùng đất thiêng, đi đến đâu cũng có các đền, chùa. Hệ thống đền của Tuyên Quang tập trung thờ Thánh Mẫu và các anh hùng dân tộc. Có lẽ tín ngưỡng thờ đạo Mẫu là tín ngưỡng thuần Việt, cổ xưa mang đậm nét của người người Việt Nam, những ngôi chùa cổ hàng nghìn năm tuổi, khẳng định Phật giáo vào đất Tuyên Quang khá sớm. Tuyên Quang còn có nhiều lễ hội phong phú, trong đó có Lễ hội Thành Tuyên – lễ hội cấp tỉnh lớn nhất năm của người Tuyên Quang với nhiều mô hình đèn Trung thu độc đáo, ấn tượng…

Kiến trúc nhà ở của người Tuyên Quang khá phong phú với tập quán ở nhà sàn của người Tày, Nùng, Dao, Cao Lan, La Chí…, nhà trình tường của người Mông, Lô Lô, Bố Y, Phù Lá, Pu Péo… Những ngôi nhà thực sự đã tô điểm cho không gian văn hóa bản làng quê, ở đó điệu múa khèn, tiếng sáo Mông lưng chừng núi đá; tiếng đàn Tính, làn điệu Then; tiếng trống Sành, làn điệu Sình Ca; kèn Pí lè, làn điệu Páo dung văng vẳng hồn sông núi.

Những lễ hội 

Tuyên Quang là nơi có nhiều sản phẩm văn hóa đặc sắc từ truyền thống lâu đời của gần 30 dân tộc vùng cao phía Bắc, cùng nhau tạo nên một bảng màu văn hóa đa dạng. một địa danh du lịch đáng nhớ bởi cảnh quan thiên nhiên và con người, các lễ hội của Tuyên Quang như:

Lễ mừng nhà mới dân tộc Lô Lô: Lễ mừng nhà mới kéo dài khoảng 2 ngày 2 đêm ở ngôi nhà mới của người dân tộc Lô Lô. Cả bản kéo tới ăn mừng cho ngôi nhà mới. Thầy cúng đi hát, sau đó cùng ăn uống vui chơi, hòa tấu kèn sáo và hát giao duyên nam nữ.

Lễ hội hoa Tam giác mạch là sự kiện thường niên hấp dẫn, được biết đến là sản phẩm du lịch sáng tạo, đặc trưng của vùng cực Bắc tổ quốc.

Lễ hội hoa tam giác mạch “Sức sống cao nguyên đá”. Ảnh: Duy Tuấn

Lễ hội Gầu Tào là một trong những lễ hội quan trọng nhất của người Mông. Lễ hội diễn ra trong khoảng thời gian từ ngày mồng Một đến Rằm tháng Giêng, nhằm mục đích cầu phúc hay cầu mệnh. Hội thường kéo dài 3 ngày, khi hội gộp sẽ cộng số ngày theo số năm. Gầu Tào là lễ hội lớn nhất, đông người tham gia nhất và cũng nhiều nghi thức đặc sắc nhất của người Mông. Lễ hội có thi bắn nỏ, hát giao duyên, ném pa páo, uống rượu, mở tiệc đãi khách.

Lễ hội cầu Trăng là ngày hội vui nhất của dân tộc Tày thường được tổ chức vào đúng ngày Rằm tháng 8. Đối với người Tày họ quan niệm trên cung trăng có mẹ trăng và 12 nàng tiên. Mẹ Trăng và 12 nàng tiên luôn chăm lo, bảo vệ mùa màng, đời sống cho nhân dân. Chính vì vậy mà đồng bào Tày vẫn duy trì tổ chức lễ hội Cầu Trăng với ý nghĩa đón mẹ trăng và các nàng tiên xuống vui Tết Trung thu. Trong lễ hội mọi người thi nấu các món ăn truyền thống như cơm lam, xôi ngũ sắc, mắm cá chép… Quây quần uống rượu và vui đùa, tham gia các trò chơi dân gian truyền thống, các chàng trai, cô gái múa hát giao duyên.

Hội vỗ mông của dân tộc Mông: Ngày mùng 5 Tết Nguyên Đán hằng năm, cái chàng trai, cô gái đổ về Mèo Vạc nhằm tìm cho mình vợ (chồng). Khi tham gia lễ hội, các chàng trai, cô gái tìm đối tượng mà họ cảm thấy phù hợp với mình rồi vỗ mông đối tượng và chờ “đối phương” đáp lại.

Lễ hội chợ tình Khâu Vai tồn tại hơn 100 năm chính là phiên chợ tình dành riêng cho đôi lứa yêu nhau. Phiên chợ đặc biệt vào ngày 27 tháng 3 âm lịch này chính là nơi lắng đọng cảm xúc, chất chứa những nụ cười lẫn những giọt nước mắt rơi của những mối tình dang dở, có duyên nhưng không phận.

Chợ tình Khâu Vai, mỗi năm chỉ có một phiên. Ảnh: Tiến Bình

Lễ hội nhảy lửa của người Pà Thẻn: Lễ hội được tổ chức vào buổi tối ngày cuối năm. Bên đống lửa hồng có nhiều nghi lễ như mừng mùa, cầu thần linh phù hộ cho năm mới. Tại đây có nhiều người nhảy qua đống lửa, than. Trước đó họ đã được thầy mo cúng “nhập hồn” với sức mạnh của thần linh.

Lễ hội đua thuyền truyền thống trên sông Lô thể hiện tinh thần đoàn kết, lòng dũng cảm, tinh thần thượng võ và khát khao chinh phục thiên nhiên. Lễ hội có 15 đội của các xã, phường TP. Tuyên Quang.

Tết nhảy hay “Nhiang chằm Đao” là nghi lễ cúng Bàn Vương – thủy tổ của dân tộc Dao. Tết nhảy là một lễ hội tu bổ bàn thờ định kỳ, nghi lễ được tổ chức vào tháng 12 âm lịch, mỗi chu kỳ Tết nhảy từ 15 đến 20 năm. Theo tục lệ, Tết nhảy chỉ tổ chức tại không gian “Nhà cái”, hay con trưởng (nhà có bàn thờ tổ) đây là việc của mỗi gia đình, nhưng được cả bản chung tay góp sức.

Lễ Cấp Sắc là nghi lễ quan trọng, công nhận sự trưởng thành đối với người đàn ông ở tất cả các ngành Dao. Sau khi trải qua nghi lễ này, người đàn ông Dao được công nhận là con cháu Bàn Vương, được trao quyền làm thầy, được cấp âm binh và được thờ cúng tổ tiên.

Lễ hội Tuyên Quang nổi bật với lễ hội Thành Tuyên – sự kiện Trung thu độc đáo của tỉnh Tuyên Quang. Đây là điểm nhấn hấp dẫn du lịch Tuyên Quang, thu hút du khách bởi những mô hình đèn trung thu khổng lồ rực rỡ. Không khí lễ hội sôi động với tiếng trống, điệu dân vũ truyền thống.

Lễ hội Lồng Tồng là nét văn hóa truyền thống của dân tộc Tày, thể hiện mong ước mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Đây là một trong những lễ hội Tuyên Quang đặc sắc, mang đậm dấu ấn tín ngưỡng nông nghiệp. Lễ hội gồm các nghi thức trang trọng như rước mâm tồng, dâng hương, tế thần. Phần hội sôi động với nhiều trò chơi dân gian như tung còn, hát Then, múa lân.

Lễ hội Lồng Tồng Lâm Bình, Tuyên Quang. Ảnh: Lưu Minh Phụng

Lễ hội Động Tiên – sự kiện văn hóa đặc sắc gắn liền với tín ngưỡng dân gian. Du khách được hòa mình vào không khí rộn ràng với lễ rước, dâng hương và phát lộc cầu may. Ngoài chiêm ngưỡng vẻ đẹp huyền bí của Động Tiên, du khách còn được tham gia các trò chơi dân gian và tham dự Hội chợ quê để mua những sản vật nổi tiếng ở đây.

Khi nhắc đến các lễ hội Tuyên Quang truyền thống không thể không nhắc đến lễ hội đền Hạ, đền Thượng, đền Ỷ La – sự kiện tâm linh quan trọng của người dân địa phương. Đây là dịp tôn vinh tín ngưỡng thờ Mẫu, thể hiện lòng tri ân Thánh Mẫu. Lễ rước kiệu Mẫu diễn ra trang trọng. Ngoài ra, lễ hội còn có các hoạt động đặc sắc như đấu vật, đánh cờ người, múa lân…

Lễ hội chùa Hương Nghiêm (chùa Hang Tuyên Quang) là sự kiện văn hóa tâm linh đặc sắc, thu hút đông đảo du khách. Điểm nhấn của lễ hội này là nghi thức rước nước từ sông Lô về chùa để thực hiện nghi lễ cầu an. Ngoài ra, nhiều trò chơi dân gian truyền thống cũng được tổ chức, tạo không khí sôi động cho du khách thập phương.

Lễ hội đình Giếng Tanh là lễ hội đặc sắc của dân tộc Cao Lan, diễn ra vào dịp đầu xuân. Đây là dịp để người dân cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Lễ hội gồm phần lễ trang nghiêm với nghi thức cúng tế truyền thống và phần hội sôi động. Du khách có cơ hội trải nghiệm điệu Sình Ca, múa truyền thống và tham gia các trò chơi dân gian như tung còn, kéo co khi tham dự lễ hội này.

Lễ hội Cầu may và Cầu mùa là một trong những lễ hội Tuyên Quang đặc sắc, gắn liền với di tích lịch sử văn hóa đình Hồng Thái và đình Tân Trào. Lễ hội thể hiện lòng biết ơn của người dân đối với các vị thần Thành hoàng làng, cầu mong mùa màng bội thu, mưa thuận gió hòa. Phần lễ được tổ chức trang nghiêm, trong khi phần hội lại đầy sôi động với các trò chơi dân gian như kéo co, tung còn, cày bừa.

IV. Du lịch khám phá Tuyên Quang

Cảnh quan thiên nhiên độc đáo và kỳ vĩ của cao nguyên đá phía Bắc. Vẻ đẹp siêu thực đến mê hoặc nơi phía Tây và đâu đâu đều hiện lên những bức tranh sơn kỳ thủy tú, sẽ mang đến cho du khách những trải nghiệm và dư âm day dứt mãi về sau…

1. Danh lam, thắng cảnh Đến với cảnh đẹp Tuyên Quang, một điều chắc chắn rằng một phần trong tim bạn sẽ mãi nhớ về nơi này.

Cao nguyên Đồng Văn, nơi mà đá nở hoa.

Cao nguyên đá Đồng Văn nằm trải rộng cả một vùng địa đầu phía Bắc, được UNESCO công nhận là Công viên địa chất Toàn cầu năm 2010. Đây là một trong những vùng đá vôi đặc biệt, chứa đựng những dấu ấn tiêu biểu về lịch sử phát triển vỏ Trái Đất, những hiện tượng tự nhiên, cảnh quan đặc sắc về thẩm mỹ và truyền thống văn hóa lâu đời của cộng đồng cư dân bản địa. Cao nguyên đá cũng là nơi có nhiều di tích danh thắng quốc gia như: Di tích kiến trúc nhà Vương, Cột cờ Lũng Cú, phố cổ Đồng Văn, đèo Mã Pì Lèng, hẻm vực Tu Sản, núi Đôi Quản Bạ v.v… Đồng Văn còn nổi tiếng về các loại hoa quả và dược liệu.

Ruộng bậc thang Hoàng Su Phì di tích danh thắng cấp quốc gia trải dài trên một khoảng diện tích hơn 3.700 ha, thuộc huyện Hoàng Su Phì cũ. Cảnh quan nơi này đẹp nhất vào mùa nước đổ từ tháng 4 – 6 và mùa lúa chín từ tháng 8 – 10 hàng năm.

Đèo Mã Pì Lèng – Hẻm vực Tu Sản “Mã Pì Lèng” nghĩa là “sống mũi con ngựa” được mệnh danh là vua của các con đèo ở vùng núi phía Bắc. Khung cảnh núi non hùng vĩ với một bên là vách núi dựng đứng, một bên là vực sâu sông Nho Quế nước xanh màu ngọc bích. Hẻm Tu Sản nằm bên dưới đèo Mã Pí Lèng, là một vực sâu thuộc kiểu di sản kiến tạo địa mạo, di sản cổ sinh- địa tầng- cổ môi trường là danh thắng kỳ vĩ độc nhất của vùng cao nguyên đá Đồng Văn.

Đèo Mã Pì Lèng trên con đường Hạnh Phúc. (Ảnh: noitoimuonden).

Dinh thự họ Vương thuộc xã Sà Phìn là một công trình kiến trúc đẹp và độc đáo được xếp hạng cấp quốc gia năm 1993. Dinh thự được xây dựng chủ yếu bằng đá xanh, gỗ pơ-mu, ngói đất nung già, các chi tiết được chạm trổ tỉ mỉ, công phu, đẹp mắt. Đây là một điển hình về sự giao thoa nghệ thuật kiến trúc của người Mông và người Hán ở khu vực biên giới Việt – Trung.

Chợ tình Khau Vai họp mỗi năm một lần vào ngày 27 tháng 3 âm lịch tại xã Khau Vai. Bắt nguồn từ 1 câu chuyện tình, Khau Vai trở thành nơi hò hẹn chung cho tất cả những người yêu nhau trong vùng. 

Thảo nguyên Suôi Thầu Ở Cốc Pài, huyện Xín Mần cũ. Đây là một địa điểm mới được khám phá, nổi tiếng với hình ảnh cánh đồng cỏ hoa rộng lớn nhìn xuống thung lũng sông Chảy, điểm xuyết bởi các cây sa mộc đứng đơn lẻ. Đây là điểm thu hút du lịch của các bạn trẻ.

Bãi đá cổ Nấm Dẩn thuộc xã Nấm Dẩn, Xín Mần cũ. Tại đây đã thống kê được hơn 80 hình khắc về bàn chân, tay người, ruộng bậc thang và nhiều hình học khác trên đá. Các nhà khoa học bước đầu xác định các hình khắc này xuất hiện từ hơn hai nghìn năm trước. Đây là nguồn tư liệu quý về những cư dân Việt cổ ở vùng đất Hà Giang.

Hồ Na Hang “hồ trên núi” hoang sơ với làn nước xanh biếc ẩn giữa những cánh rừng nguyên sinh kỳ vĩ làm say lòng biết bao người lữ hành. Na Hang – Lâm Bình còn là vùng đất có nhiều cảnh đẹp như thác Nậm Me, thác Khuổi Nhi, Khuổi Súng… Sự kết hợp hòa quyện giữa cảnh quan thiên nhiên với các điểm dân cư giàu bản sắc văn hóa truyền thống đã và đang cuốn hút du khách.

Cảnh đẹp hồ Na Hang “hồ Trên núi”, Cọc Vài Phạ linh thiêng. Ảnh: Stam

Thác Nặm Me tiếng Tày có nghĩa là Thác Mẹ, Suối Mẹ. Con thác bắt nguồn từ những cách rừng đại ngàn của Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang – Lâm Bình đổ xuống khu vực núi Hát Nghiền tạo thành thác Nặm Me. Là một con thác lớn tiêu biểu trong vùng, có chiều dài khoảng 4 km, với 15 tầng thác lớn, thác có bề mặt rộng và thoáng, nước chảy bốn mùa len lỏi qua những cánh rừng nguyên sinh và dãy núi đá vôi trùng điệp vùng nhiệt đới. 

Thác Khuổi Nhi là con thác lớn nhất Lâm Bình. Thác ẩn mình giữa rừng già thuộc danh thắng quốc gia Na Hang – Lâm Bình, bao quanh là lòng hồ thủy điện Tuyên Quang. Cách duy nhất đến thác Khuổi Nhi là đi bằng thuyền. Thác Khuổi Nhi có nhiều tầng, đổ từ trên đỉnh núi xuống vách đá với dòng nước mát lạnh, tung bọt vào vách núi trắng xóa, những nàn nước nhỏ theo gió tạo một vùng không gian tươi mát, kỳ thú đầy sảng khoái.

Thác Mơ – Na Hang nằm giữa khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang; Suối nước khoáng Mỹ Lâm nằm ở địa phận phường Mỹ Lâm; Thác Bản Ba – xã Trung Hà…là những địa danh hấp dẫn khác của Tuyên Quang.

2. Hệ thống các hang động Sở hữu phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ, non nước hữu tình, là điểm đến vô cùng hấp dẫn với nhiều hoạt động trải nghiệm, khám phá đầy mới mẻ và thú vị. Trong bức tranh toàn cảnh ấy là hệ thống những hang động kỳ bí với vẻ đẹp đầy quyến rũ, làm mê mẩn đối với du khách.

Hang Lùng Khúy “đệ nhất hang động vùng cao nguyên” nằm trên địa bàn xã Quản Bạ, trong quần thể công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá. Trải qua sự tạo hóa thần kỳ của thiên nhiên hàng trăm triệu năm và trường tồn với thời gian, là một kỳ quan kiến trúc hang động có một không hai được biết đến.

Động Lùng Khúy làm bạn sững sờ trước vẻ đẹp nguyên sơ kỳ diệu của kiệt tác thiên nhiên.

Quần thể Động Tiên, Yên Phú Nằm trong dãy núi Chân Quỳ, đây là một quần thể 7 hang động đẹp mắt được xếp thành hình vòng cung, với Động Tiên là hang đẹp nhất. Ngoài ra, ở đây còn có Hang Đá Đen, một di tích khảo cổ quan trọng nơi từng có người tiền sử sinh sống. Quần thể hang này nằm trên một dãy núi đá vôi và được bao quanh bởi rừng nguyên sinh, tạo nên một cảnh quan thiên nhiên mát mẻ và kỳ vĩ. 

Động Song Long  Được biết đến là một hang động lớn và khung cảnh diệu kỳ, mang vẻ đẹp huyền bí, kích thích đam mê khám phá của du khách. Danh thắng này là địa điểm du lịch Tuyên Quang nổi tiếng, được công nhận là “di tích quốc gia”. 

Hang Tiên nằm trên địa bàn xã Xuân Giang. Hang được hình thành do quá trình kiến tạo địa chất (Karst), đá vôi bị rửa lũa bởi nước mưa len qua hệ thống khe nứt. trong lòng hang có dạng mái vòm, nhũ đá xuất hiện dày đặc ở khắp thành và trần hang, nhiều cột nhũ kéo từ trần hang xuống tới nền hang, quá trình tạo nhũ vẫn đang tiếp diễn do nước từ trên mặt đất ngấm qua trần và thành hang nhỏ xuống.

Hang Nà Luông thuộc địa bàn Yên Minh cũ. Hang được tìm thấy vào năm 2010 và đã được đánh giá là hang đẹp nhất so với các hang đã từng được phát hiện trên địa bàn Hà Giang, với cảnh quan hùng vĩ, huyền ảo. Cửa hang rộng trên 30 mét được che phủ bằng các loại cây gỗ quý hiếm như: nghiến, đinh, lát… 

Hang Rồng Nằm trên địa bàn xã Mèo Vạc, hang Rồng có cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, mang sắc thái thơ mộng, huyền ảo.

Động Én Hang động này được ví như một chốn “thâm sơn cùng cốc” với địa hình khá hiểm trở, thuộc địa phận xã Yên Minh.

Hang Phương Thiện, cách thành phố Hà Giang 7 km xuôi về phía nam. Đây là nơi có nhiều phong cảnh, nhiều hang động tự nhiên.

Hang Tùng Bá – Vị Xuyên, là một hệ thống những hang động lớn nhỏ nối liền với nhau.

Động Tiên và Suối Tiên nằm cách thành phố Hà Giang 2 km. 

Hang Chui, cách thành phố Hà Giang 7 km về phía nam.

Hang Tham Luồng cách TT Hà Giang 15km về phía Đông, theo lời kể  Tham Luồng tiếng địa phương tức là ba con rồng, tượng trưng cho 3 dòng suối từ chân núi chảy tưới nước đồng ruộng xanh mát.

Hang Khuổi Pín nằm trên địa bàn xã Lâm Bình, với vẻ đẹp bí ẩn của một thế giới dưới lòng đất nhưng cũng đầy quyến rũ. Khi chiếu đèn, những nhũ đá ảo diệu lung linh với hình thù khác nhau hiện ra trước mắt, toàn bộ trần hang lấp lánh như một bầu trời đầy sao, một vũ trụ huyền ảo.

Hang Bó Ngoặng nằm trên địa bàn xã Minh Quang. Trải qua hàng triệu năm, thiên nhiên đã tạo cho Bó Ngoặng trở thành một tác phẩm nghệ thuật kỳ thú với những nhũ đá rủ xuống tạo nên hình thù sinh động, lạ mắt.…

Hang Phia Vài, Thượng Lâm. Đây là di chỉ khảo cổ điển hình. Tại đây các nhà nghiên cứu đã thấy rất nhiều di sản cổ đại.

3. Di tích lịch sử  Tuyên Quang có rất nhiều điểm di tích lịch sử và văn hóa đa dạng như Di tích lịch sử Tân Trào – thủ đô vùng kháng chiến; Lán Nà Lừa – nơi ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Tuyên Quang; Khu di tích Kim Bình thuộc xã Kim Bình; Khu di tích Kim Quan thuộc xã Tân Trào; Khu di tích Đá Bàn thuộc phường Mỹ Lâm; Khu di tích Làng Ngòi – Đá Bàn thuộc phường Mỹ Lâm; Khu di tích Chiến thắng Khe Lau thuộc xã Xuân Vân và xã Yên Sơn; Thành cổ nhà Mạc nằm ở phường Minh Xuân, hay Tiểu khu Trọng Con xã Bằng Hành, Bắc Quang cũ. Đây được xem là cái nôi của phong trào cách mạng ở vùng Hà Giang.

Lán Nà Nưa – Nơi ở và làm việc của Bác ở Tuyên Quang. Ảnh: Sưu tầm

4. Du lịch tâm linh Đến với Tuyên Quang du khách sẽ được tìm hiểu cũng như chiêm bái hệ thống đền, chùa. Tuyên Quang có rất nhiều ngôi đền, chùa lớn nhỏ với hàng trăm năm tuổi, nhiều đền đã được công nhận là di tích cấp Quốc gia và nổi tiếng khắp cả nước.

Chùa Sùng Khánh cách Thành phố Hà Giang 9 km về phía nam thuộc thôn Làng Nùng, Được nhà nước xếp hạng là di tích lịch sử nghệ thuật năm 1993. Chùa được xây dựng thời Triệu Phong (1356). Ở đây còn lưu giữ hai di vật: Bia đá thời Trần (1367) và một quả Chuông cao 0.90m, được đúc thời Hậu Lê (1705). Nghệ thuật khắc trên đá, trên Chuông đồng và kỹ thuật đúc Chuông là một bằng cứ nói lên bàn tay tinh xảo của các nghệ nhân vùng biên giới phía bắc này, và từ đó biết thêm lịch sử phát triển thời Trần và Lê tới tận vùng biên ải Hà Giang.

Chùa Bình Lâm thuộc địa phận thôn Tông Mường, TP. Hà Giang. Chùa còn có tên gọi chữ Hán là “Bình Lâm Tự”. Nhân dân ở đây còn lưu giữ một quả chuông thời Trần được đúc vào tháng 3 năm Ất Mùi (1295). Cùng với quả chuông, tại chùa Bình Lâm còn phát hiện được một số di vật như Tháp đất nung, mái ngói có hoạ tiết hoa chanh…là những nét quen thuộc và tiêu biểu của văn hoá thời Trần.

Các địa danh tâm linh khác như Chùa Hang, Chùa An Vinh, Thiền viện Trúc lâm Chính Pháp. Đền Hạ, Đền Thượng, Đền Ỷ La, Đền Kiếp Bạc, Đền Cấm, Mẫu Tam Cờ, Cô Bé Mỏ Than, Đền Cảnh Sanh, Đền Cô Minh Lương…

V. Ẩm thực của Tuyên Quang

Bản sắc văn hóa Tuyên Quang còn hội tụ ở yếu tố ẩm thực. Ai lên đây còn nhớ đặc sản Xứ Tuyên như: Mèn mén; cháo ấu tẩu; cơm lam Bắc Mê; xôi màu Lâm Bình; phở chua; phở Tráng Kìm; bánh cuốn chan Đồng Văn; bánh chưng gù Hà Giang; thắng dền; bánh tam giác mạch; bánh cuốn trứng; thịt ba chỉ hoa chuối rừng cuốn lá vả; quả công xào thịt; rêu đá; bánh nếp nhân trứng kiến; bánh dày vừng đen Lâm Bình; bánh củ chuối Yên Lập; bánh đúc Đà Vị; bánh chuối gác bếp Na Hang, cháo ỉm Sơn Dương, bánh khảo Yên Minh; hoa kè nhồi thịt; bánh lẳng (bánh gai) Chiêm Hóa, Tân Quang; bánh lơ khoải Sà Phìn; tương đậu xị Hà Giang.

Ẩm thực đặc sắc của Tuyên Quang

Hay Thắng cố; cá Dầm xanh, Anh vũ, cá chiên, lăng, gỏi cá bỗng; thịt, lạp xưởng gác bếp; lợn đen Lăng Can, Lũng Pù; gà đỏ Đồng Dầy; gà đen Hà Giang; cua đá Hà Giang; mắm cá ruộng Chiêm Hóa; thịt muối chua; nhộng cọ Chiêm Hóa; sâu tre Mèo Vạc; nộm da trâu; chả ốc ống nứa; thịt chuột La Chí.

Chè Shan tuyết; Ngô nếp Soi Lâm; cam sành Hàm Yên, Bắc Quang; bưởi Soi Hà; cốm Côn Lôn, Hòa Sơn; cọ ỏm Chiêm Hóa; hồng không hạt Quản Bạ, hồng ngâm Xuân Vân; mận đỏ Hoàng Su Phì; ớt gió Bản Mồ; gừng Suối Thầu; rượu ngô Thanh Vân, Na Hang; rượu thóc Nàng Đôn; rượu chuối Kim Bình; gạo tẻ Già Diu; ý dĩ Chí Cà; măng, rau, nấm, mộc nhĩ, gia vị rừng; mật ong rừng, mật ong bạc hà Mèo Vạc; thảo dược; Các sản phẩm OCOP nông nghiệp và chăn thả…. mang đặc trưng Xứ Tuyên.

Không giống với bất kỳ một nơi du lịch nào ở Việt Nam, đến Tuyên Quang, du khách có thể thấy được những sản phẩm kết tinh từ truyền thống văn hóa độc đáo của người miền núi, đó là các loại khăn thêu, túi vải, áo váy với các loại hoa văn rực rỡ. Với vẻ đẹp của đất trời, rực rỡ của sắc hoa đào, hoa lê, hoa mận, hoa gạo, hoa tam giác mạch Du khách sẽ tham dự những phiên chợ vùng cao đầy thơ mộng.

KPVN Tổng hợp

 

 

 

 

 

Những Tour Du Lịch Hot Ở Ninh Thuận

-7%
Thời gian: 1 ngày
Ngày khởi hành: Hàng ngày
Giá gốc là: 1.500.000 ₫.Giá hiện tại là: 1.400.000 ₫.
-7%
Thời gian: 1 ngày
Ngày khởi hành: Hàng ngày
Giá gốc là: 1.500.000 ₫.Giá hiện tại là: 1.400.000 ₫.
Thời gian: 1 ngày
Ngày khởi hành: Hàng ngày
Thời gian: 1 ngày
Ngày khởi hành: Hàng ngày

Những Tour Du Lịch Hot Ở Ninh Thuận